Hiển thị các bài đăng có nhãn Doimoi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Doimoi. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011

Giáo dục phổ thông: Chú trọng dạy làm người

Cải thiện mức lương để thầy không phải "sống mòn"; Giáo viên sư phạm phải được tuyển chọn, đào tạo nghiêm túc; Giảm tải chương trình học, thay đổi mục tiêu giáo dục phổ thông là dạy làm người; Nhà giáo là nhà khoa học được giảng dạy theo phương cách riêng.

Những vấn đề về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông đã được các nhà nghiên cứu, nhà quản lý giáo dục trao đổi tại hội thảo do Trường ĐH Sư phạm TP.HCM tổ chức hôm 15/4.

“Chừng nào người thầy giáo còn dành thời gian dạy thêm để tăng thu nhập, chừng nào mà nhân cách của người thầy giáo còn bị tiền bạc, vật chất cám dỗ thì chừng đó đổi mới giáo dục phổ thông không thể thành công” - TS Đoàn Hữu Hải, Trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, phát biểu.

Giáo viên “sống mòn”: Khó đổi mới giáo dục

GS-TSKH Lê Ngọc Trà phân tích: Vấn đề thiết yếu nhất, thậm chí có tính chất quyết định để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông là vấn đề lương giáo viên và người làm công tác giáo dục. Chúng ta muốn các thầy cô giáo hết lòng vì sự nghiệp giáo dục nhưng đồng lương trả cho họ lại không đủ sống. Không thay đổi tình trạng hiện nay, mọi ý định và kế hoạch dù tốt đẹp đến đâu cũng sẽ khó mang lại kết quả thực tế.

Cùng quan điểm, PGS-TS Trần Hữu Tá nêu: “Chất lượng đào tạo giáo viên chỉ có thể đáp ứng đúng mức yêu cầu khi mà đội ngũ giảng viên sư phạm được đãi ngộ, đầu tư xứng đáng. Họ phải được tạm yên tâm về vấn đề kinh tế, không đến nỗi lâm cảnh sống mòn (hiện tiến sĩ cũng chỉ nhận lương tháng non 3 triệu đồng), luôn bị nợ áo cơm ghì sát đất! Quan trọng hơn, họ không sợ bị bào mòn về chuyên môn, được tiếp tục học tập, bồi dưỡng cho những bậc cao hơn, ở những lớp tập huấn dài hạn có chất lượng cả trong và ngoài nước”.

Học sinh Trường THPT Lê Quý Đôn (TP.HCM) trong một giờ học.

PGS-TS Bùi Mạnh Hùng, Phó Trưởng khoa Ngữ văn, cho biết: “Chất lượng giáo viên phản ánh đầy đủ nhất tiềm lực của một nền giáo dục. Giả sử một thảm họa nào đó, trường học bị cuốn trôi, chương trình và sách giáo khoa bị cháy rụi, thầy và trò phải ra đồng dựng lều mà dạy học thì vẫn còn có hy vọng về một nền giáo dục tốt nếu có những người thầy thạo nghề và tâm huyết. Còn nếu một nền giáo dục mà mọi thứ đều “hoành tráng”, chỉ trừ ông thầy, vốn chỉ là những học sinh phổ thông trung bình, vào nghề với sự bất đắc dĩ, vừa dạy học, vừa bươn chải kiếm sống thì có thể nói một cách quả quyết là nền giáo dục đó không có tương lai”.

GS-TSKH Lê Ngọc Trà đề nghị: “Không có thầy giỏi sẽ không có trò giỏi. Những tư tưởng mới, những phương pháp mới phải bắt đầu ở các trường ĐH sư phạm, ở nơi đào tạo các thầy giáo tương lai”. PGS-TS Trần Hữu Tá đồng tình: “Những sản phẩm của các trường ĐH sư phạm chỉ thực sự ưu hạng khi ngay từ khâu tuyển sinh đã thu hút được học sinh giỏi. Đồng thời, sau khi tốt nghiệp ra trường nhất thiết phải có việc làm và phải sống được bằng lương như Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã từng đoan quyết thì mới níu chân được người giỏi”.

Đổi mục tiêu, giảm chương trình

Đóng góp về đổi mới giáo dục phổ thông, TS Huỳnh Thanh Triều, Phó Hiệu trưởng, nói: “Chương trình phổ thông của chúng ta quá nặng, đòi hỏi của chúng ta đối với học sinh quá cao. Tôi nghĩ giáo dục phổ thông nên thiên về hình thành con người hơn là vội vàng đào tạo nhân tài. Nhiều phát biểu của học sinh đã tốt nghiệp phổ thông du học ở nước ngoài khiến tôi phải suy nghĩ: Sang đây con mới thấy thế nào là đi học…”. GS Lê Ngọc Trà đồng tình: “Cần xác định lại mục tiêu đào tạo của chúng ta là đào tạo con người. Tôi đề nghị phải kiên quyết cắt giảm nội dung và liều lượng kiến thức được giảng dạy, khắc phục tình trạng quá tải ở trường phổ thông hiện nay. Đồng thời, phải biện luận lại sách giáo khoa theo hướng hiện đại, cho phép giáo viên được sử dụng nhiều bộ sách giáo khoa để dạy”.

TS Triều đề xuất: “Không nên quản lý chương trình giáo dục phổ thông một cách quá chặt như hiện nay. Nên để cho trường có quyền quyết định nội dung, phương pháp giảng dạy và lịch trình cho hoạt động của mình. Giáo viên phổ thông cũng là những nhà khoa học nên dành cho họ quyền tư duy và hành động theo phương cách riêng của mình”.

PGS.TS Trần Hữu Tá:

Phải đổi mới từ trường sư phạm

Tình trạng “cơm chấm cơm”, thậm chí “cơm nguội chấm cơm nát”, như cách nói phổ biến của 50 năm trước, không ngờ đến nay vẫn tồn tại dai dẳng ở nhiều cấp học, nhiều địa phương, thậm chí còn đáng lo ngại hơn. Các trường ĐH làm nhiệm vụ đào tạo giáo viên hiện nay đội ngũ giáo viên vừa thiếu vừa yếu (cử nhân lên lớp đào tạo cử nhân), đặc biệt thiếu cán bộ khoa học đầu đàn để giúp đỡ giảng viên trẻ và để đáp ứng yêu cầu đào tạo ngày càng cao về chất lượng. Hậu quả của tình trạng này thật đáng sợ.

GS-TSKH Lê Ngọc Trà:

Xây dựng ĐH sư phạm trọng điểm

Phải xây dựng hai hay ba ĐH sư phạm trọng điểm như là nơi đào tạo giáo viên có tính chất chuẩn mực, chất lượng cao. Tuyệt đối không nên biến các ĐH sư phạm trọng điểm hiện nay thành các ĐH đa ngành. Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Nga và nhiều nước tiên tiến trên thế giới hiện nay vẫn giữ những trường ĐH sư phạm chuyên ngành theo kiểu này.

Theo Quốc Dũng

Pháp luật TPHCM

Sử dụng Bảng thông minh chi phí thấp trong dạy học

- Dạy học là một quá trình sáng tạo, đòi hỏi giáo viên cũng phải không ngừng sáng tạo, tìm tòi những phương pháp mới để nâng cao hiệu quả của giáo dục. Một điều kiện cần cho việc đổi mới đó chính là việc sử dụng thiết bị và đồ dùng dạy học. Ở nước ta, việc đổi mới phương pháp giảng dạy luôn là vấn đề cấp thiết trong điều kiện nước nhà còn khó khăn, ngành giáo dục còn nhiều thiếu thốn về cả cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên. Do đó, việc sử dụng thiết bị sao cho hiệu quả cao nhất và chi phí thấp nhất luôn là vấn đề được toàn ngành giáo dục quan tâm.

- Với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và internet như hiện nay đã góp phần rất lớn trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường phổ thông của tất cả các nước trên thế giới. Ngày nay, việc sử dụng máy chiếu vật thể, máy chiếu đa phương tiện (Projector) cũng không còn xa lạ đối với giáo viên. Tuy nhiên, trong hoạt động dạy học thì người giáo viên luôn là trung tâm của sự chú ý, do đó nếu giáo viên quá phụ thuộc vào việc trình chiếu, không thoát ly được chiếc máy tính thì sẽ gây mất tập trung cho học sinh. Việc theo dõi con trỏ chuột trên màn hình sẽ gây mệt mỏi cho các em. Để khắc phục các nhược điểm đó của thiết bị, các công ty điện tử và các tập đoàn giáo dục luôn tìm tòi, sáng tạo và thiết bị bảng tương tác (Bảng thông minh, SmartBoard) ra đời. Thiết bị này có thể coi là một cuộc cách mạng trong giáo dục, bởi vì nhờ nó người học có thể tương tác với bài giảng của giáo viên như bảng đen thông thường, đồng thời cũng dễ dàng tiếp cận được hình ảnh đa phương tiện giúp bài học trở nên sinh động hơn, dễ tiếp thu hơn. Thông qua phần mềm dạy học và kết nối với mạng Internet, cả người dạy và người học đều có thể tiếp cận được kho dữ liệu không lồ của nhân loại. Giáo viên mọi nơi có thể cùng đóng góp, chia sẻ nhau những tư liệu giáo dục, kinh nghiệm giảng dạy; người học thông qua kho dữ liệu đó để hình thành kiến thức cho mình. Tuy nhiên, mỗi thiết bị như thế giá không hề rẻ, hiện nay giá của thiết bị này thấp nhất là 1200 USD, hơn nữa phải lắp cố định tại một phòng học gây bất tiện cho việc giảng dạy của giáo viên. Hiện nay, trên thị trường cũng đã có loại máy chiếu tương tác, tuy có cơ động hơn nhưng giá cũng không hề rẻ. Nếu giả sử Bộ Giáo dục đầu tư cho mỗi trường một bảng tương tác thì chi phí trang bị sẽ rất lớn. Hơn nữa mỗi trường chỉ một vài phòng lắp thiết bị này thì liệu đáp ứng được bao nhiêu phần trăm nhu cầu của giáo viên? Như vậy một giáo viên bình thường, có thu nhập bình thường bao giờ mới tiếp cận được công nghệ này?

- Hiện nay, có một loại thiết bị có thể giúp biến màn chiếu thông thường thành bảng tương tác với chức năng không hề thua kém bảng tương tác thật sự, và đặc biệt giá rất phù hợp với thu nhập của đa số giáo viên ở nước ta. Đồng thời nó rất tiện lợi cho việc sử dụng, có thể lắp đặt bất cứ đâu. Trong điều kiện như hiện nay, đa số các trường đều đã được trang bị ít nhất một máy Projector, nếu mỗi máy chiếu được kèm thêm thiết bị này thì sẽ biến màn chiếu thông thường thành một bảng tương tác thật sự theo đúng nghĩa.

