Hiển thị các bài đăng có nhãn Tonghop. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tonghop. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 24 tháng 2, 2011

Tạo 5 tài khoản ảo từ một tài khoản chính trong Hotmail

Người dùng Hotmail có thể tạo ra 5 địa chỉ email ảo và quản lý chúng từ một tài khoản chính duy nhất. Đây là tính năng bảo vệ định danh vừa được Microsoft bổ sung.


Tạo tài khoản ảo để bảo vệ tài khoản thật trong Hotmail. (Ảnh: WindowsLiveTeam Blog)

Tính năng miễn phí này có tên gọi là Alias (tạm dịch là Bí danh), đã được Microsoft triển khai áp dụng cho tất cả tài khoản Windows Live Hotmail trên toàn thế giới. Đây là một cải tiến tiên phong vượt qua mặt Gmail, đối thủ lớn nhất của Hotmail hiện nay và cũng là dịch vụ có nhiều tính năng hay mà Hotmail phải "học tập".

Hầu hết mỗi người dùng thường xuyên dùng Internet đều sử dụng từ hai đến ba địa chỉ email trở lên và điều này cũng gây ra nhiều sự phiền phức về quản lý tài khoản. Tuy phân chia các địa chỉ email để dùng cho nhu cầu phù hợp là điều cần thiết nhưng sự phiền phức lại gia tăng theo tỉ lệ thuận với số lượng tài khoản email mà mỗi người có được.

Tính năng Windows Live Hotmail Aliases sẽ giải quyết vấn đề này. Nó giúp tạo ra các địa chỉ email hoàn toàn khác mà bạn có thể dùng để nhận email vào trong tài khoản chính và điểm mấu chốt là không ai khác biết được tài khoản chính là gì.

Thực chất, Microsoft cung cấp cho người dùng khả năng tạo ra bức bình phong để ngăn chặn thư rác và bảo vệ định danh của người dùng khi trực tuyến hiệu quả hơn. Để đơn giản, bạn có một tài khoản Hotmail với địa chỉ quantrimang@live.com (hoặc @hotmail.com) nhưng lại không muốn để người khác biết được địa chỉ email thật này khi đăng ký trên các diễn đàn hay website, thế là bạn tạo thêm năm địa chỉ email "ảo" khác từ địa chỉ chính như quantrimang.com.vn@live.com. Nếu gửi email đến địa chỉ ảo thì sẽ được chuyển thẳng đến địa chỉ chính. Nhờ đó mà địa chỉ quantrimang@live.com luôn được an toàn trước các cỗ máy quét email để gửi thư rác hay một kẻ tọc mạch nào đó đang dòm ngó đến thông tin của bạn.

Hiện tại, Microsoft cho phép mỗi người dùng tạo ra 5 tài khoản ảo trong một năm và số lượng tối đa là 50 tài khoản ảo. Việc quản lý các tài khoản email ảo trong hộp thư của tài khoản chính cũng khá dễ dàng.

Cách tạo và quản lý email cho địa chỉ ảo

Để tạo địa chỉ email ảo mới từ địa chỉ chính, bạn nhấn vào đây rồi đặt một tên tài khoản cho địa chỉ ảo. Hiện có ba tùy chọn địa chỉ email ảo cho người dùng Hotmail tại Việt Nam là ten-email-ao@hotmail.com.vn hay *@hotmail.com*@windowslive.com.


Tạo địa chỉ Hotmail ảo

Sau khi tạo địa chỉ email ảo, các email gửi đến địa chỉ này sẽ tự động chuyển vào hộp thư (inbox) của địa chỉ email chính. Bạn chỉ việc tìm kiếm trong inbox với từ khóa "to: ten-email-ao@hotmail.com.vn" là có thể xem danh sách các email được gửi đến địa chỉ ảo.

Tuy nhiên, để công việc chọn lọc được tự động hóa, bạn có thể đặt một quy tắc lọc (rule) bằng cách vào Options (góc trên cùng bên phải), chọn More Options. Ở phần Customizing Hotmail, nhấn vào Rules for sorting new messages chọn New. Tiếp tục theo hướng dẫn để chọn hai tùy chọn bao gồm: chỉ định áp dụng cho email nào và thiết lập chuyển email gửi đến chúng vào một thư mục trong hộp thư (Move to a new folder).

Theo Tuổi trẻ

Thứ Tư, 23 tháng 2, 2011

Thư ngỏ của Thầy Nguyễn Phước Hòa Tân và lời cảnh báo đối với các tác giả viết sánh giáo khoa, sách tham khảo bộ môn Hóa Học

nguyen phuoc hoa tan, hoa hoc, hoa tan, thay nguyen phuoc hoa tan

Kính thưa các bạn,

Trước 1975 tôi là Giáo sư Lí Hóa , Tốt nghiệp ĐHSP Lí Hóa –ĐHSP Huế và Cử nhân Giáo khoa Lí Hóa – ĐHKH Huế niên khóa (1964-1968)

Tôi đã từng giảng dạy đồng thời hai bộ môn Lí Hóa cho học sinh 10,11, 12 từ năm 1968 và là Giám Học (hiệu phó chuyên môn) của Trường Nữ Trung học Quảng Ngãi khoảng từ 1972-1975

Sau ngày giải phóng, tôi tiếp tục dạy Vật Lí cho các lớp 10, 11, 12 của Trường PTTH Bình Sơn Quảng Ngãi. Đến năm 1978, một bạn nữ đồng nghiệp dạy Hóa muốn thuyên chuyễn về Thị Xã để được gần gia đình.Sở Giáo Dục Quảng Ngãi (lúc ấy là Nghĩa Bình) nhất trí với điều kiện là tôi phải thay cô ấy dạy Hóa cho 4 lớp 12. Vì tình đồng nghiệp và bản thân không muốn bị lụt nghề nên tôi chấp nhận dạy đồng thời hai bộ nôn Lí –Hóa cho các lớp 12.

Vào thời điểm ấy :

- Nếu chỉ dạy cho học sinh tốt nghiệp PTTH thì chẳng có gì quá khó vì ta chỉ cần cho học sinh rèn luyện đề cương của Bộ cho môn chọn thi Li và Hóa là học sinh đạt yêu cầu. Học sinh của trường tôi luôn đạt điểm giỏi , khá về hai môn Lí hay Hóa. Còn các đề thi Toán Hóa trong các kì thi tuyễn sinh Đại Học từ năm 1986 trở về trước cũng khá đơn giản, ta chỉ cần dạy cho học sinh làm được bài toán “Đốt” là đạt yêu cầu.

Nhưng nếu dạy cho học sinh đạt điểm chuẩn môn Hóa để vào Đại Học từ năm học 1986 trở về sau thì rất khó vì ngay chính bản thân tôi, vào thời điểm đó cũng không thể giải hai bài Toán Hóa vô cơ và hữu cơ đúng thời gian qui định (khoảng 100 phút). Để nâng cao tay nghề tôi phải tìm mua sách luyện thi Đại Học môn Hóa từ Hà Nội đến Sài Gòn, các tài liệu Luyện thi Đại Học … tôi cảm thấy mình bị đuối khi gặp quá nhiều phương pháp quá nhiều công thức, quá nhiều vấn đề, qui tắc như qui tắc đường chéo, phương pháp ghép ẩn số, phương pháp kẻ bảng, phương pháp biện luận, phương pháp đại số….. phương pháp định luật bảo toàn khối lượng , phương pháp cacbon trung bình…tôi ráng sức để học các phương pháp đó và thỉnh thoảng còn “đem lòng kính phục”. Đến năm 1990 Bộ ban hành sách Bộ đề thi Tuyễn sinh có hướng dẫn giải- Tôi rất mừng vì mình được cơ hội học tập. Nhưng đáng tiếc là có đến 20% đề thi mà tôi không hiểu lời hướng dẫn giải thì làm sao tôi dạy học trò mình đậu vào Đại Học. Do đó tôi chỉ lo dạy luyện thi môn Lí cho học trò , còn dành thởi gian để xem lại Môn Hóa . Tôi áp dụng cách quán chiếu của Đức Phật (thấy thật sâu, thật xa thật kỉ…) để đưa ra những suy nghĩ đầu tiên vào năm 1991 như sau :

- Phải giải toán vô cơ theo phương trình ion thu gọn, nếu cứ giải theo phương trình phân tử thì ta dạy và học phương trình ion thu gọn để làm gì

- Phải biết áp dụng các hệ quả của định luật bảo toàn nguyên tố và khối lượng nếu ta chỉ dùng phương trình phân tử.

- Nếu dùng phương trình ion thì phải áp dụng thêm 4 hệ quả tuyệt vời của định luật bảo toàn điện tích do tôi tự suy ra từ định luật bảo toàn điện tích – một định luật tuyệt đối đúng từ khi Ngài Lạc Long Quân và Bà Âu cơ xuất hiện- chính xác hơn là khi Phật Thích Ca còn tại thế, Ngài đã chỉ rõ định luật này trong bản báo cáo chuyên đề Sắc tức thị Không ở Hội Trường Linh Sơn trên đỉnh núi Linh Thứu trong rặng Tuyết Sơn cho đến khi có các phản ứng hạt nhân hiện đại nhất.

Tất nhiên các bạn cũng dễ thấy rằng phương trình hóa học chẳng qua là một hệ thức minh họa các hệ quả tuyệt vời của ba định luật bảo toàn nguyên tố, khối lượng và điện tích do đó ta chỉ cần áp dụng các hệ quả này để tìm ra đáp số đúng và nhanh sau đó muốn vẽ vời bằng phương pháp nào cũng được.

- Do tính chất cơ bản của hỗn hợp đồng nhất và định luật thành phần không đổi mà nền tảng của toán hóa là hàm số bậc I. (qui tắc tam suất)hệ quả là với mọi m, n, V của hỗn hợp hay hợp chất (tùy ý chọn m,n, V) ta đều có thể xác định được các loại thành phần %, các loại nồng độ và công thức phân tử của hợp chất

- Trong Vật lí có phương pháp tương đương nên tôi mạnh dạng đưa ra phương pháp chuyển bài tóan hỗn hợp thành bài toán một chất tương đương để nhanh chóng tìm ra kết quả định lượng của bài toán hỗn hợp phức tạp…

- Đưa các bài toán khó do việc học quá rắc rối hay không chính xác thành bài toán đơn giản giải theo phương trình H+ + OH- -> H2O

- Thiết lập 5 công thức cơ bản tổng quát cho mọi dãy đồng đẳng hợp chất hữu cơ có trong cuộc đời này.

Với những suy nghĩ đó tôi bắt đầu quên các phương pháp mà tôi đã từng học và từng “đem lòng kính phục “ Tôi tự thấy trong những năm qua ta đã vô tình hay cố ý lợi dung những kiến thức hóa học đơn giản để minh họa các thuật toán lớp 8 như khả năng giải hệ phương trình và bất phương trình bậc I có trên 3 ẩn số sẽ gây ra những phiền toái phức tạp, làm cho bản chất hóa học của bài toán bị phai mờ nghiêm trọng, làm gia tăng khả năng sai sót và làm giảm tốc độ giải toán hóa học Do đó tôi cảm thấy những cố gắng học tập “ phương pháp” vừa qua như là những kỉ niệm buồn về những mối tình tan vỡ của thời trai trẻ vậy.

Tôi phát biểu đầy đủ nghiên cứu của cụ Faraday về hiện tượng điện phân bằng một mệnh đề đơn giản (tôi tự cho là hệ quả 4 của định luật bảo toàn điện tích), khiến cho bài toán điện phân là bài toán dễ chưa từng thấy. Tôi tin tưởng cụ Faraday ở bên nước Chúa sẽ cười thoải mái làm rung cả 5 chòm râu bạc khi thấy bọn hậu sinh đã nối tiếp bước chân đi của cụ trên đường nghiên cứu khoa học quá xa xôi…và cũng nhờ thế mà tôi nghiên cứu và chế được dung dịch xi mạ vàng 18K cho một công ty vàng bạc và đá quí lớn nhất Thành phố.