3 thiết bị này có thể biến màn chiếu thông thường thành bảng tương tác được

- Thiết bị nói trên chính là tay điều khiển của máy chơi game Nintendo, có tên là Wiimote hay Wii Remote. Thiết bị được nối với máy tính thông cổng bluetooth, được điều khiển bằng phần mềm miễn phí WiimoteWhiteboard do Johnny Lee phát triển (hoặc dùng phần mềm Smoothboard 0.4.6 beta thay thế). Khi ta dùng máy Projector chiếu lên tường hay một bề mặt phẳng, với sự hỗ trợ của thiết bị này cùng với bút hồng ngoại thì người dùng có thể tương tác được với máy tính trên chính màn hình chiếu. Và do đó, giáo viên có thể tổ chức được quá trình dạy học mà học sinh có thể tương tác được với bài giảng của mình. Đồng thời giáo viên cũng thoát ly được bàn phím và con chuột, quá trình dạy học của giáo viên kết hợp được ưu điểm của phấn trắng, bảng đen truyền thống và hệ thống đa phương tiện hiện đại tạo hiệu quả tối đa cho việc đổi mới phương pháp của giáo viên, đáp ứng được yêu cầu đề ra.

HƯỚNG DẪN CÁCH SỬ DỤNG

1. Các thiết bị cần có để tạo bảng thông minh:

- Máy chiếu đa phương tiện (Projector): Các trường đều đã được trang bị.

- Thiết bị Wiimote (tay cầm của máy Game Nintendo): Giá bán khoảng 650.000 đồng -750.000 đồng.

- Cổng Bluetooth USB (nếu máy không hỗ trợ kết nối bluetooth): Giá bán khoảng 120.000 đồng – 180.100 đồng.

- Bút hồng ngoại (tự tạo): Xem tài liệu hướng dẫn tạo bút hồng ngoại.

- Phần mềm Smoothboard 0.4.6 beta (miễn phí, nếu sử dụng phiên bản mới hơn phải mua bản quyền)

2. Cách kết nối Wiimote với máy tính:

- Khởi động chương trình điều khiển Bluetooth từ khay hệ thống bằng cách nhấp đúp vào biểu tượng Bluetooth (Trong bài viết này, tôi xin giới thiệu với Thầy cô cách sử dụng phần mềm BlueSoleil 6.4.249.0).

- Nhấp đôi vào biểu tượng Search Devices trong cửa sổ hiện ra

- Đồng thời nhấn cả hai phím 1 và 2 trên thiết bị Wiimote, khi đó ta thấy 4 đèn màuxanh trên Wiimote nhấp nháy.- Chờ cho máy tính tìm thiết bị, nếu tìm thấy thì trên màn hình sẽ xuất hiện biểu tượng của Wiimote. Nhấp đúp vào biểu tượng của Wiimote trên màn hình thì biểu tượng My Device sẽ đổi sang màu xanh lá, nếu như kết nối thành công thì 4 đèn màu xanh của Wiimote sẽ nhấp nháy liên tục. Kể từ lần thứ hai trở đi, để kết nối Wiimote với máy tính chỉ cần nhấn phím 1 và 2 trên Wiimote và nhấp đúp vào biểu tượng Nintendo RVL-CNT-01 (xem hình).

image

- Khởi động chương trình Smoothboard 0.4.6 beta (chú ý: máy tính phải được cài đặt Net Framework 3.5 mới chạy được phần mềm Smoothboard). Nếu kết nối thành công thì trên giao diện của Smoothboard sẽ có dòng báo mức pin của Wiimote và trên Wiimote chỉ còn đèn số 1 luôn sáng

3. Cách sử dụng Wiimote:

- Trong giao diện của Smoothboard, chọn ở nhóm Mode Whiteboard và ở Load chọn W-Extra Smoothing. Và nhấp nút Quick Calibration (Wiimote Button A) hoặc nhấn nút A trên thiết bị Wiimote để vào màn hình định vị.

- Đặt Wiimote cách xa màn hình chiếu khoảng 3-4 mét, bộ phận thu sóng hồng ngoại của

Wiimote nhìn về màn chiếu một góc từ 300 – 600 và hướng vào tâm của màn chiếu.

- Dùng bút hồng ngoại định vị 4 góc của hình chữ nhật xác định vùng làm việc của Wiimote.

clip_image002[5]

Dùng bút hồng ngoại chấm vào biểu tượng này

- Thu nhỏ cửa số của Smoothboard xuống khay hệ thống, khi đó ta đã có thể sử dụng bút hồng ngoại để điều khiển máy tính thay cho chuột.

Sử dụng bảng tương tác thao tác với phần mềm Geoplan-Geospace

- Do bút hồng ngoại chỉ có 1 công tắc nên công tắc này thay cho phím chuột trái, nhấp đôi bằng cách bấm đôi vào công tắc. Để nhấp phải, nhấp vào biểu tượng  dưới khay hệ thống, khi đó biểu tượng đổi thành  và chỉ có tác dụng cho một lần nhấp.

- Trong quá trình sử dụng phải đảm bảo Wiimote luôn “nhìn thấy” đầu bút hồng ngoại khi ta tương tác với bảng, nếu Wiimote bị xê dịch hoặc con trỏ chuột không còn chính xác tại vị trí đầu bút thì cần định vị lại vùng làm việc của Wiimote (bằng cách nhấn nút A trên Wiimote).

NG DẪN TẠO BÚT HỒNG NGOẠI (IR PEN)

(Giúp sử dụng thiết bị Wiimote tạo bảng tương tác)

Việc sở hữu một Bảng tương tác (Bảng tương tác) luôn là một niềm mơ ước của tất cả các giáo viên yêu công nghệ và luôn tìm tòi để đổi mới phương pháp trong giảng dạy. Nhưng với giá như hiện nay thì mỗi bảng tương tác có giá không dưới 1200 USD (gần bằng lương trong 1 năm của giáo viên mới ra trường), hoặc nếu đầu tư cho máy chiếu tương tác thì số tiện cũng không ít, điều này vượt xa tầm với của đa số giáo viên Việt Nam. Nhưng có một thiết bị đơn giản, rẻ tiền nhưng lại có thể giúp giáo viên biến một màn hình chiếu thông thường thành một bảng tương tác thực thụ, đó chính là tay cầm điều khiển của máy chơi game Nintendo (thường gọi là Wiimote hay Wii Remote). Thông qua phần mềm điều khiển có tên là WiimoteWhiteboard được phát triển bởi Johnny Lee và được kết nối với máy vi tính qua sóng Bluetooth, kết hợp với một cây bút hồng ngoại (IR pen) thì giáo viên sẽ có được một bảng tương tác thực thụ với chi phí rất thấp – dưới 1 triệu đồng VN. Vì vậy thiết bị này rất phù hợp với đặc điểm của ngành giáo dục nước ta hiện nay.

Hình 1. Chỉ cần 3 thiết bị này kết hợp với máy vi tính và máy chiếu ta có thể biến màn chiếu thông thường thành bảng tương tác

- Thật ra thiết bị này đã được Johnny Lee thử nghiệm và giới thiệu trên Website: uweschmidt.org/wiimote-whiteboard, Quý thầy cô có thể lên Google và search với từ khóa WiimoteWhiteboard thì sẽ có hàng chục videoclip nói về thiết bị này. Tuy nhiên, có lẽ do ngại thiết bị khó sử dụng và chi phí đầu tư cho bảng tương tác không quá cao so với thu nhập của giáo viên nên ta ít thấy giáo viên nước ngoài sử dụng thiết bị này trong dạy học. Còn ở Việt Nam, trung tâm Seameo đã thử nghiệm và soạn các bài giảng phù hợp với thiết bị này và hiện nay đã đưa vào sử dụng đại trà cho việc giảng dạy của giáo viên tại trung tâm.

Thiết bị Wiimote có thể dễ dàng tìm mua tại các cửa hàng bán thiết bị trò chơi điện tử. Tuy nhiên tại Thành phố Hồ Chí Minh chưa thấy nơi nào bán bút hồng ngoại (Infrared pen) để sử dụng thiết bị này. Còn lên Internet tìm kiếm ta có thể thấy nhiều videoclip hướng dẫn chế tạo bút này, nhưng tất cả đều là Tiếng Anh nên cũng phần nào gây khó khăn cho thầy cô. Do đó, để thiết bị này sớm được sử dụng rộng rãi trong giảng dạy, chúng xin giới

thiệu đến Quý thầy cô tham khảo cách chế tạo bút này, hy vọng sẽ tạo nên một hướng mới

cho việc sử dụng thiết bị trong giảng dạy ở trường phổ thông.

I. Các vật dụng cần thiết:

Để sử dụng thiết bị thì cần có những vật dụng sau:

Hình 2. Các vật dụng cần thiết

Hình 3. Các vật dụng cần thiết

(1) 01 chai keo 502

(2) 01 bút bảng trắng.

(3) 01 bóng đèn Led phát hồng ngoại (IR Led)

(4) 20 cm dây điện nhỏ, loại dây đôi.

(5) 01 viên pin AAA (loại tốt)

(6) 01 công tắc nhấn.

(7) 01 cuộn chì hàn

(8) 01 dao rọc giấy.

(9) 01 mũi hàn điện.

Các vật dụng trên (trừ keo 502, dao rọc giấy và bút bảng trắng) đều có thể mua tại các cửa

hàng bán linh kiện điện tử ở chợ Nhật Tảo (Tp Hồ Chí Minh) với giá rất rẻ.

II. Các bước tiến hành:

1. Dùng kềm gỡ bỏ ngòi bút và ruột của bút bảng trắng, chỉ giữ lại phần thân vỏ và nắp bút

Hình 4

2. Dùng mũi hàn điện và dao rọc giấy để khoét trên thân bút một lỗ hình vuông sao cho vừa khít với công tắc:

Hình 5

3. Tách đôi đoạn dây điện ra, sợi dây màu cắt làm hai đoạn không bằng nhau (7cm+13cm). Sau đó hàn nối hai phần vừa cắt ra và công tắc:

Hình 6

Chú ý: Hàn dây điện vào hai góc chéo nhau của công tắc (nếu là loại công tắc 4 chân)

Hình 7

4. Luồn hai đầu sợi dây của công tắc vào lỗ trên thân bút, đầu dây ngắn về phía ngòi bút. Đặt công tắc vào lỗ và dùng keo 502 dán để cố định công tắc vào thân bút.

Chú ý: Trong quá trình thao tác, nên cẩn thận đừng để keo dán dính vào bề mặt của công tắc, tránh trường hợp làm xong công tắc … không nhấn được!

Hình 8

Hình 9

5. Hàn đoạn dây điện còn lại (màu trắng) vào chân âm (-) của bóng đèn led hồng ngoại. Sau đó luồn dây vào trong thân bút và tiếp tục hàn chân dương (+) của đèn led vào đầu dây phía ngòi bút của công tắc.

Chú ý:

- Có nhiều loại đèn led khác nhau, chúng ta sử dụng đèn led hồng ngoại loại phát. Nên dùng loại bóng lớn để cho tín hiệu được mạnh.

- Chân dương của đèn led là chân nhỏ (ở trong bóng đèn)

Hình 10

Hình 11

6. Hàn hai đầu dây điện của bút vào viên pin AAA, chú ý dây nối công tắc vào cực dương của pin.

Chú ý: Ở đây ta hàn cố định viên pin vào bút, do đó nên chọn loại pin tốt (khoảng 15.000 đồng – 20.000 đồng/cặp) để sử dụng được lâu. Còn nếu muốn thay được pin thì chỉ cần tìm mua thiết bị giữ pin để gắn vào hoặc tự chế bằng loại vỏ bút khác sao cho có thể đặt vừa vn vào thân bút. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chi xin giới thiệu với Quý thầy cô cách làm này cho nhanh và dễ làm.

Hình 12

Hình 13

Hình 14

Hình 15

7. Đặt viên pin đã hàn vào thân bút, đậy nút của đuôi bút lại ta được một bút hồng ngoại hoàn chỉnh.

Hình 16

Hình 17

Với cách làm này chỉ cần chi phi rất thấp (khoảng 15.000 đồng cho 1 cây bút) ta đã có thể sử dụng được thiết bị Wiimote để tạo bảng tương tác. Còn nếu bỏ tiền ra mua bút, các bạn phải mất 8.0 USD và phải nhờ mua ở … nước ngoài, nhưng cũng không nhạy bằng bút tự chế này.

Tài liệu này chúng tôi biên soạn nhằm mục đích chia sẻ với quý Thầy Cô một cách không vụ lợi, nên nếu có phổ biến xin giữ quyền tác giả và cũng rất mong đừng dựa vào tài liệu này để kinh doanh thiết bị bút hồng ngoại tự chế để tư lợi các nhân như một số giáo viên đã làm.

Xin cảm ơn và chúc Quý thầy cô thành công!

Nguyễn Thanh Nhàn, GV Trường THPT Ngô Gia Tự, Gò Dầu, Tây Ninh.
(Email:
4eyes1999@gmail.com. ĐT: 0987.503.911)

Download toàn bộ tài liệu tại đây »»

en.thpt@

Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2011

Đổi mới phương pháp dạy và học: Giáo viên sẽ không đơn độc?

Hội thảo “Chỉ đạo quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông” vừa được Bộ GD-ĐT tổ chức tại Nghệ An nhằm tìm những giải pháp liên hoàn để dỡ bỏ những rào cản, những khó khăn mà các thầy, cô giáo đang gặp phải trong nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học.


Giờ học tiếng Anh với phương pháp giảng dạy mới tại Trường THCS Đặng Thai Mai, TP Vinh (Nghệ An)- Ảnh: QUÍ HIÊN

Một số thầy cô giáo tham gia hội thảo cho rằng: “Thiếu định hướng, nhiều khi thấy mình như đi trong rừng rậm, phải tự tìm lấy đường đi nhưng cũng không chắc chắn, không tự tin đó là con đường đúng”.

Dỡ bỏ rào cản, hình thành ý thức

Cô giáo Phạm Thị Hải Yến, Trường THCS Đặng Thai Mai (Nghệ An), sau giờ dạy có Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân dự giờ đã cho biết: “Thời gian đầu với tôi rất khó khăn. Chỉ việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng không đơn giản. Có người cả tiết dạy chỉ lo trình chiếu, và học sinh thay vào việc nghe - đọc - chép thì nhìn - chép... Giữa đồng nghiệp cũng nhiều quan điểm khác nhau, không thống nhất. Điều này khiến nhiều giáo viên ngại đổi mới...”.

"Đề nghị các cơ sở giáo dục sẽ cùng chúng tôi suy nghĩ xem nên có một tên gọi, một danh hiệu thế nào để khen thưởng đặc biệt các thầy giáo, cô giáo có cống hiến cho việc đổi mới phương pháp dạy học hiệu quả. Việc này sẽ phải làm liên tục hằng năm. Bộ GD-ĐT sẽ có trách nhiệm hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học một cách chi tiết hơn. Chúng ta phải hỗ trợ các thầy cô giáo, không để các thầy cô đơn độc".

(Phó thủ tướng - Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân)

Xu hướng sử dụng công nghệ thông tin như một cách “đổi mới phương pháp dạy học” phổ biến thời gian qua ở nhiều trường phổ thông là minh chứng việc đổi mới hình thức, chạy theo thành tích. Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển nhận xét: “Có nhiều thầy cô giáo đã coi thiết bị trình chiếu là vật trang trí cho tiết học nhưng không đem lại lợi ích. Thầy nhàn hơn nhưng trò thì bị nặng nề, mệt mỏi do phải cố gắng nhìn màn hình để chép”.

Một tình trạng phổ biến nữa là việc “lạm dụng sách giáo khoa, coi sách giáo khoa như pháp lệnh, phải dạy hết”. Trong khi chỉ đạo của Bộ GD-ĐT từ lâu là giáo viên chủ động lựa chọn những kiến thức cần thiết để dạy bám sát chuẩn kiến thức đã ban hành. Việc “dạy hết sách giáo khoa” gây sự quá tải, nặng nề, thiếu thời gian cho giáo viên và học sinh đổi mới phương pháp. Để xảy ra tình trạng trên, theo thứ trưởng Hiển, trách nhiệm lớn nhất ở những người quản lý, những người thiết kế “con đường cho việc đổi mới”.

Ông Lê Quán Tần, vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học - Bộ GD-ĐT, nhận định sáu điểm yếu và cũng là rào cản: thói quen dạy thụ động, phù hợp với cách đánh giá qua thi cử “dạy, học gì thi nấy”; thói quen dạy chay do không làm chủ thiết bị, lười biếng, không bao quát đối tượng HS, bỏ rơi HS yếu, kém, chỉ chú trọng truyền đạt kiến thức, không chú trọng rèn kỹ năng, ứng dụng... Ông Lê Quán Tần cho rằng: phương pháp dạy học thật sự đi vào hoạt động dạy học chỉ khi được chuyển hóa từ tri thức sang ý thức, trở thành thói quen, kỹ năng của các thầy, cô giáo.

Việc của người ở “hậu trường”

Nếu giáo viên là người trực tiếp thực hiện đổi mới phương pháp thì những nhà quản lý các cấp là lực lượng hỗ trợ ở “hậu trường”. Lãnh đạo Bộ GD-ĐT đã đưa ra một định hướng: thực hiện phương pháp dạy học tích cực. Theo đó, giáo viên phải biết cách tổ chức quá trình học tập của HS một cách chủ động, hứng thú. Giáo viên không phải là người đi “sửa lỗi” mà là người “khai thác lỗi” cho HS để HS tự điều chỉnh. Giáo viên phải có hồ sơ chuyên môn, chú ý đến mối liên hệ giữa các môn học, kiến thức của các lớp học có tính tiếp nối, mối liên hệ với thực tế.

Phó thủ tướng - Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân cho rằng: Từ hội thảo này cần phải hình thành nhiệm vụ của các cấp, làm rõ trách nhiệm của các cấp, bộ phận trong ngành, trong các nhà trường. Trong đó vai trò của hiệu trưởng, tổ bộ môn rất quan trọng nhằm hỗ trợ giáo viên đổi mới. Ông Nguyễn Thiện Nhân cũng khẳng định: Bộ GD-ĐT sẽ có trách nhiệm chăm lo tổ chức phong trào đổi mới phương pháp dạy học bằng nhiều hình thức, hỗ trợ kinh phí cho các địa phương làm việc này. Bên cạnh đó, sẽ thực hiện việc tôn vinh các nhà giáo có công trong việc tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học.

TRỊNH VĨNH HÀ - Tuổi trẻ Online

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2011

Châu Á “nhập khẩu” mô hình giáo dục Phần Lan: Vì sao không thành công?

- Phần Lan, với dân số 5 triệu người, trở thành quốc gia có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới những năm gần đây. Nhiều quốc gia đã cử các học giả, nhà nghiên cứu sang tìm hiểu mô hình giáo dục của đất nước này, nhưng lại không thể áp dụng hiệu quả. Vì sao?



Giáo viên hướng dẫn học sinh trong lớp ở Phần Lan - Ảnh: FT

Bí mật thành công của nền giáo dục Phần Lan chính là chất lượng dạy học, lấy học sinh làm trung tâm và đội ngũ giáo viên được quan tâm và ưu tiên hàng đầu, chứ không chạy đua theo thành tích.

Tất cả giáo viên đều được đào tạo nghiêm ngặt, phải có bằng thạc sĩ mới được đứng lớp và họ được xem là những chuyên gia giáo dục. Phần Lan lựa chọn và tuyển dụng giáo viên rất kỹ lưỡng. Chẳng hạn trong năm 2010, có 1.258 sinh viên đăng ký chương trình đào tạo giáo viên tiểu học nhưng chỉ 123 người (9,8%) được chấp nhận để tham gia chương trình đào tạo giáo viên tiểu học trong thời gian năm năm. Mức lương hằng năm của một giáo viên tiểu học từ 40.000-60.000 USD và giáo viên làm việc 190 ngày/năm.

“Chương trình đào tạo giáo viên tiểu học năm năm rất tốn kém, nhưng đội ngũ giáo viên được đào tạo ra đều có năng lực cao và được xã hội tôn trọng” - Jari Lavonen, trưởng khoa sư phạm tại đại học Helsinki, cho biết.

Chương trình dạy học linh động
Phần Lan có chính sách giáo dục linh động và giao quyền tự chủ cho nhà trường, nhất là cho giáo viên. Các trường học theo một chương trình chuẩn, nhưng giáo viên có quyền thiết kế chương trình và chọn sách giáo khoa theo đặc điểm và năng lực của học sinh.

Tùy theo từng nhóm học sinh, giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc giáo dục “một người vì mọi người và mọi người vì một người”. Nghĩa là học sinh được giáo dục cùng nhau tiến bộ chứ không hơn thua nhau từng điểm số một. Giáo viên tạo điều kiện cho học sinh giỏi giúp đỡ học sinh yếu và phải đảm bảo tất cả học sinh đều nắm vững kiến thức. Giáo viên theo sát từng học sinh để giúp từng học sinh tiến bộ trong học tập.

Một năm học chỉ có 190 ngày và mỗi ngày 4 giờ, tuyệt đối không dạy thêm ngoài giờ hay đi học thêm... Nhưng ngoài trường học, Phần Lan có nhiều thư viện đa chức năng ở tất cả các địa phương nhằm đảm bảo nhu cầu đọc sách và học tập cho học sinh sau giờ học.