Tôi cũng tìm cách chuyển tải nhiều thông tin về toán hóa bằng những con số - tức là ta có thể số hóa thông tin hay dùng con số để “thay lời muốn nói “

Hơn thế nữa, tôi cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản vì phát hiện được những bài toán hóa trong sách Bộ Đề Thi mà tôi không hiểu lời hướng dẫn giải là do đề ra sai, dư dữ kiện, lời giải dài dòng, dùng những thuật toán và thuật ngữ không có thật …Tuy nhiên giải toán hóa theo phương pháp Hóa-Lí của tôi không dễ gì được quí thầy cô giáo chấp nhận- nhất là cách áp dụng 4 hệ quả tuyệt vởi của định luật bảo toàn điện tích, phương pháp tương đương…Do đó quí vị viết sách tham khảo nổi tiếng hay sách giáo khoa trước năm 1995 cũng chưa áp dụng các kiến thức trong sách Phương pháp Giải Toán Hóa Học do tôi biên soạn được NXB Th. Phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1992 . Từ năm 1994 tôi cùng với quí thầy Trần Đức Huyên (Toán), Trần Quang Phú (Lí) và Trần Đức Lợi (Sinh) được Nhà xuất bản Trẻ cho xuất bản sách giải chi tiết các đề thi tuyễn sinh Đại Học sau mỗi kì thi từ năm 1994 đến 1999. Tất nhiên tôi giải chi tiết môn Hóa theo phương pháp khá đơn giản là phương pháp Hóa Học nên được bạn đọc tiếp thu dễ dàng và các thí sinh thi Tuyễn sinh Đại Học nếu biết áp dụng phương pháp hóa học sẽ đạt được điểm rất cao.

Phương pháp Hóa Học đơn giản trong sách Phương pháp của tôi được nhiều thầy cô áp dụng trong việc dạy Hóa, đã thành công ngoài tầm dư kiến.Và đến năm 1998, nhiều thầy cô viết sách tham khảo đã lồng các kiến thức đó một cách vụng về hay khôn khéo hơn vào sách của mình. Cụ thể là chỉ một hệ quả II của Định Luật bảo toàn điện tích mà quí vị đã đưa ra nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp xich ma e cho = xích ma e nhận., phương pháp bảo toàn electron , phương pháp bảo toàn điện tích (có lẽ quí vị cho rằng bảo toàn electron khác với bảo toàn điện tích ???!!!). Chỉ một phương pháp tương đương mà quí vị đặt ra quá nhiều phương pháp như “phương pháp đặt công thức chung”, phương pháp trung bình…. (có lẽ quí vị cho rằng trung bình đồng nghĩa với tương đương!) Khi đưa ra phương pháp tương đương tôi rất tự tin vì tôi đã xem qua phương pháp cacbon trung bình, phương pháp phân tử lượng trung trung bình của một vị Giáo sư mà tôi rất kính trọng là Tiến sĩ Đào Hữu Vinh, dù tôi đã nhận ra rằng các phương pháp của GS Vinh là hệ quả của một phương pháp tổng quát hơn đó là phương pháp tương đương. Tôi rất đau lòng khi thấy nhiều người cố tình bóp méo, cố tình gây dị dạng…và tự mạo nhận những kiến thức đó một cách vụng về…

Khi viết sách, tôi đã tự nguyện rằng phải trải lòng mình ra, phải thể hiện hết tinh anh trí tuệ của mình để kích hoạt cho bằng được trí thông minh vốn có của độc giả, cống hiến cho độc giả những gì tốt nhất của tôi và mong độc giả thấy được tấm lòng của người cầm bút có bản chất nông dân... . Tôi chỉ mong quí độc giả áp dụng trong giảng dạy cũng như học tập, photocopy để phổ biến, nếu in thành sách phải ghi rõ xuất xứ. Nhưng với những ai cố tình bóp méo, lồng vào sách những điều không phải của mình để tự đánh bóng, bôi trơn cho học vị, thu được nhiều lợi nhuận thì chính quí vị đã làm bộc lộ bản chất… của mình. Những kiến thức trong sách phương pháp của tôi đã được cấp giấy chứng nhân số 213/BQ DO CỤC BẢN QUYỀN TÁC GIẢ cấp ngày 20.11.1995. Vì quyền lợi chính đáng và tính công bằng giữa các nhà doanh nghiệp liện kết in sách , chúng tôi sẽ nhờ pháp luật can thiệp để bảo vệ các nhà liên kết và bản thân tôi.

Tôi xin quí vị hãy nghiêm túc xác nhận, sửa đổi sự mạo nhận đáng tiếc đó để chúng tôi khỏi phải nêu đích danh và cách xâm phạm của quí vị lên mạng, báo chí và sau đó là pháp luật. Quí vị hãy nhớ rằng chúng tôi dư khả năng và trí tuệ để nêu lên bằng chứng chỉ rõ những gì mà quí vị sao chép , phóng tác , bóp méo , gây dị dạng những kiến thức mà chúng tôi đã viết ra một cách trong sáng, chan chứa tình người và đầy tính nhân văn trong suốt 18 năm qua…khi đó quí vị phải đối mặt với sự nghiêm minh của pháp luật về hành vi xâm phạm sản phẩm trí tuệ và quí vị sẽ phải bồi thường cho người bị hại một cách xứng đáng trong tinh thần tâm phục, khẩu phục.

Chú ý: Chúng tôi sẽ có phần thưởng xứng đáng cho những ai tìm được một quyển sách tham khảo khác xuất bản trước năm 1995 có đề cập đến phương pháp bảo toàn điện tích, phương pháp tương đương…

Nguyễn Phước Hòa Tân (Theo vietmaths)

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2011

“Chen chân” vào câu lạc bộ Toán

Mới bắt đầu được 5 buổi nhưng CLB Toán học của Viện toán học Việt Nam luôn chật cứng người tham gia. Học sinh đến đây vì tình yêu với toán học chứ không hề vì tâm lý “luyện thi”.

Sau sự kiện GS Ngô Bảo Châu nhận Huy chương Fields, từ cuối tháng 10/2010, Viện Toán học Việt Nam đã tổ chức câu lạc bộ toán học dành cho học sinh THPT có năng khiếu về Toán. Mục đích của Câu lạc bộ là bồi dưỡng cho học sinh kiến thức, khả năng tư duy và diễn đạt toán học, giúp học sinh học tập môn Toán tốt hơn.

Câu lạc bộ mở vào sáng chủ nhật cuối cùng của tháng vào ngay trụ sở của Viện tại 18 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội. Giảng viên tham gia CLB là các nhà toán học, thầy cô giáo có kinh nghiệm về một số chuyên đề toán sơ cấp và mối liên hệ của chúng với toán cao cấp. Mỗi buổi học, câu lạc bộ cho học sinh làm bài kiểm tra, chữa bài kiểm tra và thảo luận các vấn đề của toán. Học sinh tham gia lớp học này không phải đóng khoản chi phí nào và còn được ăn bánh uống trà miễn phí giờ giải lao.

Các học viên trong CLB Toán học của Viện toán học Việt Nam nhận bài kiểm tra trong giờ ra chơi một buổi học. 

Theo dự định ban đầu câu lạc bộ chỉ có khoảng 30-40 thành viên nhưng do lượng học sinh đăng ký đông nên câu lạc bộ đã nới giới hạn tối đa ra 100 người. Tuy nhiên, lượng học sinh tham gia thực tế vẫn đông hơn con số này.

Học sinh tham gia các buổi nói chuyện chủ yếu đến từ các THPT chuyên tại Hà Nội và các tỉnh lân cận như: Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Nam Định… Nhiều trường còn bố trí cả xe và thầy giáo đưa học sinh đến tham dự câu lạc bộ. Không phải em nào tham gia lớp học của câu lạc bộ cũng có ý định theo ngành toán học mà chủ yếu do đam mê Toán học. Tuy nhiên, tất cả các học viên tham gia các buổi học đều rất nghiêm túc, thảo luận sôi nổi.

Nguyễn Văn Tú, học sinh lớp 12, THPT chuyên Vĩnh Phúc mới học hai buổi tại CLBToán học nhưng tỏ ra khá thích thú với các bài giảng và phương pháp dạy của các thầy. “Bài giảng của các thầy không liên quan đến kiến thức trong sách giáo khoa và chương trình ôn thi ĐH nhưng rất hữu ích với những người yêu thích toán học và hỗ trợ đắc lực cho các bạn tham gia thi quốc gia, quốc tế”, Tú nói.

Tú cũng cho biết, em tham gia câu lạc bộ chỉ là do em thích học toán, thích tìm hiểu thêm về toán chứ em không có ý định theo đuổi ngành toán học. “Em sẽ theo ngành kỹ thuật nhưng em vẫn học toán vì em thích và nó sẽ giúp ích cho em khi em theo học tại trường kỹ thuật và khi ra làm việc”, Tú chia sẻ.

Tham gia CLB  từ buổi đầu tiên, Tiến Dũng, học sinh THPT chuyên ĐH Khoa học tự nhiên cho biết, lớp học hôm nào cũng hơn 100 người nhưng học rất nghiêm túc. “Tuy là câu lạc bộ nhưng các thầy dạy rất nhiệt tình, thoải mái. Bạn nào chưa hiểu chỗ nào, có thắc mắc gì các thầy đều vui vẻ giải đáp”, Dũng nói.

Giống Tú, Dũng đến CLB chỉ vì lòng đam mê Toán học chứ không vì một kế hoạch dài hơi với ngành toán học. Dự định sau khi tốt nghiệp THPT của Dũng là thi vào ĐH Y, trở thành một bác sĩ giỏi. “Theo em, toán học không chỉ phục vụ những người theo đuổi ngành toán mà nó có ích với tất cả các ngành khoa học khác”, Dũng nói.

Yêu thích Toán từ khi còn bé, Việt Tuấn, học sinh lớp 11 THTP chuyên Hưng Yên đã lên hẳn một kế hoạch cho dự định theo đuổi ngành toán. Do đó, Tuấn tỏ ra khá vui mừng, phấn khởi khi được tham gia hội Toán học. “Em sẽ tham gia đầy đủ các buổi CLB tổ chức. Với em đây là cơ hội hiếm có để được tiếp xúc với các kiến thức toán học mới”, Tuấn nói.

Theo Khánh Tường
Đất Việt

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2011

“Phải nói Không với dạy thêm mang tính cưỡng bức”

Đó là một trong những yêu cầu của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân trong buổi làm việc với Bộ GD-ĐT sáng 16/2 về kết quả học kỳ I năm học 2010-2011 và kế hoạch công tác năm 2011.
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân trong buổi làm việc với Bộ GD-ĐT sáng 16/2.
 
Chậm nhất tháng 8/2011, các trường phải công bố chuẩn đầu ra

Tại buổi làm việc, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đánh giá cao những kết quả mà ngành giáo dục đạt được trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng đã yêu cầu ngành giáo dục phải có những hành động cụ thể và quyết liệt hơn nữa với một số vấn đề trọng tâm như: Triển khai chính sách học phí mới; đổi mới quản lý giáo dục ĐH; chương trình phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi; đề án đổi mới giảng dạy ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân; đề án kiên cố hóa trường lớp học, nhà công vụ; bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục; vấn đề phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục; dự kiến xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới; vấn đề dạy thêm, học thêm, thu tiền thêm trong nhà trường...

Đối với Đề án trường chuyên, Phó Thủ tướng giao Bộ GD-ĐT khẩn trương triển khai thực hiện Đề án trường chuyên trên phạm vi toàn quốc, mục tiêu cao nhất của Đề án đó là phải hoàn thành xong trước năm 2020 để thu hút các học sinh giỏi tại các địa phương.