Theo Bộ Giáo dục Phần Lan, 6% GDP của quốc gia này được chi cho giáo dục. Giáo dục ở Phần Lan được xem là quốc sách và hoàn toàn miễn phí. Bà Sirpa Maenpaa, đại sứ Phần Lan ở Thái Lan, chia sẻ: “Phần Lan áp dụng mô hình giáo dục miễn phí bởi vì giáo dục là đầu tư cho con người và thực hiện sự công bằng giữa con người với con người. Giáo dục miễn phí là cánh cổng chính để thúc đẩy sự năng động và tiến bộ xã hội. Dù cho bạn được sinh ra trong một gia đình nghèo khó, nhưng giáo dục sẽ giúp bạn bước lên những bậc thang cao hơn trong xã hội”.

Khó áp dụng ở châu Á

Khoảng 1.000 nhà giáo dục ở các nước đã đến Phần Lan để học hỏi kinh nghiệm mô hình giáo dục của nước này trong thời gian từ năm 2003-2010, theo bà Maenpaa.

Một số chính sách giáo dục Phần Lan được “xuất khẩu” ra nước ngoài, nhưng không phải nước nào cũng có thể áp dụng thành công. Thái Lan, chẳng hạn, đang nỗ lực áp dụng mô hình này của Phần Lan nhưng không gặt hái được nhiều thành công. Nhiều học sinh Thái Lan hơi thua kém bạn bè một chút là phụ huynh lập tức đóng tiền cho con em đi học thêm ngoài giờ, còn Phần Lan không có tình trạng dạy thêm học thêm.

“Phần Lan là một xã hội công bằng. Một số nước châu Á, như Nhật Bản và Hàn Quốc vốn là hai xã hội có tính cạnh tranh cao, vì thế nếu học sinh học thua kém bạn bè trong lớp thì phụ huynh lập tức đóng tiền cho con em đi học thêm vào buổi tối.

Ở Phần Lan, học giỏi hơn bạn không quan trọng. Bởi vì mọi người đều ở một mức trung bình, quan trọng hơn là bạn phải nâng cái mức trung bình đó cao hơn nữa” - Reijo Laukkanen, một nhà nghiên cứu chính sách giáo dục, cố vấn Hội đồng giáo dục quốc gia của Phần Lan, nhận xét. Nghĩa là mỗi học sinh đều phải nỗ lực phấn đấu hơn trong học tập, chứ không phải cố gắng để hơn thua bạn bè cùng lớp một vài điểm để được xếp hạng cao.

“Ở châu Á, học sinh không những phải căng thẳng học nhiều giờ ở trường mà còn phải đi học thêm và phải đối đầu với nhiều kỳ thi cấp quốc gia. Ở Phần Lan, học sinh không phải học tập căng thẳng nhưng vẫn tiếp thu bài tốt, còn nhà trường và giáo viên đều đảm bảo chất lượng đầu ra cho học sinh. Đây là một mô hình giáo dục rất lôi cuốn” - bà Andreas Schleicher, quản lý Chương trình đánh giá chất lượng học sinh quốc tế PISA, cho hay.

DUY PHÚC (Theo Time, OECD, Finland Teacher

Hàn Quốc băn khoăn chuyện học bằng tiếng Anh

Các trường đại học hàng đầu ở Hàn Quốc từ nhiều năm nay đã đua nhau mở rộng những lớp dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh trong nỗ lực cạnh tranh đưa sinh viên và giảng viên Hàn Quốc lên chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, việc giảng dạy này đang gây nhiều tranh cãi, sau khi các sinh viên và giảng viên nêu ra những điểm bất cập, kém hiệu quả và thiếu tính thực tế.

Giáo sư Choi Gwang Mu, giảng viên bộ môn khoa học máy tính ở Đại học Khoa học công nghệ Hàn Quốc (KAIST), nhận xét: “Dạy các môn học chuyên ngành bằng tiếng Anh là không hiệu quả. Một sinh viên học các môn chuyên ngành bằng tiếng Anh chưa chắc giỏi hơn các sinh viên học bằng tiếng mẹ đẻ. Thật sai lầm khi buộc sinh viên học các môn chuyên ngành bằng tiếng Anh”.

Theo giáo sư Hong ở Trường đại học Quốc gia Seoul, cả giảng viên và sinh viên đang phải chịu rất nhiều áp lực. “Tiếng Anh trở thành trở ngại lớn cho cả giảng viên và sinh viên. Giảng viên phải mất gấp đôi thời gian bình thường để chuẩn bị bài giảng các môn chuyên ngành bằng tiếng Anh - ông cho biết - Rất nhiều sinh viên lại gặp khó khăn để hiểu các thuật ngữ chuyên ngành. Nhiều sinh viên của tôi cho biết họ phải về nhà dịch các bài giảng tiếng Anh sang tiếng Hàn mới hiểu nổi”.

“Thú thật nhiều khi tôi học những môn chuyên ngành bằng tiếng Hàn còn không hiểu nổi huống hồ lại học tất cả bằng tiếng Anh” - Seo Seong Woo, một sinh viên năm cuối ở Trường đại học Quốc gia Seoul, thú nhận.

THUẬN HÒA (Theo Korea Times)

Newsmagazine

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

Dân chủ trong quan hệ thầy trò

- Ở nước ta, tôn sư trọng đạo đã trở thành truyền thống. Đây là một nét đẹp trong văn hóa dân tộc, cần giữ gìn và phát huy cho con cháu đời sau. Song mặt khác, có lẽ chính truyền thống ấy lại là một trong những lý do tạo ra khoảng cách nhất định giữa thầy và trò.



Đi bất cứ trường học nào trên toàn quốc cũng có thể dễ dàng nhìn thấy những khẩu hiệu như “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Lấy người học làm trung tâm”, “Thực hiện những giờ học đối thoại”... Nhìn lại mới thấy những điều ấy cuối cùng chẳng thực hiện được bao nhiêu. Một giờ học ở ta thường đơn thuần chỉ là thầy giảng trò nghe, thầy hỏi trò trả lời. Rất ít khi trò có ý kiến ngược lại với thầy. Những cuộc tranh luận thật sự cởi mở giữa thầy và trò lại càng hiếm hoi hơn nữa.

Vì sao lại thế? Tôi nghĩ lý do chính là chúng ta chưa tạo ra được không khí dân chủ trong quan hệ thầy trò. Không phải cứ thầy giáo là cái gì cũng biết, cái gì cũng hiểu đúng. Có những kiến thức thầy không biết mà trò biết là chuyện bình thường. Trò giỏi hơn thầy lại càng đáng quý. Thế nhưng sĩ diện của một người thầy khiến chúng ta khó chấp nhận điều này.

Thành ra có những học trò giỏi, biết chắc thầy mình nói sai mà vì kính thầy, sợ thầy nên không dám phản hồi. Đôi khi có những học trò cá tính, bày tỏ thông tin ngược chiều thì cũng chẳng có mấy thầy dũng cảm nhận là mình sai. Thế là tìm đủ mọi cách cố che giấu cái sai ấy. Có người còn tỏ ra cau có, khó chịu trước những thắc mắc của học trò.

Cần thấy rằng sự dân chủ trong quan hệ thầy trò là cần thiết. Nó có tác dụng thúc đẩy, tạo ra hiệu quả cao trong giáo dục.

Đã đến lúc thầy giáo không phải chỉ là người dạy dỗ mà còn là người bạn đồng hành thân thiết của các em.

Đã đến lúc không phải chỉ có trò học thầy mà thầy cũng phải học trò.

Đã đến lúc phải tạo ra sự bình đẳng giữa thầy và trò trong môi trường học thuật lành mạnh.

Cần có những giờ học mà thầy trò cùng bàn bạc, trao đổi, tranh luận để tìm ra chân lý.

HỒ TẤN NGUYÊN MINH
(Phú Yên)

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

Cần làm rõ thêm một số điều về phương pháp dạy học

Không có một phương pháp giáo dục chung cho tất cả các đối tượng, cũng như một bài học không chỉ áp dụng một phương pháp là thành công. Phương pháp giáo dục cũng không phải là những nguyên lý bất biến mà là kết quả của sự sáng tạo không ngừng.
Cần làm rõ thêm một số điều về phương pháp dạy học

Cần làm rõ thêm một số điều về phương pháp dạy học

Trước hết, khi nói về phương pháp dạy học, mọi người đang nói về những đối tượng lý tưởng, là những giáo viên (GV) có tâm huyết với sự nghiệp trồng người; những học sinh, sinh viên (HSSV) có khát vọng chiếm lĩnh tri thức, hoàn thiện nhân cách. Không có phương pháp nào có thể phát huy hiệu quả đối với những giáo viên thiếu tâm huyết, và đối với những HSSV không có ý chí học tập. 

Vì vậy, nói về trách nhiệm của các nhà quản lý đất nước nói chung và quản lý giáo dục nói riêng, một công việc hết sức quan trọng,  có ý nghĩa tạo nền tảng và động lực cho sự phát triển giáo dục là làm sao để mục tiêu giáo dục thấm nhuần trong mỗi cán bộ, giáo viên, HSSV. Điều này không phải thể hiện ở những khẩu hiệu ồn ào mà được cụ thể hoá bằng những chế độ, chính sách, thành những quy chế và cuối cùng trở thành hành động tự giác của thầy và trò trong quá trình dạy và học. Vấn đề này đang là một mục tiêu phấn đấu của đất nước ta và cần bắt đầu từ tầm quản lý vĩ mô.

     Thứ hai, tôi đồng ý với ý kiến của thầy Hồ Hoàng Khải là không có một phương pháp giáo dục chung cho tất cả các đối tượng, cũng như một bài học không chỉ áp dụng một phương pháp là thành công. Xin nói thêm, phương pháp giáo dục cũng không phải là những nguyên lý có sẵn, có tính chất kinh điển, bất biến mà là kết quả của sự sáng tạo, thay đổi không ngừng.

   Thứ ba, khi nói về phương pháp giáo dục, chúng tôi cho rằng vẫn còn một số quan niệm chưa đúng về mục tiêu, phương pháp giáo dục, rất cần được trao đổi để làm sáng tỏ thêm.

     Nhiều người vẫn cho rằng sở dĩ giáo dục chúng ta tụt hậu vì đó là một nền giáo dục ứng thí (học để thi). Thực ra, học để thi là một điểm chung của tất cả các nền giáo dục trên thế giới, ở những mức độ khác nhau. Học để thi là bình thường, vấn đề là chúng ta tổ chức thi, đánh giá như thế nào để đạt được những mục tiêu giáo dục.

     Nền giáo dục phong kiến để phục vụ thi cử, nhưng vẫn đào tạo ra những bậc trí thức, văn nghệ sĩ tài năng, có nhiều đóng góp cho đất nước. Nền giáo dục của thực dân Pháp ở nước ta cũng vậy, mục đích là để đào tạo (thông qua thi cử) một đội ngũ công chức phục vụ cho mục tiêu cai trị của họ, nhưng vẫn đào tạo ra một đội ngũ trí thức xuất sắc. Chế độ thi cử của nền giáo dục phong kiến và thời thuộc Pháp hết sức khắt khe, đòi hỏi người học phải nỗ lực rất cao, vì vậy mới tích luỹ được khối lượng tri thức lớn, có tư duy sắc sảo, kĩ năng thành thục.