Về giáo dục đại học, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu, chậm nhất tháng 8/2011, các trường phải công bố chuẩn đầu ra  bao gồm kiến thức, kỹ năng, vị trí công việc mà sinh viên có thể thực hiện sau khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng và phê duyệt chiến lược phát triển của từng nhà trường.

Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, cả nước hiện nay có 149 trường đại học. Số sinh viên đại học: 1.358.861 (tăng 116.083 sinh viên). Số giảng viên: 45.961 (tăng 4.954 giảng viên); Hệ cao đẳng có 227 trường. Tổng số sinh viên: 576.878 (tăng 100.157 sinh viên). Tổng số giảng viên: 24.597 (tăng 4.414 giảng viên); Hệ TCCN có 282, học sinh 685.163 (tăng 59.393 học sinh), giảng viên 17.488 (tăng 1.274 giảng viên).

Đến nay có 215 trường ĐH, CĐ xây dựng và công bố chuẩn đầu ra của ngành đào tạo (tỷ lệ 52,82%); 246 trường (tỷ lệ 60,45%) công bố cam kết chất lượng đào tạo; có 303 trường (đạt tỷ lệ 74,5%) tổ chức xây dựng, rà soát, bổ sung các chỉ số trong chiến lược phát triển nhà trường giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020.

Chấn chỉnh tình trạng ép học sinh học thêm dưới danh nghĩa tự nguyện

Về công tác thi cử, Phó Thủ tướng đề nghị ngành GD-ĐT tiếp tục tăng cường, duy trì và giữ vững kỷ cương, nề nếp trong thi cử, đề cao việc học thật, thi thật, chất lượng thật, chấn chỉnh tình trạng ép buộc học sinh học thêm dưới danh nghĩa tự nguyện ở một vài nơi vẫn chưa được khắc phục.

Đối với vấn đề dạy thêm, học thêm, thu tiền thêm, Phó Thủ tướng đặc biệt lưu ý trên quan điểm, chủ trương không cấm nhưng phải dựa trên việc đáp ứng nhu cầu người học, đồng thời khẳng định, đã đến lúc phải nói không với dạy thêm mang tính cưỡng bức.

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển phát biểu: “Ngành giáo dục sẽ tích cực làm nhưng chưa dám chắc thời gian chấm dứt được tình trạng này”.

Đối với việc thu thêm, Thứ trưởng Hiển cho hay, ngành giáo dục vẫn phải làm vì đó không chỉ là nhu cầu của nhà trường mà còn là nhu cầu của cả người dân, có điều việc thu phải trên nguyên tắc tự nguyện. Bên cạnh đó, hình thức tổ chức các kỳ thi cơ bản vẫn ổn định như trước. 

Tại buổi gặp mặt, lãnh đạo Bộ GD-ĐT đã đề nghị Chính phủ cần có chính sách đầu tư để tăng nhanh số lượng trường, quy mô học sinh học nghề và TCCN nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tăng nguồn đầu tư ngân sách nhà nước và huy động có hiệu quả các nguồn lực xã hội cho giáo dục và đào tạo, đồng thời tăng cường vai trò, vị trí, trách nhiệm của địa phương với giáo dục. Tiếp tục tích cực chỉ đạo để các Bộ, Ngành hữu quan phối hợp với Bộ GD-ĐT trong việc banh hành các văn bản quy phạm pháp luật.

Tính đến hết học kỳ 1 (năm học 2010-2011), tổng số trường phổ thông cả nước là 28.559 (tăng 121 trường), tổng số lớp 504.231 (tăng 19.524 lớp), tổng số học sinh 14.856.933 (giảm 143.519 em, chủ yếu giảm ở cấp THCS). Tổng số giáo viên trực tiếp dạy 820.843 (tăng 15.331).

Hồng Hạnh

Theo Dân Trí

Thực hiện ba công khai mới được duyệt chỉ tiêu lớp 10

Sở GD-ĐT Hà Nội vừa có văn bản hướng dẫn các trường THPT, Trung tâm GDTX chuẩn bị các điều kiện tuyển sinh và lịch duyệt kế hoạch tuyển sinh lớp 10 năm học 2011-2012. Theo đó, các trường phải thực hiện ba công khai, mới được duyệt chỉ tiêu tuyển.

Trong công văn hướng dẫn, Sở GD-ĐT Hà Nội yêu cầu các trường công lập phải mô tả tình hình tài chính của cơ sở mình; học phí và các khoản thu khác từ người học (mức thu học phí và các khoản thu khác theo từng năm học và dự kiến cho 2 năm học tiếp theo); các khoản chi theo từng năm học.

Trong các khoản chi theo từng năm học các trường phải mô tả cụ thể các khoản chi lương, chi bồi dưỡng chuyên môn, chi hội họp, hội thảo, chi tham quan học tập trong nước và nước ngoài; mức thu nhập hằng tháng của giáo viên và cán bộ quản lý (mức cao nhất, bình quân và thấp nhất); mức chi thường xuyên/1 học sinh, sinh viên; chi đầu tư xây dựng, sửa chữa, mua sắm trang thiết bị.

Sở GD-ĐT Hà Nội cũng cho biết, từ 1-9/3/2011 tiến hành sẽ duyệt kế hoạch tuyển sinh của các trường THPT và các trung tâm giáo dục thường xuyên trên toàn thành phố. Theo hướng dẫn của Sở, các trường phải thực hiện ba công khai, mới được duyệt chỉ tiêu tuyển (cam kết chất lượng và công khai thông tin chất lượng; công khai thông tin về cơ sở vật chất và công khai thông tin về đội ngũ; công khai về thu chi tài chính).

Sở GD-ĐT Hà Nội cho biết, kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT không chuyên năm nay vẫn thực hiện phương thức thi kết hợp với xét tuyển. Căn cứ để xét tuyển là điểm THCS và điểm thi hai môn Ngữ văn, Toán. Ngày thi hai môn Ngữ văn, Toán được tổ chức vào 22/6/2011, kết quả thi của hai môn này được nhân hệ số 2.

Tuyển sinh vào lớp 10 THPT chuyên sẽ thực hiện theo phương thức thi tuyển. Học sinh thi vào chuyên sẽ thi hai môn Ngữ văn, Toán cùng với học sinh không chuyên; ngoài ra sẽ thi thêm môn Ngoại ngữ và môn chuyên vào hai ngày 23-24/6. Điểm xét tuyển sẽ là điểm thi các môn Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ (đều hệ số 1) và điểm môn chuyên (hệ số 2).

Nguyễn Hùng

THeo Dân Trí

Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011

Gặp lại “cậu bé vàng” của Toán học Việt Nam

Cách đây 6 năm, Phạm Kim Hùng được mọi người gọi là “cậu bé vàng” của Toán học Việt Nam với 2 năm liên tiếp (2004 - 2005) đoạt huy chương vàng, bạc Olympic Toán quốc tế. Hiện nay, “cậu bé vàng” đã khác xưa với nhiều dự định trong tương lai.
Năm 2004 có lẽ là năm đáng nhớ nhất đối với Olympic Toán học Việt Nam vì lần đầu tiên cả 6 thành viên của đoàn Việt Nam đều đoạt huy chương (4 HCV, 2 HCB) tại Olympic Toán học quốc tế lần thứ 45 tại Hy Lạp. Đây là thành tích tốt nhất của đoàn học sinh nước ta từ trước tới nay xếp thứ 3 toàn thế giới về số huy chương, xếp thứ 4 về điểm số toàn đoàn.
Trong 4 học sinh đoạt HCV có thí sinh duy nhất đang học lớp 11 đó là Phạm Kim Hùng, khối phổ thông chuyên Toán - Tin, ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQG Hà Nội). Hiện, Hùng đang học tại ĐH Stanford (Mỹ) theo chương trình khoa học máy tính và toán.
 
Phạm Kim Hùng.

Gặp lại Phạm Kim Hùng trong dịp áp Tết Tân Mão tại Hà Nội, sau 6 năm Hùng chững chạc hơn, rắn rỏi hơn và say mê chia sẻ về công việc học tập của mình: “Toán học là một môn khoa học rất đẹp, và tôi luôn dành cho toán học một tình yêu và sự trân trọng lớn. Tôi chọn học thêm công nghệ thông tin vì đây là ngành học có tính ứng dụng rất cao và cũng rất gần gũi với Toán học. Tôi rất say mê những đột phá công nghệ thông tin trong những năm vừa qua. Đối với tôi, Bill Gates và Steve Jobs là những nhà sáng tạo vĩ đại”.

Thời gian học tập tại Mỹ, Hùng đã có nhiều công trình nghiên cứu đăng ở Tạp chí và xuất bản nhiều sách ở trong và ngoài nước. Năm 2010, Hùng in cuốn sách “Secret in Inequalities” phần 2 đã được xuất bản bằng tiếng Anh trong năm 2010. Trong thời gian tới, một nhà xuất bản ở Hàn Quốc đã nhận dịch cuốn sách sang tiếng Hàn Quốc để xuất bản.

Ngoài việc học tập, hiện tại Hùng còn là sáng lập viên, Chủ tịch hội đồng quản trị công ty cổ phần NES.

Liệu sự đam mê kinh doanh có lấn án công việc học tập hiện nay của Hùng?, Hùng tâm sự: “Nếu coi “lập nghiệp” là “đổi nghề” thì đó là một cách nhìn hình thức. Điều này cũng hình thức giống như việc chúng ta luôn hô khẩu hiệu “học đều tất cả các môn như nhau” mà quên mất rằng giá trị lớn nhất của tri thức là giúp chúng ta thay đổi bản thân, phát triển sự nghiệp và quản lý cuộc sống sau này.Đối với tôi kinh doanh không là ưu tiên hàng đầu, hay đơn giản kinh doanh hoàn toàn không phải là năng khiếu của tôi. Niềm đam mê lớn nhất của tôi là có thể sáng tạo ra các sản phẩm công nghệ có ý nghĩa cho cuộc sống, cho mọi người. Để làm được như vậy, không còn cách nào khác là phải tập hợp mọi người và tạo ra một công ty, nơi chúng tôi có thể sát cánh cùng nhau. Đơn giản như vậy thôi!”.
 
Hùng chững chạc trong vai trò người quản lý công ty.

Hầu như những du học sinh sau khi học xong rất ít khi trở về nước làm việc vì trong nước không có môi trường để họ tiếp tục nghiên cứu và cống hiến. “Cậu bé vàng” cho biết: “Nếu điều kiện khách quan trong nước không thể đáp ứng cho công việc nghiên cứu của của nhân tài Việt Nam ở nước ngoài, việc họ ở nước ngoài nhưng vẫn tiếp tục cống hiến cho Việt Nam cũng là điều rất đáng trân trọng”.

Chia sẻ suy nghĩ và đề xuất về chế độ đãi ngộ nhân tài của Việt Nam hiện nay để tránh chảy máu chất xám? Hùng cho rằng: “Chảy máu chất xám là vấn đề chung của nhiều nước, ngay cả các nước lớn. Việc đưa ra một chế độ đãi ngộ phù hợp, tôi cho rằng rất khó để làm được sớm vì nó phải gắn liền với rất nhiều yếu tố khách quan về điều kiện kinh tế và xã hội. Trước tiên nhà nước nên đảm bảo hai điều. Thứ nhất, sự cạnh tranh công bằng và sự phát triển công bằng cho tất cả mọi cá nhân. Thứ hai, sử dụng hợp lý nguồn tri thức mà các du học sinh học được từ nước ngoài, đặc biệt là nguồn tri thức mới chưa được cập nhật trong các trường đại học ở Việt Nam”.