    Hạn chế (hay thất bại) của nền giáo dục phong kiến và thời thuộc Pháp là thiếu tính phổ thông, không dành cho tất cả mọi người.

      Hiện nay, đa số HSSV đều có tâm lý đối phó với các bài kiểm tra, bài tập, thi cử. Các em đều có tâm “ngán, sợ”, căng thẳng, muốn được “cho qua”. Do đó, thiết nghĩ các thầy cô nên giải thích cho các em hiểu thi không phải là để lấy điểm, lấy bằng, mà quan trọng là các em có dịp thử thách, rèn luyện, khẳng định mình để từ đó trưởng thành.

Hình ảnh “cá chép vượt Vũ Môn” để “hoá rồng” là một ví dụ tiêu biểu cho cái đẹp, sự cao thượng trong thi cử. Vì vậy, nếu gian lận, thì thi cử sẽ trở nên vô nghĩa, và những con điểm “ảo” sẽ có tác hại vô cùng lớn đối với bản thân các em, và với cả xã hội.

    Một GV coi thi, thấy HS chép tài liệu liền nói: “Các em chép bài như vậy để làm gì, vừa mệt mỏi, vừa tốn giấy mực, vừa làm mất công giám khảo. Cả bài vay mượn không quí bằng một chữ do các em tự viết ra. Nếu các em chỉ cần điểm, thầy cô chỉ cần vẫy bút một cái là có”. 

     Hiện nay tâm lý học đối phó đang rất phổ biến, từ phổ thông lên đến sau đại học. Nguyên nhân có thể như tác giả Quang Minh nói là do chương trình không hợp lý, quá tải và nặng về lý thuyết. Đây là một lực cản rất lớn của tiến trình đổi mới phương pháp giáo dục.

   Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta chấp nhận những cách thức giáo dục lạc hậu. Có ý kiến cho rằng cách dạy học đọc - chép vẫn còn khả dụng trong hoàn cảnh hiện tại, đối với những bài học có tri thức thuần tuý thông tin, hay đối với đối tượng HS yếu kém, thiếu tự giác.

    Bản thân cách diễn đạt “đọc – chép” đã cho thấy sự truyền thụ một chiều, sự tiếp thu thụ động, máy móc, tuyệt đối hoá vai trò của người thầy. Đây là một cách thức dạy học ra đời từ nền giáo dục phong kiến.

  Nguyên lý của nền giáo dục này là “thuật nhi bất tác”, nghĩa là người dạy, người học chỉ việc kể lại, không được sáng tạo thêm. Lúc ấy chỉ có thầy mới có tri thức, sách vở, trò hoàn toàn lệ thuộc vào thầy. Thầy là hiện thân của đạo lý Thánh Hiền, trò chỉ việc học thuộc kinh điển do thầy dạy bảo là đạt yêu cầu.

   Một thời gian trước đây, sách vở, tài liệu thiếu thốn, chỉ có thầy mới có, thậm chí sách cũng không đủ, do thầy tự viết lấy. Cách dạy học “đọc - chép” sinh ra từ đó.

    Bây giờ thời đại bùng nổ thông tin, quan niệm về giáo dục đã khác trước, cách dạy học “đọc - chép” không còn chỗ đứng trong giáo dục. Nếu tri thức đã có trong sách vở, mạng internet… trò có thể tự đọc. Thầy hướng dẫn HS học, có giảng giải gì thêm chứ nếu đọc lại tài liệu thì chỉ mất thì giờ. Nếu thầy muốn chốt lại điều gì, cũng chỉ nên nêu ý chính, trò có thể tự ghi theo cách hiểu của mình. Còn thầy cứ nhẩn nha đọc, đọc luôn cả dấu chấm câu, rồi trò chép lại y nguyên, thì sẽ lợi bất cập hại. Hoặc thầy chép lên bảng, hay chiếu lên màn hình, rồi trò chép lại cũng thế. Làm thế, học trò sẽ thui chột về tư duy, không hình thành được kĩ năng trình bày, diễn đạt, may ra có được một tấm bằng vô giá trị.

   Thế giới đang ở thời xử lý thông tin, thế mà chúng ta lại cứ cổ vũ cho phương pháp cung cấp, truyền thụ thông tin hết sức lạc hậu. Nếu chúng ta còn “lưu luyến” với cách dạy học “đọc - chép”, nền giáo dục sẽ không tránh khỏi tụt hậu.

   Chúng tôi đồng ý với tác giả Minh Thư trong bài “Văn hoá hỏi đáp trong giáo dục”. Vì sao giáo dục ở nước ngoài có “văn hoá hỏi đáp”, mà chúng ta chưa có? Chúng tôi cho rằng văn hoá hỏi đáp này xuất phát từ quan niệm tương tác trong giáo dục, từ nguyên lý chiếm lĩnh tri thức thông qua tư duy phản biện của người phương Tây.

   Hiện nay giáo dục chúng ta vẫn chưa thực sự khuyến khích tư duy phản biện của người học. Ngay cả một số GV tư duy phản biện cũng còn yếu. Thầy chưa có tư duy phản biện thì không thể khuyến khích điều ấy ở trò. Vẫn có quan niệm cho rằng những HS hay hỏi, hay thắc mắc, hay cãi là “cứng đầu”, “ngang bướng”…

    Một thầy giáo trước khi vào bài mới, hỏi HS: “Các em đã đọc bài rồi, có hiểu gì bài này không?”. HS trả lời: “Chúng em không hiểu gì cả”. Thầy nói: “Thế là tốt”. HS cười ồ, ngạc nhiên: “Tại sao thế ạ?”. Thầy cười: “Như vậy có hai tín hiệu tốt. Thứ nhất là các em thật thà. Thứ hai là các em có mong muốn hiểu bài học. Không có gì là không hiểu cả. Chưa hiểu rồi sẽ hiểu. Bây giờ thầy trò ta sẽ tìm hiểu về vấn đề”. Kết thúc buổi học, thầy hỏi lại: “Bây giờ thế nào?”. “Dạ có cái hiểu, có cái chưa”. Thầy cười: “Thế là tốt, đừng hi vọng sẽ hiểu ngay mọi chuyện. Có những cái cần phải có độ lùi thời gian chiêm nghiệm mới hiểu được. Hồi thầy đi học, có rất nhiều cái không hiểu, đến giờ mới vỡ vạc đôi điều. Cái quan trọng là phải cố gắng suy nghĩ”.

    Thiết nghĩ, cách tiếp cận, triển khai vấn đề của thầy giáo kia thể hiện xu hướng mở, tương tác trong giáo dục. Đối với nhà giáo dục giỏi, có kinh nghiệm, mỗi câu hỏi, mỗi tín hiệu phản hồi của người học luôn có ý nghĩa giúp điều chỉnh, đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục.

    Như vậy, muốn đổi mới phương pháp giáo dục, chúng ta cần đổi mới tư duy, quan niệm, triết lý giáo dục.                        

                                                     Trần Quang Đại

                                                          (Hà Tĩnh)

5 nhiệm vụ trọng tâm học kỳ II năm học 2010-2011

Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết, học kỳ II năm học 2010-2011, ngành GD sẽ tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, đó là tiếp tục đổi mới quản lý giáo dục; tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục ở các cấp học nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT; chăm lo, đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; triển khai công tác kế hoạch, tài chính và tăng cường cơ sở vật chất và đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế.