Thành tích của Phạm Kim Hùng:

- Huy chương Vàng Olympiad Toán quốc tế năm 2004

- Huy chương Bạc Olympiad Toán quốc tế năm 2005

- Giải nhất cuộc thi Toán quốc gia năm 2005

- Học bổng toàn phần trường Stanford từ năm 2007

- Đạt được học bổng chương trình nghiên cứu theo từng quý tại Stanford, mùa thu năm 2008

- Học bổng chương trình nghiên cứu hè dành cho sinh viên học Computer Science, Stanford

- Sáng lập viên, Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty Cổ phần NES

* Tạp chí & Sách đã xuất bản:

- Secrets in Inequalities II, Nhà xuất bản Gil, 2009

- Secrets in Inequalities I, Nhà xuất bản Gil, 2008

- Sáng tạo bất đẳng thức, Nhà xuất bản Tri Thức, Hà Nội, 2007

 

 
 
Hồng Hạnh
Theo Dân Trí

Thứ Hai, 7 tháng 2, 2011

Lỗ hổng trong đổi mới phương pháp dạy học

Nhiều phương pháp dạy học mới đang được triển khai nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Tuy nhiên, nếu áp dụng không khéo, giáo dục lại trượt dài từ thái cực này sang thái cực khác và không thể đem lại kết quả mong muốn.

Một phương pháp hay không có nghĩa là đem nó vào trong tiết dạy là đạt được hiệu quả như mong muốn. Càng không có nghĩa là một tiết dạy tập hợp hết các phương pháp tiên tiến hiện hành thì sẽ thành công.

Mà thực ra, chẳng có phương pháp dạy học nào gọi là hay là dở đối với bất kỳ tiết học nào và đối tượng nào. Vấn đề chỉ là việc vận dụng nó thế nào cho đúng lúc, đúng cách để phát huy hiệu quả hay không mà thôi.


Việc lựa chọn phương pháp dựa vào tiêu chí phù hợp với nội dung là nguyên tắc hợp lý nhưng chưa đủ. Hay nói đúng, điều này chỉ mới dựa trên cơ sở lý thuyết. Người dạy còn phải xét đến tiêu chí thứ hai đó là đối tượng học trực tiếp. Đây mới là thực tế mà khi đối đầu với nó, hệ thống các phương pháp dù hay đến mức nào cũng phải thừa nhận rằng nó không phải là chìa khóa vạn năng.

Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp đáng ngờ nhất. Tâm lý lứa tuổi học đường không ý thức được như người lớn sự cần thiết của làm việc hợp tác. Chia các nhóm nhỏ, lời nói xì xào nhiều khi lại là cơ hội để các em trò chuyện tán gẫu, lãng phí thời gian. Giáo viên không thể đến từng nhóm theo dõi sát sao học sinh làm việc.

 

Cũng không tránh khỏi tình trạng các em chỉ thảo luận một cách đối phó. Lúc này nhìn bề ngoài có vẻ học tích cực chủ động. Nhưng trong tư duy các em thì chưa chắc. Vậy làm thế nào để các em thật sự “hành động” trong tư duy? Làm sao kiểm soát được tư duy của các em? Câu hỏi này còn đang chờ đợi các công trình tiến sĩ.

 

Thêm nữa, với tình trạng chạy đua lựa trường điểm hiện nay đang diễn ra rầm rộ ở các thành phố lớn, nước ta không thiếu những trường có mặt bằng học lực học sinh rất thấp. Đối với những tập thể học sinh cá biệt, người giáo viên phải nhức óc với vấn đề đậu rớt của học sinh trong các kì thi. Cố gắng để các em học thuộc các kiến thức ở dạng tinh lọc nhất để thi đã khó, đừng nói đến chuyện hi vọng các em chủ động sáng tạo.

 

Đâu phải học sinh nào cũng đến trường với tâm thế cố gắng học hành vì tương lai bản thân và phục vụ đất nước sau này. Để thay đổi được điều này là cả một quá trình và đòi hỏi sự phối hợp của nhiều phía.

 

Đối với những học sinh không thiết tha với học tập, hoặc chỉ đi học để lấy bằng tốt nghiệp phổ thong; sau đó đi học nghề, hoặc bị cha mẹ ép buộc phải đến trường…thì không thể kì vọng ở các em quá nhiều. Các em chỉ học đối phó để thi.

 

Đó là một thực tế phải thừa nhận dù không mong muốn. Tình trạng học sinh bỏ học nhiều ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã nói lên rằng số lượng những học sinh dạng này không phải ít. Giáo viên trong trường hợp này hiểu rằng phương pháp tiên tiến kia quá xa xỉ. Không thấy hiệu quả đâu nhưng trước mắt là lãng phí thì giờ quý giá.

 

Việc chúng ta quan niệm giáo dục tránh lối truyền thụ một chiều, lối dạy đọc – chép là rất phù hợp xu thế thời đại. Nhưng không thể kì thị, để rồi cho rằng trong tiết dạy phải tuyệt đối chấm dứt hẳn cách dạy đọc –chép là điều sai lầm. Bởi không có một thầy cô giáo nào có thể làm được chuyện đó, từ trước đến giờ và sau này cũng vậy, kể cả các giảng viên đại học Havard hay Oxford cũng không thể làm được.

 

Đối với những tri thức có tính chất suy luận, việc vận dụng các phương pháp thảo luận nhóm, đối thoại, đặt câu hỏi hay là điều không có gì bàn cãi. Còn đối với những tri thức thuần túy là thông tin, mà dung lượng bài học thông tin quá nhiều như các bài văn học sử hay các bài lịch sử thì làm sao mà giáo viên không ít nhiều sử dụng cách dạy đọc chép.

 

Đọc – chép lúc này là một cách để người dạy tinh lọc lại những kiến thức trọng tâm để học sinh không bị hoang mang phân tán. Còn việc đặt câu hỏi để các em phát hiện các thông tin này phát biểu thì cuối cùng cũng phải dừng lại để ghi tri thức cần thiết. Không đọc – chép thì coi chừng sau tiết dạy cả lớp không biết học cái gì!

 

Mà đối với các tri thức có tính thông tin thuần túy, việc học sinh tích cực phát hiện tri thức thì cũng chỉ là một hành động tích cực bề ngoài. Dùng các phương pháp thảo luận nhóm, hay đối thoại, đặt câu hỏi cũng không đem đến sự sáng tạo trong tư duy các em. Tại sao lại không chấp nhận chuyện đọc chép?

 

Hoặc đơn giản là có những kiến thức mà học sinh không đủ sức tự chiếm lĩnh, khám phá để đi đến kết quả hoàn hảo thì người thầy phải can thiệp vào, giúp các em hiểu và ghi nhận. Người dạy dù lý giải, gợi mở thế nào, cuối cùng cũng phải tóm lại cái gì đó để học trò ghi nhận. Hành động này sẽ gọi nó là gì  ngoài cái tên đọc – chép?

 

Quay lại thực tiễn, khi phải đối đầu với đối tượng học không như mong muốn, khả năng  khám phá và học lực của các em đã yếu, mà không đọc gì cho các em ghi để thi cử thì coi chừng lại phát sinh ra những hệ lụy khác.

 

Việc lạm dụng cách dạy một chiều, chỉ có đọc-chép đúng là một tiêu cực nhất định phải loại trừ. Song bản thân việc đọc – chép vẫn chưa được một cái nhìn sòng phẳng.

 

Đọc – chép là một thao tác dạy học tất yếu trong quá trình tác nghiệp sự phạm. Bản thân phương pháp này không có gì tiêu cực nếu biết dùng nó đúng lúc. Chúng ta chỉ bài trừ tình trạng lạm dụng thái quá chứ không thể đối lập nó với nguyên lý giáo dục mới, xem nó là cách dạy truyền thống sai lầm mà cực đoan không dùng đến nữa.

 

Hãy tưởng tượng đến một tiết dạy mà giáo viên chỉ cố tìm ra các phương pháp mới nhằm khiến cho học sinh tích cực chủ động, tự chiếm lĩnh tri thức, tự ghi nhận bài học, mà cuối cùng không tinh lọc lại một vấn đề gì để học sinh ghi nhận…! Kết quả tất yếu là sẽ có rất nhiều học sinh cá biệt bị bỏ rơi.

 

Đó chính là thái cực thứ hai – hậu quả của việc kì thị cách dạy truyền thống và cực đoan lạm dụng các phương pháp dạy học được gọi là tân tiến một cách thiếu cân đối!

 

                                                                                     Hồ Hoàng Khải

                                               Trường THPT chuyên Lý Tụ Trọng TP.Cần Thơ

 

LTS Dân trí - Phương pháp giảng dạy đúng với đặc điểm môn học và tiết học cũng như đúng với đối tượng học sinh luôn là yếu tố quan trọng nâng cao chất lượng giảng dạy. Vì vậy, cải tiến (hay đổi mới) phương pháp giảng dạy luôn phải xem xét đến đối tượng học sinh của từng lớp cụ thể. Mặt khác, trong khi áp dụng những phương pháp mới thì không nên “phủ nhận sạch trơn” phương pháp truyền thống. Cái gì ra đời và tồn tại lâu đời đều có lý do khách quan và có những điều mà thế hệ sau cần kế thừa.

Theo Dân Trí

Thứ Ba, 1 tháng 2, 2011

"Chỉ đạo" con xài tiền lì xì

Hầu như năm nào, đến Tết cũng có ít nhiều bài viết về chuyện lì xì cho trẻ em, với motip khuyên cha mẹ nên qua việc lì xì này mà dạy con biết cách sử dụng tiền, ý nghĩa của chuyện “mừng tuổi”.

Nhưng thực sự, có lẽ ít có bài học nào được rút ra từ đây vì đã từ lâu, chuyện lì xì không còn là chuyện của trẻ em nữa mà đã thành một “hoạt động “ đem lại những ích lợi hay quyền lợi cho người lớn.

Với những gia đình có ý thức dạy con, và bố mẹ có khả năng “làm chủ bản thân” thì việc xử lý chuyện lì xì chỉ là chuyện nhỏ. Họ “can đảm” để chỉ lì xì cho con trẻ (con họ và con bạn bè ) những đồng tiền có mệnh giá nhỏ với yêu cầu đơn giản là mới và đẹp (ví dụ: đồng 10 nghìn đỏ thắm trước đây ) và kèm theo những lời chúc thật chân tình.

Còn với những người xem chuyện khoe của hay coi trọng vật chất, muốn “mua” sự thán phục của lũ trẻ thì “không dám” bỏ vào phong bao những tờ tiền có mệnh giá dưới 20.000 đồng, mà thông thường là 50 - 100.000 đồng, tờ USD hay AUD.

Cũng không cần nhắc đến những người buộc phải lì xì cho “con của sếp” như một cách mua chuộc hay hối lộ ngầm mà chỉ muốn nói rằng, những giá trị tinh thần của ngày Tết đã ngày một “biến tấu” và mai một theo cùng với những giá trị tinh thần của những ngày lễ lạt khác.

Điều cần nói hơn, có lẽ là qua đó, nên giúp các ông bố, bà mẹ trẻ có thể biết thêm thế nào là “giá trị tinh thần” của chuyện “mừng tuổi”.

Nói rõ hơn, nên cho bố mẹ có sự hiểu biết để có thể dạy con biết ý nghĩa của việc lì xì và biết rằng, chuyện lì xì chỉ là hệ quả của lòng thương yêu và kính trọng qua những lời chúc mà trẻ con gửi đến người lớn, chứ không phải đó là sự “trao đổi” theo công thức chúc Tết để được lì xì.

Nếu nói theo tính logic thì người lớn “cám ơn” và “mừng tuổi” con trẻ qua việc lì xì chứ không phải bổn phận “phải li xì” cho con. Và trẻ con thì chúc tuổi và chúc Tết người lớn để được nhận lại những chiếc phong bao đỏ thắm (mang điều may mắn) chứ không phải là ra “đòi tiền lì xì “ bằng những lời chúc qua quýt, thậm chí “xếp hàng” để nhận tiền “phân phát”.