5 nhiệm vụ trọng tâm học kỳ II năm học 2010-2011

5 nhiệm vụ trọng tâm học kỳ II năm học 2010-2011

Tiếp tục đổi mới quản lý giáo dục

Thực hiện đổi mới quản lý giáo dục, ngành giáo dục sẽ tiếp tục triển khai có hiệu quả, sáng tạo cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" gắn với đặc thù của ngành là thực hiện cuộc vận động "Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" và phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực".
Cùng với đó, triển khai thực hiện Luật Giáo dục và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; tiếp tục tham mưu và ban hành theo thẩm quyền các văn bản nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách của ngành Giáo dục; Tập trung xây dựng dự án Luật Giáo dục Đại học để trình Quốc hội vào cuối năm 2011. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 50/2010/NQ-QH12 về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đối với giáo dục đại học”, trong đó xây dựng các tiêu chí xác định mức tương quan giữa đầu tư, học phí và chất lượng đào tạo; nâng cao chất lượng đào tạo hệ vừa làm vừa học, đào tạo liên thông, đào tạo liên kết. Xác định phương thức tuyển sinh hợp lý cho những năm sắp tới; Hoàn thiện sửa đổi, bổ sung các quy chế tuyển sinh. Xây dựng quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, TCCN phù hợp với yêu cầu đào tạo.
Trình phê duyệt Đề án “Đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015”; Đề án quy hoạch nhân lực của ngành giai đoạn 2011-2020; xây dựng và triển khai Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2011-2020” và Đề án Xoá mù chữ giai đoạn 2011-2020; đề án củng cố trường PTDT nội trú, phổ thông DT bán trú giai đoạn 2011-2015.
Hoàn thiện và trình phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020;  chủ động xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp về lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Tăng cường phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục theo Nghị định 115/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ; tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục; thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo.  Xây dựng các thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 115 về trách nhiệm quản lý giáo dục của các ngành, các địa phương, trọng tâm là các thông tư  về phân cấp quản lý các trường đại học, cao đẳng; về chức năng nhiệm vụ của các phòng Giáo dục đào tạo. Tổ chức hội nghị về chế độ chính sách giáo viên vùng khó khăn (về luân chuyển và các chế độ đãi ngộ hướng tới nâng cao chất lượng đội ngũ).
Tiếp tục thực hiện và chỉ đạo đổi mới công tác quản lý giáo dục, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước đối với các trường đại học, cao đẳng việc thực hiện các cam kết của các nhà đầu tư, các cơ quan chủ quản trong đề án thành lập trường về cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo, chương trình, giáo trình nhằm bảo đảm và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo đồng thời tiếp tục triển khai đào tạo theo nhu cầu xã hội, nhu cầu doanh nghiệp và phục vụ phát triển kinh tế xã hội các địa phương. Tổ chức hội nghị lần 2 các trường sư phạm, nội dung trọng tâm là đổi mới chương trình đào tạo giáo viên đáp ứng đổi mới giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và đề án ngoại ngữ 2020.
Đổi mới công tác thông tin tuyên truyền để cung cấp kịp thời, đầy đủ và chính xác tình hình của ngành cho nhân dân; nắm bắt tổng hợp thông tin từ các kênh khác nhau để giải quyết kịp thời các vấn đề của ngành.  
Tiếp tục triển khai và tổ chức sơ kết 1 năm thực hiện Chỉ thị số 296/CT-TTg và Chương trình hành động của Bộ về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012.
Tiếp tục triển khai chương trình tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc ở mầm non và tiểu học; đào tạo giáo viên là người dân tộc, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho giáo viên dạy ở vùng đông đồng bào dân tộc; triển khai đề án phát triển giáo dục ở 62 huyện nghèo.
Tiếp tục triển khai các đề án phát triển giáo dục và đào tạo đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, bao gồm: Đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên; Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo nhằm tạo bước chuyển biến cơ bản về cơ sở vật chất cho giáo dục và đào tạo; Đề án đào tạo chương trình tiên tiến tại một số trường đại học giai đoạn 2008-2015; Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020; Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; Đề án Đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng - an ninh cho các trường THPT, TCCN và trung cấp nghề giai đoạn 2010-2016; Đề án phát triển trường chuyên giai đoạn 2010-2020; Đề án đào tạo trình độ tiến sĩ cho giảng viên các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2010-2020; Đề án phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người; Dự án xây dựng các trường đại học xuất sắc; đẩy mạnh công tác xã hội hóa về giáo dục và đào tạo theo Nghị định số 69/2008/NĐ-CP của Chính phủ.
Đổi mới công tác thi đua khen thưởng theo hướng thiết thực, hiệu quả tránh hình thức.
Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục ở các cấp học
Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục ở các cấp học nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT, cùng với các nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp học, ngành giáo dục sẽ thực hiện các giải pháp chung, đó là: Đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, ngăn chặn bạo lực trong học sinh, sinh viên; Tăng cường tuyên truyền, định hướng cho học sinh, sinh viên để nhận thức được mặt trái của trò chơi điện tử trực tuyến (game online) và các loại phim, ảnh có nội dung xấu; Tiếp tục thực hiện chính sách tín dụng sinh viên nhằm đảm bảo sinh viên thuộc diện chính sách, sinh viên hoàn cảnh khó khăn có khả năng học tập đều được đi học.
Tăng cường các giải pháp để khắc phục hiện tượng học sinh ngồi sai lớp, chỉ đạo việc phụ đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh giỏi; giảm tỷ lệ học sinh yếu kém và học sinh bỏ học, tăng tỷ lệ học sinh khá, giỏi trong đó chú trọng đến học sinh đầu cấp, cuối cấp, nhất là học sinh lớp 12. Tổ chức nghiêm túc, an toàn kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2011.
Chỉ đạo thi tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy năm 2011 ổn định theo giải pháp ba chung; Tổ chức hội thảo chuyên đề về tuyển sinh và tham khảo ý kiến rộng rãi các cơ sở giáo dục đại học, các Sở Giáo dục và Đào tạo và trong toàn xã hội để xác định phương thức tuyển sinh hợp lý cho những năm sắp tới.
Nghiên cứu bổ sung các chính sách hỗ trợ giáo viên và học sinh ở vùng dân tộc; củng cố, phát triển trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông dân tộc nội trú. Tiếp tục các giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc ở mầm non, tiểu học; bồi dưỡng tiếng dân tộc cho giáo viên vùng dân tộc.
Chăm lo, đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục
Thực hiện nhiệm vụ này, ngành giáo dục sẽ hoàn thiện và triển khai Đề án quy hoạch nguồn nhân lực của ngành Giáo dục. Tổ chức có hiệu quả công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non, phổ thông về chuyên môn, nghiệp vụ, chú trọng bồi dưỡng kinh nghiệm làm công tác chủ nhiệm lớp. Tổng kết công tác bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông theo đề án liên kết Việt Nam - Singapore. Triển khai đề án đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng - an ninh.
Tiếp tục triển khai Đề án đào tạo đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học, cao đẳng từ nay đến năm 2020. Xây dựng và triển khai Đề án thu hút các giáo sư, tiến sĩ Việt kiều để tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học và hướng dẫn nghiên cứu sinh Việt Nam. Triển khai thực hiện đại trà chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, tiểu học, trung học; tập huấn đánh giá theo chuẩn hiệu trưởng trường trung học; chuẩn giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên, chuẩn hiệu trưởng trường mầm non, chuẩn hiệu trưởng trường tiểu học.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản liên quan đến việc thực hiện chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; Ban hành chương trình và quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, phổ thông, GDTX; chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng mầm non, phổ thông của học viện quản lý giáo dục.
Triển khai công tác kế hoạch, tài chính và tăng cường cơ sở vật chất
Triển khai Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Đồng thời chấn chỉnh công tác quản lý thu, chi trong các cơ sở giáo dục. Các trường và các cơ quan liên quan thực hiện công bố công khai và thực hiện tốt các chính sách miễn giảm học phí, chính sách tín dụng sinh viên.
Triển khai rà soát điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực trình độ cao cho đất nước; Xây dựng Đề án đổi mới giao chỉ tiêu tuyển sinh; Xây dựng các tiêu chí xác định chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo hàng năm đối với các trường đại học, cao đẳng, TCCN năm 2011 và định hướng đến năm 2015. Phối hợp với Bộ Xây dựng triển khai thực hiện đề án xây dựng kí túc xá sinh viên các trường đại học, cao đẳng, đến năm 2011 giải quyết được khoảng 200.000 chỗ ở cho sinh viên.
Tổng kết 5 năm thực hiện phát triển giáo dục và đào tạo vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ; xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-2015 cho các vùng và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Tiếp tục triển khai có hiệu quả Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012; Đề án phát triển giáo dục ở 62 huyện nghèo; đề án phát triển giáo dục cho các dân tộc rất ít người. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách và chế tài liên quan đến mua sắm, bảo quản và sử dụng thiết bị dạy học, đồ chơi trẻ em; đẩy mạnh phong trào tự làm và sử dụng thiết bị dạy học, đồ chơi trẻ em. Đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá giáo dục, tăng cường huy động các nguồn lực phát triển giáo dục. Tổng kết công tác xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2006-2010.
Đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế
Triển khai rà soát, kiểm tra các chương trình hợp tác đào tạo với nước ngoài giúp các cơ sở đào tạo Việt Nam thực hiện đúng quy định và đảm bảo chất lượng. Tiếp tục thực hiện cử lưu học sinh đi học nước ngoài. Tập trung triển khai tốt việc đầu tư xây dựng Trường đại học Việt Đức sử dụng vốn vay của Ngân hàng thế giới và xây dựng Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội sử dụng vốn vay của Ngân hàng châu Á. Tiếp tục thực hiện xây dựng các trường đại học xuất sắc: Xem xét, lập kế hoạch hợp tác với các Dự án về Đại học Việt Anh, Đại học Việt Nga... trên tinh thần yêu cầu các nước giúp Việt Nam vốn xây dựng cơ bản cho các trường.

Hiếu Nguyễn - Nghề giáo

Thứ Ba, 22 tháng 2, 2011

Hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào việc chọn phương pháp đúng

Thực trạng trình độ học sinh mỗi lớp học mỗi khác mà chỉ có giáo viên dạy lớp dó mới có thể hỉêu đựơc và nắm vững thực chất. Vì vậy, chính họ là người quyết định phương pháp dạy thích hợp để đem lại hiệu quả thật sự.

Bạn đọc Nguyen Dình Nguyen:

 Phương pháp đổi mới là tốt nếu đựơc áp dụng phù hợp với đối tượng chứ không thể áp dụng đồng loạt một cách cứng nhắc . Thế mà nhiều giáo viên hiện nay đang chịu một áp lực rất lớn khi giảng dạy theo phương pháp mới, nhất là vịêc phải chạy theo các chỉ tiêu thi đua về “kết quả” - mà theo tôi đó là biểu hiện của căn bệnh hình thức khó chữa của ngành giáo dục.

Người giáo viên sẽ gặp nhìêu khó khăn nếu kết quả học sinh mà họ dạy không đạt tới các chì tiêu ảo tửơng  - chỉ vì họ trung thực!  Họ sẽ bị đem ra so sánh , kỉểm đỉểm , rồi thanh tra ...Theo cái nếp quản lý như vậy, căn  bệnh thành tích trong giáo dục ngày càng phát triển và không thúôc chữa

 

Bạn đọc Hoang Thien:

 

Trong số các phương pháp dạy học hiện đại và tích cực đã được tập huấn và giới thiệu tại Việt Nam, không có phương pháp nào xem nhẹ cách dạy truyền thống, mà mang tinh thần đúng như bạn Võ Hồng Tuyến An đã nhận xét: biết kết hợp truyền thống và hiện đại. Tất cả đều nhằm mục đích giúp giáo viên tiếp cận những cách tổ chức dạy học mới, chứ không phải ép buộc giáo viên sử dụng những cách mới thay cho cách dạy học truyền thống hoàn toàn 100%.
Về phương pháp tổ chức lớp học, tác giả không tin vào khả năng làm việc nhóm của học sinh, vì tôi e rằng anh chưa hướng dẫn các em cách làm việc nhóm. Phải chăng vì anh định kiến nên không tiếp cận phương pháp tổ chức hoạt động nhóm. Không nên dựa vào chuyện học sinh cá biệt hoặc không thích học để nói rằng phải đọc - chép để các em ghi nhớ - mà chắc gì các em đã ghi nhớ? Anh có biết rằng trong dạy học hướng cá thể, anh cần khai thác đúng sở thích của học sinh, tìm đúng điểm mạnh của các em và từ đó tìm ra biện pháp dạy học thích hợp. Anh có thể nói rằng anh không có thời gian, lương ít, không đủ sức – hay chỉ đơn giản là vì anh muốn bảo vệ cho kiểu dạy truyền thống mà thôi, nó nhàn nhã hơn! Xin mời các bạn giáo viên vì một lý do nào đó còn ngại ngần áp dụng phương pháp mới hãy nhìn ra các tỉnh miền trung như Quảng Trị, Quảng Ngãi kìa, dù nhiều nơi còn rất khó khăn họ rất háo hức đổi mới phương pháp dạy học. Khi được tiếp cận các chương trình dạy học hiện đại của Intel chẳng hạn, họ vẫn quyết tâm thay đổi cách dạy cũ, vì họ nghĩ đến tương lai  học trò của mình.

Nói riêng về trình độ  công nghệ thông tin (CNTT), có những giáo viên còn  thua cả học sinh lớp 1. Có phải đây là một trong những lý do khiến cho giáo viên ngại sử dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và ngụy biện rằng việc áp dụng CNTT vào giảng dạy chỉ thêm phức tạp và không đem lại lợi ích thiết thực. Thật ra, CNTT không có tội, tội là ở anh giáo viên lười biếng không tự học, tự hoàn thiện mình.