Như thế, sẽ có hai vấn đề:

Cần xem chuyện lì xì là một hoạt động mang giá trị tinh thần trong một loạt các “tục lệ” của ngày Tết như  Tiễn ông Táo - cúng Giao Thừa – Đón ông bà, gia tiên về ăn Tết - Hái lộc đầu xuân – Không ăn nói tục tằn trong 3 ngày Tết v.v.v và bố mẹ nên giải thích đơn giản cho con cái hiểu trước ngày Tết ý nghĩa của các hoạt động này.

Không cần thiết phải đặt nặng chuyện “quản lý tiền lì xì” cho con hay dạy cho con biết xài tiền lì xì cho đúng cách.

“Chỉ đạo” con cách xài tiền nghĩa là  bố mẹ cũng coi trọng giá trị của đồng tiền nằm trong đó (chỉ khi nào con được lì xì khá nhiều thì mới “chú ý” để dạy con biết xài tiền, đại loại như nên bỏ ống, gửi tiết kiệm hay mua học cụ,v.v…).

Không cần phải đợi đến khi trẻ có tiền lì xì mới “buộc” con phải tiêu tiền hợp lý mà là một quá trình tiệm tiến, dạy con “từ thủa lên 5 “.

Đến khi thấy con nắm trong tay cả trăm nghìn tiền lì xì một lúc, mới “lên kế hoạch” dạy con thì e là vô ích, thậm chí còn phản tác dụng (trẻ sẽ phản ứng: Đây là tiền của con mà  - Đúng quá! – Con muốn mua gì thì mua chứ – Đúng luôn! Thế là bố mẹ, hoặc dùng “sức mạnh của quyền lực” để buộc trẻ không được tiêu bằng cách bỏ ống hay gửi tiết kiệm vào tủ của mẹ! Hoặc lại ra sức “dụ con” thậm chí là “năn nỉ” con tiêu tiền vào những điều mà mình cho là có ích, trong khi chính đứa trẻ không hiểu tại sao lại phải như vậy!).

Điều này vô tình lại đi ngược lại nguyên tắc giúp con có khả năng “ra quyết định” và sau đó là chấp nhận hậu quả của quyết định (biết chịu trách nhiệm) mà đó lại là hai trong số những kỹ năng sống mà chúng ta đang hì hục dạy trẻ học “như vẹt”.

Nói tóm lại, không nên “tách” chuyện lì xì ra để xem đây là một “cơ hội” dạy con cách dùng tiền, mà nên “gắn” hoạt động lì xì vào một chuỗi những giá trị tinh thần mà trẻ con cần được biết để tiếp tục “truyền thống” đón Tết, mừng Xuân cho đúng với ý nghĩa và giá trị của những ngày đầu xuân.

Chuyên gia tâm lý giáo dục Lê Khanh

Theo: VietNamnet

Thứ Bảy, 15 tháng 1, 2011

Dạy con tư duy và trí thông minh

Theo tiến sĩ Ngô Thị Ngọc Huyền, Phó Trưởng Khoa Thương mại – Du lịch – Marketing – ĐH Kinh tế TP. HCM, hiện nhu cầu của các bậc cha mẹ về việc nuôi dạy con sao cho có thể phát huy trí tuệ của con cái là rất lớn.

Tuy vậy, nhiều bậc cha mẹ đã gặp phải khó khăn trong việc hiểu đầy đủ về các khái niệm khoa học như chỉ số thông minh, chỉ số cảm xúc, chỉ số vượt khó… phần nào là do di truyền, phần nào có thể tác động để nâng cao trí thông minh. Khó khăn tiếp theo là lựa chọn phương pháp nào, chương trình nào để đăng ký cho con học hoặc để cha mẹ dùng hướng dẫn con cái. Vì vậy, cũng theo tiến sĩ Huyền, việc cha mẹ nên tìm hiểu một cách đầy đủ về trí thông minh và phương pháp nuôi dưỡng phát triển trí thông minh là rất cần thiết.

Dạy con tư duy và trí thông minh

IQ có phải là toàn bộ trí thông minh?

Giáo sư tâm lý Howard Gardner của trường đại học Havard công bố thuyết “trí thông minh đa đạng”. Ông cho rằng việc xác định và đánh giá trí thông minh ở một khía cạnh quá riêng lẻ, là chỉ với chỉ số IQ do nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet đề xuất năm 1904, thì thật không thoả đáng. Gardner giải thích rằng, chỉ với riêng IQ, nó không phản ánh được sự đa dạng của trí thông minh và nó cũng không cho thấy sự tương quan giữa trí thông minh với vô số cách ứng xử của trí tuệ có thể quan sát được trong cuộc sống. Trong một thời gian khá dài, quan niệm IQ như một cái gì “Trời định” đã bị chỉ trích, đồng thời giới nghiên cứu cũng đã phát triển quan niệm đến mức hoàn thiện, như có thể thấy ở thuyết của Gardner.

Vậy trí thông minh là gì và có bao nhiêu loại theo Gardner?

Theo Giáo sư Howard Gardner, trí thông minh có nghĩa là “khả năng giải quyết vấn đề và tạo ra sản phẩm hay dịch vụ có giá trị thiết thực cho xã hội”. Định nghĩa này dẫn chúng ta đến câu hỏi cho chính chúng ta: khi con cái của chúng ta “có khả năng giải quyết vấn đề” và khả năng “tạo ra” nhưng mà không có «giá trị thiết thực cho xã hội» thì liệu con cái chúng ta có thông minh thật không?

Thuyết của giáo sư Gardner nhận diện trí thông minh của con người có tám dạng như sau:

1. Trí thông minh ngôn ngữ

2. Trí thông minh logic – toán học

3. Trí thông minh về không gian

4. Trí thông minh về khả năng vận động thân thể

5. Trí thông minh âm nhạc

6. Trí thông minh tương tác, giao tiếp với người khác

7. Trí thông minh nội tâm

8. Trí thông minh trong lĩnh vực tự nhiên

Như vậy, thuật ngữ IQ theo cách hiểu có tính phổ biến rằng nó chỉ bao gồm khả năng có sẵn của bộ não thì “không còn thỏa đáng” nữa, mà cần hiểu rộng hơn về trí thông minh là bao gồm cả khả năng mà chúng ta học được từ bên ngoài. Gardner cho rằng một người có nhiều hơn năm dạng trong hệ thống tám dạng trí thông minh do ông công bố. Với cách hiểu thấu đáo như vậy về đối tượng trí thông minh người ta mới lựa chọn phương pháp phát triển nó chính xác hơn và bớt phải lúng túng.

Trí thông minh có phát triển được thông qua đào tạo không?

Có. Từng loại trí thông minh trên sẽ phát huy tốt với các chương trình đào tạo, huấn luyện tư duy phù hợp. Giáo sư Tony Buzan, nhà tư vấn tư duy hàng đầu thế giới, thấy rằng đứa trẻ nào cũng có tiềm năng của Leonardo da Vinci và Albert Einstein. Làm thế nào để “bật tín hiệu” cho tiềm năng đó phát huy? Các nghiên cứu của Buzan cho thấy trí thông minh được phát huy hết công năng khi con cái chúng ta được nuôi dưỡng trong môi trường tốt, được khuyến khích, động viên và giáo dục đúng phương pháp.

Với bộ công cụ sơ đồ tư duy hay còn gọi là sơ đồ trí não, Buzan hướng dẫn chúng ta học phương pháp học, học cách xử lý thông tin, và học tư duy có phương pháp để rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy, từ đó khai phá năng lực tiềm ẩn vô cùng to lớn của bộ não tạo nên sự đột phá trong học tập và công tác.

Vì sao trẻ em cần được học thông qua chơi?

Một nhà khoa bảng của đại học Havard, giáo sư David Perkins, chỉ ra trí thông minh có ba loại: trí thông minh nơron (neural intelligence), trí thông minh trải nghiệm (experiential intelligent) và trí thông minh suy nghĩ (reflective intelligence). Trong đó, trí thông minh nơron do di truyền và được đo bằng chỉ số IQ. Còn hai loại trí thông minh trải nghiệm và trí thông minh suy nghĩ thì có thể đào tạo được. Để gia tăng trí thông minh trải nghiệm, trẻ em cần được chơi như là cách học. Phương pháp này phù hợp với tuổi ham chơi của các em. Như vậy, theo triết lý giáo dục này, chơi là sự trải nghiệm giúp trí tuệ học được trong suốt quá trình. Do đó, quan điểm học-mà-chơi này ngày nay được ủng hộ trên khắp thế giới.

Tiếp theo quá trình đó, trí thông minh suy nghĩ là kết quả kết hợp đa dạng của trải nghiệm. Điều này quý cha mẹ có thể quan sát được. Một bé trai láu lỉnh biểu diễn ráp nhanh một chú robot bất kỳ và khoe: “mẹ ơi, con ráp con robot này nhanh ghê chưa”, thì bạn nên vui vì con trai cưng của mình thông minh trải nghiệm. Một ngày nọ con trai khoe: “mẹ ơi, con ráp con robot quét nhà cho mẹ nhé, để mẹ khỏi lau nhà nhé!”, thì bạn hãy ôm con vào lòng mà hạnh phúc vì đó là cậu bé, qua nhiều trải nghiệm lắp ráp robot mà biết suy nghĩ đến một mục tiêu hữu ích. Hãy thưởng cho con trai một nụ hôn khuyến khích (dù con robot ấy vẫn chưa thể lau nhà giúp bạn trong thực tế và việc của bạn là duy trì điều ấy, hy vọng trong tương lai bạn sẽ được tặng một chú người máy biết làm việc từ con trai).

Vấn đề là các trò chơi giáo dục trí thông minh lại là một chuyên ngành hẹp, rất nghiêm túc của các nhà nghiên cứu phương pháp đào tạo tư duy. Sử dụng trò chơi phải đúng phương pháp.

Vậy đâu là các trò chơi có phương pháp giáo dục tư duy?

Đó là câu hỏi khó cho hàng triệu cha mẹ trên hành tinh chúng ta! Chúng ta bị tràn ngập với hàng tỉ dòng thông tin trên internet, trên quầy kệ siêu thị, trong cửa hàng chuyên doanh cho trẻ, trên phương tiện truyền thông, tại các khóa đào tạo…trên toàn cầu. Hãy hiểu, đó là một ngành công nghiệp khổng lồ và các bậc cha mẹ đang ở trong một thị trường sôi động. Một gợi ý ứng xử có giá trị là vì bạn, với vai trò làm cha mẹ, bạn đã từng trải nghiệm với vô số loại thị trường và ngành công nghiệp và bạn đã không ít lần thành công nhờ vào biết suy nghĩ. Hãy dùng cách đó, trong lãnh vực này. Chúng ta thường thành công nhờ vào ba giai đoạn. Đầu tiên, chúng ta tìm hiểu đầy đủ để có thể nhận thức đúng. Ví dụ chúng ta tìm hiểu và biết rằng đồ chơi thì khác với đồ chơi giáo dục. Tiếp theo, chúng ta thường đào sâu hơn về độ tin cậy để đưa ra thái độ. Ví dụ chúng ta tìm hiểu sâu về sự công nhận của giới chuyên gia về một món nào đó, về lịch sử của nó, về thành công của nó trong quá trình. Sau cùng, chúng ta mới ra quyết định, lựa chọn, hành động. Ví dụ chúng ta dùng sự tư vấn của chuyên gia để biết một hệ thống, sự phù hợp của lứa tuổi với từng thứ trong hệ thống đó.

Vì sao trẻ em ngày càng được khuyến khích rèn luyện trí thông minh và tinh thần lãnh đạo? Tức là cha mẹ đầu tư vào việc dạy con thông minh thì kết quả là gì?