Bạn đọc Ngo Thanh Huong:

Hiện nay, để hòa mình với  xu thế phát triển của xã hội, ngành giáo dục cần phải có sự đổi mới. Có rất nhiều vấn đề cần phải đổi mới ở đây từ cách quản lý, tổ chức, chương trình đào tạo, giáo trình, sách giáo khoa... Và một trong những vấn đề chủ chốt là thay đổi phương pháp giảng dạy thì chất lượng giáo dục mới tăng lên được. Tôi là một giáo viên và có thể khẳng định rằng với một bài giảng nếu giảng theo cách truyền thống đọc-chép, thay vào đó là một phương pháp giảng dạy khoa học hơn, chất lượng bài giảng có thể tăng từ 30% đến 60%. Vấn đề đặt ra ở đây là để làm được một bài giảng chất lượng đòi hỏi người giáo viên phải nỗ lực rất nhiều và học sinh cũng phải có sự chuẩn bị các nội dung giáo viên yêu cầu cho  bài học mới.

Phương pháp dạy học mới rất nhiều, chung lại đó là phương pháp "lấy người học  làm trung tâm'. Về mặt lý thuyết là rất tốt. Tuy nhiên khi thực hiện có một số điểm không phù hợp, ví dụ như phương pháp thảo luận nhóm mà tác giả đã đưa ra. Theo tôi, nguyên nhân là các em chưa làm quen với phương pháp này từ bé nên ý thức thực hiện,  tổ chức,  kỷ luật còn kém và một trong những nguyên nhân chủ yếu là các em chưa chuẩn bị bài ở nhà và có thể là các vấn đề mà giáo viên đưa ra là chưa hay, chưa hấp dẫn đươc các em tham gia.

Để thực hiện được một bài giảng hay là vấn đề không đơn giản, nó đòi hỏi người giáo viên có trình độ,  kinh nghiệm và tâm huyết cho sự nghiệp giáo dục.  Với đồng lương ít ỏi của mình, thật khó có thể thực  hiện được một bài giảng hay mà là giáo viên ai cũng mong muốn mang lại cho học sinh của mình.

Tôi đưa ra một sáng kiến để thực hiện tốt công cuộc cải cách phương pháp  giảng dạy  với các trường phổ thông là Bộ giáo dục tổ chức một cuộc thi SÁNG TÁC  CÁC BÀI GIẢNG HAY cho các bài học điển hình của các môn học. Thiết nghĩ sẽ có rất nhiều giáo  viên tham gia, ban tổ chức sẽ lựa chọn các bài giảng hay làm bài giảng mẫu cho các giáo viên tham khảo và thực hiện phù hợp với từng điều kiện cụ thể.
 
Bạn đọc Tuy Can:

 

"Không có phương pháp hay hoặc dỡ , vấn đề là áp dụng như thế nào  " , nhu tác giã đã viết , thật ra chĩ đúng 50 % , vì phương pháp  hay cũng chỉ đúng 50 % . Không có gì tuyệt đối hay 100% mẫu mực cã trong cách thức giãng dạy . Tôi cũng đã dạy về môn viễn thông tại Trường Kỹ sư và trường đại học chuyên nghiệp trung cấp ỡ Saigon trước năm 1975  vài năm và 18 năm dạy điện tữ ỡ Mỹ ; từ Lesson Plan đến Teaching Method  , tôi linh động theo trình đô chung cũa sinh viên trong lớp , nhưng tôi vẫn bám sát chương trình học cũa nhà trường cũa Bộ Giáo duc . Tôi luôn luôn cố gắng thực hiện cái nguyên tắc tôi đặt ra cho tôi là " dạy sao cho SV sau khi bước khõi lớp học thì không ai hiểu lơ mơ về những kiến thức được học hoặc còn thắc mắc mà chưa được giải đáp " ! Khi tôi làm việc ỡ các công ty điện tữ ỡ Mỹ , tôi vẫn vừa là một chuyên viên vừa là một thầy giáo cho những chuyên viên trẽ mới vào làm việc trong công ty , việc này là do  Head Of Department cũa công ty giao phó . Chính những kinh nghiệm làm việc và huấn luyện như thế đã giúp tôi thành công trong việc dạy học 18 năm ỡ Mỹ.

 

Bạn đọc Nguyễn The Duc:

Theo tôi suy nghĩ, nên đổi mới PPDH  từng bước một, chúng ta không nên quá kỳ vọng vào việc đổi mới toàn diện. Việc này đã đưa ra bàn thảo nhiều lắm rồi, cũng có thực hiện rồi nhưng kết quả là gì?! Con cháu chúng ta “được” mang thêm nhiều sách vở hơn, thời gian học thì nhiều hơn, kiến thức thì mỏng đi, đạo đức thì xuống cấp ....

Hãy nhìn thẳng vào thực tế, trình độ giáo viên đa số là cực thấp (thấp từ đầu vào sư phạm) thì làm sao có đủ trình độ mà đổi mới chứ? PPDH thì khô cứng, nội dung bài học thì nhàm chán.

Hãy xem những bài văn đưa vào sách giáo khoa như Chí Phèo, chị Dậu... thực sự đã không còn phù hợp nữa, chỉ nên đọc thêm để biết thôi. Hãy mạnh dạn đưa những tác phẩm mới, cả văn học nước ngoài vào chương trình đổi mới. 

Hãy dạy những gì thực sự cần thiết cho hiện tại và tương lai của các cháu, đó là : đạo đức, tình người, bản lĩnh, tầm nhìn .... Những gì đã qua thì ta chỉ nhắc lại vừa đủ thôi, đừng bắt con cháu phải sống mãi với thời chiến tranh, thời bao cấp, thời nô lệ… Thử hỏi tính cách Chí Phèo có còn phù hợp không? nhưng nó ảnh hưởng ghê gớm, cho nên bây giờ vẫn còn xuất hiện nhiều “chí phèo” trong xã hội!

 

LTS Dân trí - Muốn nâng cao chất lượng giáo dục, đúng là phải có giải pháp đồng bộ nhiều mặt, từ việc nâng cao trình độ, phẩm chất của đội ngũ giáo viên, đến việc đổi mới nội dung chương trình đi đôi với cải tiến phương pháp giảng dạy cũng như cách thức kiểm tra, thi cử và tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện dạy và học.

 

Nói riêng về đổi mới phương pháp giảng dạy, nhiều ý kiến tham gia thảo luận cho rằng không nên áp dụng đồng loạt phương pháp mới cho mọi đối tượng học sinh và mặt khác nội dung chương trình cần tinh giản hơn mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng phương pháp mới.

 

Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa đành chịu giẫm chân tại chỗ với cách giảng dạy cũ, nặng về truyền đạt một chiều, không coi trọng đúng mức việc phát huy tính chủ động và sáng tạo của học sinh. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, trong những hoàn cảnh giống nhau, vẫn có những thầy giáo giỏi biết làm cho giờ học trở nên sinh động nhờ thực hiện tốt “Văn hóa Hỏi-Đáp” trong giờ học.

Theo Dân Trí

Nên “đổi mới” hay “cập nhật” phương pháp giảng dạy?

Nếu dùng chữ “đổi mới” thì e rằng gây hiểu nhầm. Đổi mới là bỏ cái cũ vì nó hết thích hợp? Mà đã có nghiên cứu nào đáng tin cậy cho thấy phương pháp giảng dạy tại VN là hết thích hợp? Và hết thích hợp chỗ nào? Với đối tượng nào? vì sao?
Sống ở thời đại văn minh ngày nay, ta không thể kết luận điều gì mà thiếu những căn cứ khoa học, chính xác, đặc biệt về lĩnh vực giáo dục.Trẻ em không phải là những “vật thí nghiệm”, đổi mới phương pháp không đúng thì hậu quả sẽ kéo dài cả một hay hai thế hệ.
 
Nếu “đổi mới” chỉ  để đổi mới mà thiếu những căn cứ cần thiết  thì e rằng sẽ làm việc “vá áo”, mà vá vụng về nữa, nó sẽ luộm thuộm, khó xem, cái kiểu mà người Pháp gọi là “miếng dán trên cái chân bằng gỗ” (une emplâtre sur une jambe en bois).
 
Thay vào đó, tôi xin đề nghị chữ “cập nhật” phương pháp giảng dạy.
 
Riêng bản thân, trong quá trình đi dạy từ 1975 đến 2009 ở Bỉ, tôi đã phải liên tục cập nhật phương pháp giảng dạy của mình vì thời thế thay đổi, quan niệm của việc dạy và việc học không còn như xưa; vì khoa học có tiến bộ, chúng ta hiểu rõ hơn nhu cầu tâm lý học sinh chẳng hạn;  kỷ nghệ thông tin giúp ta thêm nhiều phương tiện hỗ trợ cho việc đứng lớp và đào tạo học trò. Sau cùng, nội dung của môn mình dạy có nhiều cái mới nữa...

“Cập nhật” là một việc cần thiết. Cần thiết cho tất cả mọi ngành chứ không riêng gì cho giáo dục. Nếu không, ta có thể trễ chuyến tàu và bị bỏ lại trên nhà ga vắng lạnh!

Chữ cập nhật dễ được chấp nhận hơn : nó không bao gồm ý phải bỏ cái cũ. Ta vẫn giữ đấy chứ, giữ những phần còn thích hợp và tốt nhất trong hoàn cảnh đặc thù. Nhưng ta đi cùng với trào lưu, nhập cái mới mà nhập có suy nghĩ, đắn đo. Nhập với những biến chế cần thiết cho thích hợp với người đi dạy và người đi học bên ta, trong giới hạn vật chất mà ta phải đương đầu. Hành trình này, các nhà toán học gọi là “tối ưu hóa các ràng buộc” (optimalisation des contraintes).

Cập nhật phương pháp giảng dạy là một chuyện thường tình vì không có một phương pháp giáo dục duy nhất hữu hiệu để áp dụng cho bất cứ môn nào, trong bất cứ bối cảnh hay thành phần học sinh, hoặc cho mọi chủ đích, ...Nói về phương pháp giảng dạy phải kể ít nhất là các khác biệt của 3 bậc học khác nhau: tiểu học, trung học và cao đẳng & đại học; trong đó mỗi bậc học có những đối tượng khác nhau, những cách cấu trúc, sinh hoạt đặc thù và những phương pháp cần áp dụng.

Không thể dạy một em bé theo cách ta dùng cho những sinh viên đã trưởng thành. Không thể ê a kể chuyện trước một giảng đường hai trăm người như ta có thể làm trước hai mươi học sinh.

Trong mỗi hệ, các môn khác nhau đòi hỏi những phương pháp giảng dạy khác nhau. Thí dụ môn toán và môn văn chương chẳng hạn.

Thậm chí, cùng một môn, trong một hệ, cùng một giáo sư, trước hai lớp khác nhau, giáo sư ấy cũng phải thích ứng trong phương pháp của mình.

Ngoài ra, phương pháp giảng dạy đi kèm với phương pháp thi cử. Thay đổi là phải thay đổi cả hai. Không những trong hình thức mà ngay cả trong nền tảng và trong quan niệm triết lý.