Vì thế giới đã thay đổi từ các cuộc cách mạng kỹ thuật và kinh tế. Thế giới không ngừng thay đổi với tác động toàn cầu hóa. Một trong những cách làm chủ tình hình là ngành khoa học về quản trị và ngành giáo dục, trong đó có giáo dục tư duy, đã phát triển kịp thời giúp con người làm chủ sự thay đổi không ngừng. Vì thế giáo sư Edward de Bono, nhà tư tưởng hàng đầu về đào tạo tư duy đã nói: Chất lượng tư duy của chúng ta sẽ quyết định chất lượng của tương lai chúng ta. Ông đã chỉ cho quý phụ huynh cách xây dựng tầm nhìn trong sự nghiệp giáo dục con cái: Hãy dạy con cái chúng ta cách tư duy của tương lai chứ không phải cách tư duy của quá khứ. Vì nền kinh tế thế giới từ lâu đã chuyển qua bán cầu não phải (sáng tạo, nội dung, phần mềm) chứ không chỉ đơn thuần bán cầu não trái (cơ khí, máy móc). Điều này, chúng ta vẫn thường nghe đến với tên gọi nền kinh tế tri thức, công nghiệp chất xám hay nền kinh tế IQ (với cách hiểu đầy đủ là trí thông minh).

Edward de Bono dặn dò các bậc phụ huynh rằng ngày nay, trong nền kinh tế, người ta không bán thông tin hay kiến thức mà là bán khái niệm (concept). Điều này đòi hỏi các chủ nhân tương lai đủ sức thích ứng bằng phương pháp tư duy, chứ không phải đủ thông tin hay kiến thức. Đó là lý do các nhà quản trị nhân sự tại các công ty luôn sát hạch về phương pháp làm việc, khả năng giải quyết vấn đề, tính năng động (thích ứng, giỏi quản lý) hơn là kiểm tra kiến thức hay kho thông tin trong đầu của bạn.

Những cản trở thường gặp phải ở cha mẹ trong việc dạy con tư duy, ở khu vực văn hóa phương Đông?

Trong vùng văn hóa phương đông, trọng tình cảm và ít trọng lý trí, chúng ta dễ gặp phải tâm lý là cha mẹ thường suy nghĩ giúp con cái, thay về để chúng tự suy nghĩ còn chúng ta giữ vai trò hướng dẫn, khuyến khích, tạo môi trường yêu thương và tình bạn bè. Chúng ta có thể vì quá yêu mà hay bảo bọc quá mức, khiến trẻ không còn chỗ để sáng tạo, tưởng tượng.

Đừng quá lo lắng, vì mặt tích cực của vùng văn hóa này là đã cài sẵn trong chúng ta và con cái chúng ta tiềm năng của sự thông thái nội tâm, cảm xúc…

Cách của chúng ta là cởi mở với chính mình và con cái để có thể dễ dàng trải nghiệm cả hai thế mạnh của hai nền văn hóa, kết hợp thành công lý trí và tâm hồn – theo cách hiểu của hệ thống tám loại trí thông minh của Gardner.

meyeucon.org

Thứ Sáu, 17 tháng 12, 2010

10 người bỏ học nhưng thành đạt trong công nghệ

Mark Zuckerberg, nhân vật của năm 2010 do Time bình chọn, chỉ thiếu một thứ duy nhất trong sơ yếu lý lịch: bằng đại học.

Sau khi hình thành ý tưởng xây dựng mạng xã hội, Mark Zuckerberg đã rời trường đại học danh tiếng Harvard để tập trung toàn thời gian cho Facebook. Đến thời điểm này, có thể gọi đó là quyết định không tồi.

Mark Zuckerberg không phải trường hợp hiếm gặp. Ngoài Mark Zuckerberg, trong lĩnh vực công nghệ cũng có nhiều người đã bỏ học để theo đuổi ý tưởng của mình và rất thành công.

Bill Gates

Bill Gates đã rời trường Harvard vào năm 1975 để gây dựng Microsoft cùng với Paul Allen. Sau thành công với Microsoft, người sáng lập Microsoft đã được Harvard trao bằng tiến sĩ danh dự vào năm 2007.

Paul Allen

Allen theo học đại học Washington được hai năm sau đó bỏ học để cùng Bill Gates thành lập Microsoft.

James Cameron

Đạo diễn bộ phim Avatar là một cao thủ về công nghệ và chỉ theo học vật lý, tiếng Anh được hai năm tại trường đại học cộng đồng ở bang California (Mỹ).

Sean Parker

Sean Parker cũng bỏ dở đại học để gây dựng web chia sẻ nhạc đình đám Napster cùng với Shawn Fanning.

John Glenn

John Glenn (nhà chính trị và cũng là nhà du hành vũ trụ) đã từng theo học vật lý tại đại học Muskingum nhưng bỏ học sau cuộc tấn công Chân châu cảng (Pearl Harbor).

Julian Assange

Ông trùm của website Wikileaks đang nổi đình nổi đám trên mạng Internet đã theo học toán và vật lý tại đại học Melbourne nhưng bỏ học không lấy bằng.

Steve Jobs

Giám đốc điều hành của Apple cũng chỉ học tại đại học Reed một học kỳ nhưng luôn ca tụng thời gian học tại trường này đã giúp ông có kiến thức tốt về thiết kế.

Evan Williams

Evan Williams, đồng sáng lập dịch vụ tiểu blog Twitter, chỉ học một năm tại đại học Nebraska bởi ông "cảm thấy đại học là phí thời gian".

Biz Stone

Biz Stone, đồng sáng lập của Twitter cùng với Evan Williams, cũng bỏ dở chuyên ngành tiếng Anh tại đại học Northeastern. "Tôi chỉ nghĩ mình phải lên đại học sau khi tốt nghiệp phổ thông", ông nói. "Không ai từng nói với tôi rằng tôi không nhất thiết phải làm như vậy".

Buckminster Fuller

Ông tổ của kiến trúc mái vòm đã hai lần bị đuổi khỏi trường Harvard. Nhiều năm sau, Buckminster Fuller cũng kiếm được tấm bằng tại đại học Bates.

quantrimang.com

Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2010

Quá nhiều áp lực dồn lên vai người thầy

Suốt hơn một tháng qua, dư luận xôn xao về chuyện thầy giáo Võ Hải Bình bị Hội đồng kỷ luật trường THPT Lê Quý Đôn (TPHCM) buộc thôi việc. Đây là một ví dụ cho thấy gánh nặng trách nhiệm dồn lên vai người thầy!
Quyết định kỷ luật này hầu hết mọi người đều cho là quá nặng. Rất nhiều ý kiến, trong đó có những cựu học sinh học được trực tiếp học thầy Bình, đề nghị trường Lê Quý Đôn và Sở GD-ĐT TPHCM xem lại mức kỷ luật cho thấu tình tình đạt lý đối với một người thầy đã đứng lớp 26 năm liên tục. Tuy nhiên, chiều 15-12, Sở GD-ĐT TP.HCM đã bỏ phiếu chuẩn y kết quả của hội đồng kỷ luật trường THPT Lê Quý Đôn: buộc thôi việc đối với thầy Võ Hải Bình. Nếu loại trừ được những động cơ thiếu trong sáng thì quyết định quá mức nghiêm khắc này có thể là nhằm răn đe, ngăn chặn những hệ lụy buồn tương tự xảy ra trong tương lai.
Trong thời đại thông tin nhanh chóng lan rộng như hiện nay thì những thông tin đó rất nhiều người biết, giáo viên lại càng không thể không biết. Thế nhưng mới đây, tại Quảng Bình lại xảy ra một chuyện buồn của ngành giáo dục: Thầy Nguyễn Đức Luân, GV trường THCS Quảng Hợp đánh một học sinh trong trường đến nỗi chảy máu mũi.
Vì  sao môi trường học đường- nơi giáo dục học sinh tình yêu thương, hướng thiện và sống đẹp, lại xảy ra những vụ việc mà người thầy đối xử thô bạo với học sinh của mình? Vì sao báo chí lên tiếng cảnh tỉnh nhiều mà vẫn tái diễn? Vì sao người thầy được đào tạo trang bị kỹ năng sư phạm với những hiểu biết về tâm lý lứa tuổi, xử lý tình huống sư phạm… nhưng lại chọn cách xử lý rất đáng trách, trong đó có cả người thầy nhiều năm kinh nghiệm?
Trong nhiều trường hợp như thầy giáo dùng thước đánh học sinh bầm mông, rạn xương; bạt tai thủng lỗ nhĩ; bắt “thụt dầu” dẫn tới hậu quả phải nhập viện… Qua những bản tường trình chúng ta mới chỉ thấy nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ việc. Tuy nhiên, biết nguyên nhân trực tiếp thì không thể ngăn chặn những chuyện tương tự xảy ra, bởi chỉ có hiểu biết nguyên nhân sâu xa thì mới có thể giải quyết tận gốc vấn đề.
Theo tôi, nguyên nhân sâu xa khiến người thầy vi phạm là  do có quá nhiều áp lực dồn lên vai người thầy. Áp lực từ phụ huynh, nhà trường và từ chính cuộc sống còn nhiều khó khăn, trong đó áp lực lớn nhất là “bệnh thành tích”.
Người thầy ngày nay luôn phải chịu một áp lực lớn về  thành tích học tập của học sinh, mặc dù bộ  trưởng Bộ GD-ĐT đã tuyên bố chống bệnh thành tích. Thực tế hầu như chưa thay đổi. Trong các báo cáo tổng kết, các hội nghị thi đua, người ta vẫn nêu bật yếu tố bao nhiêu học sinh giỏi, bao nhiêu học sinh lên lớp… Làm giáo viên, ai không muốn trường mình, lớp mình đạt thành tích cao. Thành tích gắn liền với danh hiệu thi đua, với việc tăng lương trước thời hạn, với tiền thưởng.
Còn không có thành tích sẽ có nguy cơ bị  chuyển đi vùng sâu, vùng xa, là mang tiếng yếu chuyên môn. Từ nguồn gốc sâu xa đó, giáo viên luôn cảm thấy bức bách, nhất là khi học trò mất trật tự và phá quấy trong lớp học, không chịu nghe thầy giảng bài, và không học thuộc bài, trả lời những câu hỏi kiểm tra của thầy rất ngớ ngẩn! Trong lúc bực mình về thái độ học tập của trò, họ quên đi quy chế, quên đi những hình phạt đáng lẽ không được phép áp dụng với học trò.
Hãy nghe lời tâm sự của một giáo viên: “Nếu ai từng làm nghề dạy học sẽ luôn có cảm giác khó chịu khi mình đang khản cổ truyền đạt kiến thức mà nhìn xuống lớp thấy HS vô tư nói chuyện. Bực nhất là không khí ồn ào như một cái chợ của những lớp có sĩ số đông. Phòng ốc chật chội, thời tiết nóng nực, trong người mệt mỏi triền miên với hàng tá việc trường, việc nhà, gặp HS không học bài, không chép bài hoặc không nghe giảng thì khó mà dịu dàng, kiềm chế được sự bực tức …”. Chỉ mới thế thôi mà đã “khó mà dịu dàng, kiềm chế được…” thì khi học sinh ngang nhiên nghịch ngợm, cười đùa trong lớp, không ghi bài…giáo viên nhắc nhở không nghe lại còn có thái độ thách thức, vô lễ thì giáo viên có là “thánh” mới không nổi nóng. Đã thế, nhiều quy định quá hạn chế và ngặt nghèo về quyền người thầy làm cho uy lực và tiếng nói của giáo viên mất đi nhiều trọng lượng khiến học sinh không sợ. Hơn nữa bệnh thành tích cũng làm cho học sinh không cần cố gắng vẫn được lên lớp. Khi học sinh lười học giáo viên nhắc nhở phải chăm học, nếu không sẽ ở lại lớp. Thế nhưng sự thật là nhiều học sinh học yếu vẫn lên lớp bình thường. Mới đây báo chí đưa tin về câu chuyện hết sức khôi hài ở Quảng Trị một học sinh học xong lớp 5 vẫn mù chữ là minh chứng rõ nhất cho điều này. Khi nhìn thấy xung quanh những chuyện như thế, các em sẽ mang tâm lý không cần học nghiêm túc vẫn lên lớp, vẫn tốt nghiệp, nên giáo viên có nói gì thì học sinh cũng không tin, không sợ, cứ lười học, chơi, quậy phá thoải mái, thầy có dám làm gì đâu, rồi cũng tốt nghiệp như ai thôi. Vì  vậy, xin đừng dồn quá nhiều áp lực lên vai người thầy, nhất là áp lực về “bệnh thành tích”. Hãy “cởi bỏ” áp lực cho giáo viên như tuyên bố của một quan chức giáo dục. Đó là cách để người thầy được thoải mái  đem tâm huyết cống hiến cho nghề và ngành giáo dục, không còn xảy ra những chuyện đau lòng phải kỷ luật buộc thôi việc một người thầy hầu như đã cống hiến gần trọn đời cho sự nghiệp “trồng người”.

                                                               Phạm  Được (Đà Nẵng)

LTS Dân trí - Một người Thầy nào cũng mong muốn học sinh của mình chăm chỉ học hành và nhanh tiến bộ. Nhưng trên thực tế thì học sinh ngày nay có nhiều em hư, không chịu nghe lời thầy; vai trò và uy tín của người thầy không bằng xưa; sự đãi ngộ đối với người thầy chưa tương xứng với trách nhiệm được giao.

Vì vậy, người thầy vừa phải bươn chải trong cuộc sống hằng ngày, vừa không thoải mái về mặt tinh thần, chịu nhiều áp lực từ nhiều phía và nhiều người cảm thấy bất lực trước sự quậy phá của những học sinh hư, do vậy dẫn tới những hành động bột phát khó kìm chế, và cuối cùng người thầy lại phải gánh chịu mọi hậu quả.

Muốn khắc phục từ gốc tình trạng đó, cần nghiêm túc xem xét lại cơ chế quản lý của nhà trường hiện nay vì sao dẫn tới tình trạng mất nền nếp, chưa tạo ra môi trường hành nghề thuận lợi cho thầy cô giáo, giúp cho họ có điều kiện hoàn thành tốt trọng trách được giao là vừa “dạy chữ” vừa “dạy người”.

Người Thầy phải thật sự được tôn trọng; học sinh không được phép vô lễ với thầy, không được làm mất trật tự trong giờ học. Đấy là nền nếp và kỷ cương của học đường mà cơ chế quản lý nhà trường cần thiết lập bằng được.

Nguồn: dantri.com.vn

Nguyễn Thúc Hào, người thầy của nhiều nhà toán học nước ta

Lãnh đạo Đại học Khoa học Hà Nội năm 1946, dạy toán trong kháng chiến và hòa bình, ông góp phần đào tạo một đội ngũ đông đảo các nhà toán học.

Bạn cùng lớp với Tướng Giáp thời niên thiếu

Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Thúc Hào, nguyên Phó Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam, sinh ngày 6/8/1912 tại Nam Đàn, Nghệ An, trong một dòng họ khoa bảng. Ông nội là cụ Nguyễn Thúc Kiều, Cử nhân nho học, thầy dạy của nhà chí sĩ Phan Bội Châu. Cha là cụ Nguyễn Thúc Dinh đỗ Phó bảng năm 1907, triều Thành Thái.

Họp mặt các cựu học sinh Trường Quốc học Huế. Từ trái sang phải, hàng đầu: GS Nguyễn Thúc Hào (thứ hai), Đại tướng Võ Nguyên Giáp (thứ ba), GS Nguyễn Lân (thứ tư)...

Họp mặt các cựu học sinh Trường Quốc học Huế. Từ trái sang phải, hàng đầu: GS Nguyễn Thúc Hào (thứ hai), Đại tướng Võ Nguyên Giáp (thứ ba), GS Nguyễn Lân (thứ tư)…

Nam Đàn có đền thờ Mai Hắc Đế dưới chân rú

Đụn, có thị trấn Sa Nam nhộn nhịp, đông vui:

Sa Nam trên chợ dưới đò
Bánh đúc hai dãy, thịt bò mê thiên…

Thời hiện đại, mảnh đất núi cao sông rộng ấy đã sinh ra hai bậc vĩ nhân: Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh.

Năm 1924, 12 tuổi, Nguyễn Thúc Hào thi đỗ thủ khoa vào Trường Quốc học Huế, cùng người bạn thân Võ Nguyên Giáp.

Về sự việc này, sinh thời, có lần GS Hào kể với tôi:

- Khi thi vào Trường Quốc học Huế, tôi đỗ đầu, anh Võ Nguyên Giáp đỗ thứ hai. Nhưng, khi vào học, thì anh Giáp đứng đầu lớp, tôi đứng thứ hai. Anh Giáp “học tài” hơn tôi. “Học tài, thi phận” mà…

Trong một thiên hồi ký, GS Tạ Quang Bửu kể:

“Tôi và anh Hào là người đồng hương Nam Đàn. Năm học 1923-1924, tôi lên lớp đệ tam ở Trường Quốc học Huế. Cụ Phó bảng Nguyễn Thúc Dinh, thân sinh anh Hào, cho tôi ở nhờ nhà cụ để đi học gần trường hơn. Cụ là nhà khoa bảng, tính tình rất ngăn nắp, thu xếp cho anh Hào học rất chu đáo.”

Năm 1925, anh Hào chuyển ra Hà Nội, vào học Trường Albert Sarraut. Năm 1929, anh sang Pháp, thi đỗ tú tài toán tại Aix-en-Provence. Theo học Đại học Khoa học Marseille, sau 4 năm (1931 – 1935), anh thi lấy 6 chứng chỉ: toán học đại cương, giải tích toán học, vật lý đại cương, cơ học lý thuyết, cơ học chất lỏng, và thiên văn học (chỉ cần 3 chứng chỉ là đỗ cử nhân). Ngoài ra, anh còn viết xong luận văn DEA – nay gọi là thạc sĩ – về một đề tài liên quan đến hình học và cơ học.

Cho đến lúc bấy giờ, Nguyễn Thúc Hào là người có bằng cấp cao nhất về khoa học cơ bản ở Đông Dương.

23 tuổi, trở về cố đô, thầy Hào dạy toán tại Trường Quốc học Huế. Sau Cách mạng, thầy vừa dạy toán, vừa giữ thêm chức Giám đốc Trung học vụ Trung Bộ, Uỷ viên Hội đồng Cố vấn Học chính của Bộ Quốc gia Giáo dục. Một lần ra Hà Nội họp Hội đồng, GS Hào được một người bạn cũ – lúc bấy giờ cũng là Uỷ viên Hội đồng – mời về nhà chơi. Trong bữa cơm tối, hai người ôn lại những kỷ niệm xưa bên núi Ngự, sông Hương. Người bạn cùng lớp năm xưa ấy, nay là Giáo sư sử học Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ kiêm Chủ tịch Quân sự Uỷ viên Hội…

Tình hình Hà Nội trở nên rất căng thẳng khi quân Pháp kéo vào. Bà Hoàng Thị Nga, Tiến sĩ vật lý, Giám đốc Đại học Khoa học Hà Nội, xin sang Pháp “định cư vì việc riêng”. GS Nguyễn Thúc Hào được cử làm Quyền Giám đốc. Ông sắp xếp lại tổ chức, ổn định tư tưởng cho sinh viên, rồi mời thầy đến dạy. Nhiều nhà khoa học quen biết nhận lời: Tạ Quang Bửu, Nguỵ Như Kon Tum dạy vật lý; Hoàng Xuân Hãn dạy toán…

Lớp toán học bậc đại học duy nhất thời chống Pháp

Đêm 19/12/1946, đèn Hà Nội vụt tắt. Cuốc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Theo chỉ thị của cấp trên, GS Hào tạm lánh về quê. Tháng 2/1947, nhận được công văn của Bộ: Cần mở ngay lớp Toán học đại cương! Thế là, chỉ hai tháng sau khi cả nước đứng lên đánh trả bọn xâm lược, ở một làng quê Nam Đàn (Nghệ An), lớp Toán học đại cương khóa I khai giảng trong một gian nhà gạch bên dòng Lam trong biếc. Sinh viên chỉ có 5 người.

Cũng vào thời điểm ấy, GS Nguyễn Xiển mở một lớp Toán học đại cương khác ở Đại Điền (Vĩnh Yên), có 10 sinh viên. Tháng 10/1947, quân Pháp tiến công lên, lớp này đình giảng.

GS Hiệu trưởng Trường đại học Sư phạm Vinh Nguyễn Thúc Hào (phải) hướng dẫn Thủ tướng Phạm Văn Đồng đi thăm trường.

GS Hiệu trưởng Trường đại học Sư phạm Vinh Nguyễn Thúc Hào (phải) hướng dẫn Thủ tướng Phạm Văn Đồng đi thăm trường.

Ở Nam Đàn, đến các khoá II, III, IV, lớp Toán học đại cương chuyển lên gần làng Đan Nhiễm, quê hương cụ Phan Bội Châu. Số sinh viên lên tới 20 người, học trong ngôi nhà thờ họ ba gian hai chái của ông Chắt Cừ, không xa núi Ghềnh nhiều hoa sim tím.

Để khỏi lộ địa điểm lớp học, GS Hào liên lạc với Bộ qua địa chỉ bí mật: Ông Nguyễn Tứ Đức, bưu cục Nam Đàn, Nghệ An.

- Tại sao tôi lại tự đặt cho mình cái bí danh Nguyễn Tứ Đức? – GS Hào kể. Cha tôi là một nhà nho đỗ đại khoa, cho nên chúng tôi đều được dạy bảo từ thuở bé rằng tứ đức của con trai là hiếu, đễ, trung, tín; còn tứ đức của con gái là công, dung, ngôn, hạnh. Tuy nhiên, hai chữ Tứ Đức mà tôi chọn làm bí danh không phải là thứ tứ đức quen thuộc ở chốn “cửa Khổng, sân Trình”, mà là cần, kiệm, liêm, chính. Đức độ của Bác Hồ đã cảm hoá tôi…

Một anh tú tài từng học thầy Hào tại Trường Quốc học Huế, nay dạy Trường trung học Lê Khiết ở Quảng Ngãi, không thể vượt Trường Sơn ra Nghệ An, thụ giáo thầy. Anh biên thư xin thầy tài liệu để tự học. Nghe đâu anh là cháu nội cụ Phó bảng Hoàng Diệu, vị Tổng đốc Hà Ninh đã tuẫn tiết bên cửa thành thất thủ hồi thế kỷ 19. Đến cuối khoá, anh xin dự kỳ thi tốt nghiệp… từ xa! Và anh đã đỗ. Về sau, anh trở thành một nhà toán học nổi tiếng thế giới, được coi là “cha đẻ của tối ưu toàn cục”: Hoàng Tuỵ.

Số sinh viên toán học đại cương ngày ấy không nhiều. Nhưng đó đều là những con người được “lửa thử vàng, gian nan thử sức” nên về sau hầu hết trở thành những nhà khoa học, nhà trí thức có tiếng như: Nguyễn Đình Tứ, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Hoàng Phương, Hà Học Trạc, Nguyễn Văn Cung, Hà Văn Mạo, Nguyễn Hữu Chỉnh, Đinh Ngọc Lân, Trịnh Ngọc Thái, Lê Hải Châu, Lê Thạc Cán, Nguyễn Mậu Tùng, Cung Quang Chương, Đinh Ngọc Cẩn, Lê Nguyên Sóc, Nguyễn Trọng Di…

Trải bao “dâu bể” vẫn tận tuỵ với nghề

Từ năm 1951 đến 1954, Trường Dự bị đại học, rồi Trường Sư phạm cao cấp mở tại Thanh Hoá. GS Nguyễn Thúc Hào được Bộ cử vào Ban Giám đốc cùng các vị Trần Văn Giàu, Đặng Thai Mai, Đặng Xuân Thiều và Nguyễn Mạnh Tường.

Năm 1954, hoà bình lập lại trên miền bắc. GS Nguyễn Thúc Hào trở về Hà Nội, cùng GS Lê Văn Thiêm dạy toán tại Trường Đại học Khoa học và Trường Đại học Sư phạm Khoa học. Rồi ông được cử làm Phó Hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội. Các anh Nguyễn Văn Hiệu, Vũ Đình Cự, Nguyễn Văn Đạo, Phan Đình Diệu, Nguyễn Đình Trí, Hoàng Hữu Đường, Phan Đức Chính, Văn Như Cương, Đoàn Quỳnh, Nguyễn Văn Ba,… được học toán thầy Hào vào dạo ấy.

Lê Văn Thiêm và Nguyễn Thúc Hào là hai nhà toán học đầu tiên được Nhà nước ta công nhận chức danh giáo sư đại học.

Tận tuỵ với nghề, GS Hào biên soạn nhiều bộ giáo trình: Hình học giải tích, Hình học vi phân, Giải tích, Hình học vectơ, Hình học tuyến tính. Trong nhiều năm liền, ông còn dịch sang tiếng Việt 14 cuốn sách toán từ ba thứ tiếng Nga, Anh, Pháp, thí dụ: Giải tích tenxơ và hình học Riemann của Rashevsky, Cơ sở lý thuyết mặt của Kagan (từ tiếng Nga); Không gian, thời gian, vật chất của H. Weyl, Toán Ricci của J. A. Schouten (từ tiếng Anh); Không gian liên thông xạ ảnh của Élie Cartan, Xác suất và ứng dụng của H. Cramer, Thuyết tương đối và điện động lực học của A. Lichnerowicz (từ tiếng Pháp)…

Người khai sinh Trường đại học Vinh

Năm 1959, GS Nguyễn Thúc Hào được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường đại học Sư phạm Vinh (tiền thân của Trường đại học Vinh ngày nay). Đây là trường đại học đầu tiên trên miền bắc mở tại một “tỉnh lẻ”.

Từ tháng 8/1964, Vinh – Bến Thuỷ bị Mỹ giội bom huỷ diệt. Trong vòng 18 tháng, 4 lần trường di chuyển: Từ Vinh ra Nghi Lộc, lên Thanh Chương (Nghệ An); rồi từ Thanh Chương ra tận Hà Trung, Thạch Thành (Thanh Hoá). Hàng nghìn sinh viên, cán bộ dắt díu theo hàng trăm cháu bé, vận chuyển mấy vạn cuốn sách, mấy trăm tấn thiết bị, “hành quân” an toàn qua hơn 300 kilomet, vượt nhiều “trọng điểm” bị địch đánh phá ngày đêm…

Thầy Hiệu trưởng, tuổi ngót lục tuần, vẫn trèo đèo, lội suối đến từng khoa cách xa hiệu bộ cả chục kilomet, lo toan cho từng cái lán học, căn hầm trú ẩn, gian bếp ăn với gạo, mì, mắm, muối… Bận rộn thế, nhưng thầy vẫn dành thời gian bồi dưỡng toán chuyên đề cho các đồng nghiệp trẻ; nhiều người về sau trở thành giáo sư, tiến sĩ.

Vợ con thầy sống kham khổ như mọi người, cũng ăn cơm độn sắn, độn khoai, cũng tự mình đào hầm tránh bom. Thầy xắn quần lội bùn đến lớp, băng rừng tới dự những đêm liên hoan văn nghệ của sinh viên.

Biết bao công việc âm thầm ở “tỉnh lẻ”, chẳng được báo, đài trung ương “ngó ngàng” tới để phản ánh, biểu dương… Thầy Hào sống như một “ẩn sĩ chốn thâm sơn cùng cốc”. Chỉ còn một nét tài hoa kinh kỳ mà đêm đêm người dân miền sơn cước Thạch Thành vẫn còn cảm nhận được, đó là tiếng đàn violin réo rắt nhạc Mozart, Beethoven – “ngón đàn” mà thầy đã học được từ thuở trẻ mộng mơ giữa Paris hoa lệ…

Sau 7 năm sơ tán, trường lại trở về Vinh. Nhưng, cay đắng thay, cơ ngơi bao năm đổ mồ hôi xây đắp đã bị máy bay Mỹ giội bom phá đổ tan tành! Phải làm lại từ đầu!…

Năm 1976, thầy Hào về hưu, chuyển ra Hà Nội, sống cùng các con.

GS, TSKH Phan Đình Diệu viết bài thơ Mừng Thầy kính tặng thầy Hào năm thầy thọ 70:

Một tấm gương trong giữ vẹn tròn

Sá bao công lội suối trèo non

Tay dù trắng, đẹp đời trong trắng

Lòng vẫn son, bền chí sắt son

Từng trải nắng mưa, lo nghiệp lớn

Giờ vui mây nước, mảnh tình con

Đời còn sương bụi bao mờ tỏ

Xin hãy long lanh ánh nguyệt tròn.

Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Thúc Hào qua đời ngày 10/6/2009, thọ 97 tuổi, trong nỗi tiếc thương vô hạn của hàng vạn học trò gần xa.

Mới đây, PGS, TS Văn Như Cương viết bài thiết tha đề nghị đổi tên Trường đại học Vinh thành Trường đại học Nguyễn Thúc Hào.

Hàm Châu

Tham nhũng cản bước giáo dục

Bộ GD – ĐT thừa nhận tiêu cực trong giáo dục còn nhiều, kìm hãm sự phát triển của ngành này. Hàng loạt sai phạm đã bị xử lý trong thời gian qua cho thấy quyết tâm bài trừ tham nhũng của ngành GD – ĐT

Gần nửa năm sau hội nghị đối thoại phòng, chống tham nhũng lần 7 với các nhà tài trợ quốc tế, ngày 16-11, tại Hà Nội, Bộ GD – ĐT tổ chức hội thảo “Tiến triển của công tác phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực GD – ĐT” với các chuyên gia trong và ngoài nước.
 
Ông Phạm Văn Tại, Phó Chánh Thanh tra Bộ GD-ĐT, cho biết thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD-ĐT đã xây dựng một chương trình hành động, theo đó đến hết năm 2010, tất cả trường học đều phải hoàn tất kế hoạch thực hiện chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020.
 
“Nóng” tuyển sinh, lạm thu
 
Ông Tại đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng trong ngành giáo dục đã có những chuyển biến tích cực, song trên thực tế vẫn đang tồn tại, đặc biệt là tiêu cực trong tuyển sinh và lạm thu đầu năm học.
 
Đầu năm học 2010 – 2011, nhiều phụ huynh lớp 1 của Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ (quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng) đã bức xúc phản ánh việc Ban Đại diện Cha mẹ học sinh vậnđộng phụ huynh đóng góp mua tivi màn hình tinh thể lỏng thay cho tivi đã có sẵn trong phòng học cùng các trang thiết bị khác với tổng kinh phí dự chi hơn 20 triệu đồng, bình quân mỗi phụ huynh phải đóng góp tối thiểu 500.000 đồng.
 
Cũng tại TP Đà Nẵng, Chi hội Khuyến học Trường Trần Văn Ơn (quận Hải Châu) đã tổ chức vận động cha mẹ học sinh gây quỹ khuyến học gây bức xúc cho nhiều phụ huynh khiến UBND TP ra văn bản nghiêm khắc phê bình ban giám hiệu nhà trường, yêu cầu UBND quận Hải Châu kiểm tra, có hình thức kiểm điểm đối với các cá nhân liên quan, đồng thời hoàn trả khoản tiền phụ huynh học sinh đã đóng góp.
 
 
Các chuyên gia giáo dục đánh giá tuyển sinh đầu cấp là mảng dễ xảy ra tiêu cực.
Trong ảnh: Nộp hồ sơ thi tuyển vào lớp 10 tại một trường ở TPHCM. Ảnh: Tấn Thạnh
 
Gần đây nhất, dư luận hết sức bất bình vì trên 200 học sinh ở TP Hải Phòng không đủ điểm vào các trường THPT công lập được đặc cách vào học lớp 10. Khi đưa các học sinh này vào danh sách đặc cách, Sở GD – ĐT Hải Phòng cho biết đây là những “con, cháu gia đình chính sách, lão thành cách mạng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, những cháu mồ côi, những cháu là vận động viên có tham gia đội tuyển TP thi đấu toàn quốc, có công với TP, có công với ngành GD – ĐT nói chung và giáo dục Hải Phòng nói riêng”, song trên thực tế, nhiều học sinh là con giám đốc doanh nghiệp, con chủ tịch UBND phường… Thêm nữa, lãnh đạo UBND TP Hải Phòng chỉ đồng ý đặc cách những học sinh thiếu điểm không quá 1 điểm so với điểm chuẩn, thế nhưng thực tế có học sinh thiếu đến 2,5 điểm vẫn được duyệt vào học lớp 10…
 
Nhiều sai phạm bị xử lý
 
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thị Nghĩa thẳng thắn nhìn nhận: Tham nhũng chính là rào cản kìm hãm sự phát triển của giáo dục. Vì vậy, mọi hoạt động của ngành giáo dục luôn hướng đến sự công khai, minh bạch để lành mạnh hóa môi trường giáo dục, đẩy lùi tham nhũng.
 
Bà Nghĩa cho biết thanh tra bộ đã đình chỉ tuyển sinh năm 2010 của 2 cơ sở giáo dục ĐH vì có nhiều sai phạm trong quản lý đào tạo là Trường ĐH Phan Châu Trinh (Quảng Nam) và Trường ĐH Công nghệ Đông Á (Bắc Ninh).
 
Những khiếu nại, tố cáo tại Trường ĐH Nông Lâm TPHCM và Trường ĐH Đà Lạt cũng đã được xác minh, giải quyết. Tỉnh Thừa Thiên – Huế cũng đang xem xét xử lý sai phạm của Trường THPT Nguyễn Trường Tộ và Trường THPT Bùi Thị Xuân vì thu đầu năm sai quy định.
 
Sở GD-ĐT tỉnh Ninh Thuận đã buộc thôi việc một chuyên viên công tác tại Phòng Tổ chức cán bộ Sở GD-ĐT tỉnh Ninh Thuận vì có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi.

Cần sự tham gia của phụ huynh

Trả lời câu hỏi của các chuyên gia về giải pháp hạn chế nạn “chạy trường”, tình trạng dạy thêm – học thêm…, ông Phạm Văn Tại khẳng định những kiến nghị, phản ánh của phụ huynh và dư luận xã hội về học thêm – dạy thêm tràn lan đều bị xử lý; việc bắt ép học sinh đi học thêm cơ bản không còn.
 
Dù vậy, cũng theo ông Tại, việc buộc con phải đi học thêm là vì tâm lý lo ngại của phụ huynh vẫn đang tồn tại.
 
Ông Tại cho rằng bên cạnh việc tìm giải pháp hạn chế vấn đề này của các cấp quản lý giáo dục, phụ huynh cũng phải bỏ dần suy nghĩ “không học thêm thì sẽ bị giáo viên trù dập”.
 
Về tuyển sinh đầu cấp, trái tuyến – “mảnh đất” mà các chuyên gia cho rằng rất dễ xảy ra tham nhũng – ông Phạm Văn Tại thừa nhận việc tuyển sinh vào lớp 10 đối với các trường THPT công lập, đặc biệt là trường có chất lượng tốt, đang là áp lực rất lớn đối với nhiều trường, tình trạng chạy trường vẫn xảy ra…

Bài đăng phổ biến