Thành ra cập nhật phương pháp giảng dạy là công việc của cả khoa Sư Phạm, qua những  quá trình nghiên cứu và đào tạo liên tục nhiều năm.

Trong khuôn khổ bài này, tôi chỉ xin đề cập một ít kinh nghiệm, không phải là kinh nghiệm bản thân hay của Bỉ, nơi tôi sống,  mà là kinh nghiệm của Phần Lan: học sinh nước này, từ hơn mười năm nay, đã dẫn đầu (hay ít nhất là ở top 5 trong khi Bỉ được xếp hạng 14 tới hạng 21 tùy môn) theo nghiên cứu PISA, về kết quả học tập tới năm trẻ 15 tuổi.

Làm sao mà các em giỏi như thế ? Có bí quyết, bí mật gì trong đó ? Ngay tới chúng tôi ở Bỉ cũng phải giật mình, thấy người mà nhìn lại ta và cố tìm cách rút bài học.

Giới hạn của bài này là giới hạn của một người đứng bên ngoài. Nhưng nó được cái là có thể khách quan hơn...

 

Nghiên cứu PISA?

PISA là tên tắt của: Programme for International Student Assessment được OCDE (Organisation de Coopération et de Développement Econonique) cho thực hiện để đo những mức hiểu biết mà học sinh trong một số quốc gia, thành viên hay không thành viên của tổ chức này, đạt được, năm 15 tuổi.

Dĩ nhiên, nghiên cứu PISA bị một vài phê bình tiêu cực, nhưng tựu trung nó thể hiện ít nhất là một phần thành quả của hệ thống giáo dục của các quốc gia nằm trong nghiên cứu. Trên bình diện kinh tế, kết quả của mọi “sản xuất”, kể cả “sản xuất ngành giáo dục” được đánh giá trên “sản phẩm”. Hiểu biết của học sinh là sản phẩm của quá trình dạy và học của trường và các em trong hơn 10 năm.

Từ những năm 2000, 2003, 2006 học sinh Phần Lan luôn đứng hạng nhất theo kết quả của PISA.

 

Nghiên cứu PISA mới đây, năm 2009, cho thấy học sinh Shanghai (Thượng Hải) đứng đầu bảng cho cả ba môn : Toán, Khoa học và đọc Văn. Phần Lan thì trong top 5, 6 trong top đó có các nước và lảnh thổ như Shanghai, Singapore và  Hàn quốc nữa.

Để có thêm một ý tưởng về các kết quả của PISA 2009, xin ghi  là giới trẻ người Mỹ chẳng hạn, chỉ đứng thứ 30 về Toán, thứ 23 về Khoa học và thứ 17 về khả năng Đọc - nghĩa là trên giửa bảng một tí.

Cuối bảng, trong số 65 quốc gia và vùng của nghiên cứu PISA, là Kirghizistan.

 

Hệ thống giáo dục của Phần Lan:

Cách đây nửa thế kỷ, đến những năm 1960, tất cả trẻ em ở Phần Lan không có phương tiện đến trường vì lãnh thổ của nước này rất rộng, mật độ dân cư thấp, kinh tế không trù phú nên không có trường học ở mọi nơi.

Thế nhưng, sau đó, chính phủ Phần Lan đã đưa giáo dục lên hàng quốc sách, bắt chước trước tiên theo mẫu của nước láng giềng Thụy Điển (và bây giờ đã vượt xa Thụy Điển theo kết quả PISA).

 

A. Những nguyên tắc căn bản của hệ thống giáo dục ở Phần Lan:

• Giáo dục cưỡng bách và miễn phí hoàn toàn tới tròn 16 tuổi. Triết lý của Phần Lan không là giáo dục cho một thành phần tinh hoa của xã hội mà giáo dục bình đẳng cho cả xã hội.

• Bình đẳng đến trường, không khác biệt và không sàng lọc : tất cả các trường đều là trường công (cả nước chỉ có 5 trường tư – tư vì lý do tôn giáo là chính), có trình độ và giá trị ngang nhau, trường ở nơi đồng quê được thiết bị tốt nhất (dụng cụ vật chất và nhân sự) để không thua các trường khác ở đô thị chẳng hạn.

• Bổn phận phải chọn trường gần nhà nhất – dù sao đi nữa các trường đều tốt bằng nhau nên phụ huynh đã không phản đối !

• Chương trình phổ thông chung tới tròn 16 tuổi cho tất cả, không phân chia bộ môn.

• Phương pháp giảng dạy linh động tùy theo đặc thù của học trò

• Không cho điểm (dù có đánh giá, phê bình và hướng dẫn) và không ở lại lớp. Tất cả mỗi môn đều phải thành công, trường phải đi với các em đến kết quả chứ không phải chỉ có trách nhiệm cho phương tiện - obligation de résultats et non pas obligation de moyens -  nếu cần thì tổ chức kèm thêm, miễn phí, ở trường, bởi chuyên viên giáo dục. Và không có phạt. Các em phải học tự đánh giá quá trình của mình cùng với thầy (và các em làm rất tốt chuyện này!).

Cấm quảng cáo thành tích các trường.

 

Như vậy tựu trung sự bình đẳng ở đây là một bổn phận, không thứ bậc giửa các trường, một chương trình cho tất cả mọi em và tất cả các em đều học xong chương trình. Để thực hiện bình đẳng  tốt nhất, đến các bữa ăn cuả các em cũng miễn phí và xe bus các em đi cũng không tốn tiền. Ở Bỉ, các trường có “cạnh tranh” vì chế độ tài trợ được tính trên số học sinh, các bữa ăn của các em không miễn phí và giá của một vài phí sinh hoạt nhiều khi là “nguyên nhân” của sự chọn trường này hay trường khác.

 

B. Về sinh hoạt:

Tối đa 20 trò mỗi lớp ở cấp mẫu giáo, 24 trò mỗi lớp sau đó

• Ở lớp mọi người đều phát biểu, gần như là một “luật” bắt buộc, tự do đi lại trong lớp, lớp ồn, nhưng đó là một “vô trật tự có tổ chức”

• Liên hệ giáo dục vừa dọc (thầy-trò) vừa ngang (trò – trò) để mọi người cùng hiểu bài

• Rất ít bài làm ở nhà trừ phi là việc cần cho buổi học hôm sau (tìm tài liệu chẳng hạn)

• Học ít chơi nhiều: Từ 19 tiết – mỗi tiết là 45 phút - cho các em tới 9 tuổi; tăng từ từ đến 33 tiết cho các em sau 13 tuổi. Giửa hai tiết là chơi 15 phút.

• Các em tự chủ và tự quản: Lo vệ sinh cho lớp, cho trường, để ý đến bạn bè chẳng hạn trong những sinh hoạt, học hành

Thông thường, tới 13 tuổi, các em đi học từ 8 giờ sáng đến 13 giờ. Phần còn lại là để

• cho các sinh hoạt riêng thể thao, âm nhạc,... nếu các em thích – cũng hoàn toàn miễn phí.

 

C. Về định hướng tương lai:

• Học ngoại ngữ từ mẫu giáo. Phần Lan là một nước với hai ngôn ngữ chính thức  (ngôn ngữ thứ hai là tiếng Thụy Điển). Hiện nay đại đa số giới trẻ giỏi tiếng Anh nữa, tức là biết 3 ngôn ngữ.

• Không có thi tốt nghiệp trung học cơ sở, chỉ có đánh giá ở trường

• Học nghề, sau 16 tuổi, cũng được xem là tương đương với học phổ thông cấp 3. Bằng  chuyên nghề – 3 năm – cũng được công nhận để thi vào Đại học nếu các em muốn, sau đó.

 

Kết quả là tới năm 16 tuổi, chỉ có 3% học sinh không đủ tiêu chuẩn tốt nghiệp trung học cơ sở (ở Bỉ, gần 50% học sinh 16 tuổi đã phải ngồi lại lớp một lần). Sau đánh giá này, các em không đủ chuẩn được giúp trong một năm đặc biệt. Sau đó, tỉ số không đủ chuẩn còn là 0,3% (nói chung các em này là do có vấn đề về sức khỏe / thần kinh).

 

D. Xã hội và trường học:

Bình đẳng và giáo dục là quốc sách. Quốc sách này chỉ thực hiện được nhờ một môi trường hòa bình với những liên hệ thân hữu và tín nhiệm. Cha mẹ tin cậy trường học và triết lý của trường (cũng có bất đồng, nhưng được giải quyết thỏa đáng : chẳng hạn lúc đầu cha mẹ đòi “có điểm” chứ không chịu “cái mù mờ của đánh giá không có số”).

 

Trường học “vui” đến nổi giới trẻ Phần Lan, đều giử kỷ niệm đẹp thời thơ ấu và rất thích nghề giáo.  Rốt cục, dù là phải qua 6 năm đào tạo Đại học mới đi dạy được (cho mẫu giáo, tiểu học hay trung học đều phải 6 năm – 6 năm này được học bổng đủ sống), số ứng viên vào trường Sư Phạm rất đông và thông thường, chỉ 10% ứng viên được tuyển chọn. Người được chọn vì vậy là những người rất hăng say với nghề.

 

Phải qua 6 năm đào tạo vì người đi dạy phải là một chuyên viên “đa tài”, nắm hết nội dung chương trình cần dạy và nhất là có khả năng co dãn, chọn phương pháp tốt nhất để đưa học trò mình đến bến bờ hiểu biết.

 

Vai trò của một giáo viên là cùng đi với học trò mình để em xây dựng kiến thức cá nhân với sự góp sức của giáo viên, trường học, môi trường, gia đình, thư viện, báo chí, internet, ... 

Nghề giáo viên là một nghề danh giá, được xã hội xem trọng, chỉ kém hơn bác sĩ kỷ sư hay nha sĩ vài nấc thôi ( ở Bỉ, giáo viên tiểu học ở hạng khoảng 35 trên 100 nghề trong khi bác sĩ kỷ sư ở trong 5 hạng đầu bảng) dù lương tháng không tới 2000 euros, lúc mới vào nghề.

 

Tất cả những đặc thù nói trên của Phần Lan, cộng chung lại, cho ra kết quả là tri thức và thành công của học sinh 15 tuổi, qua kết quả PISA,  rất cao dù là đầu tư của quốc gia (ngân sách dành cho giáo dục, tính bình quân theo học sinh) không cao hơn ở Bỉ hay ở Pháp.

 

Kết luận:

Theo kết quả PISA gần đây nhất, Shanghai (Thượng Hải), Singapore và Hàn quốc cũng đứng đầu bảng. Có thể những “kiểu mẫu” hay cách làm của những cộng đồng này gần với Việt Nam hơn.

Xin để phần ấy cho những chuyên viên về giáo dục ở châu Á.

 

Riêng đối với giới giáo dục ở Bỉ, kinh nghiệm của Phần Lan  được xem như một hình thức phải nghiên cứu và có thể ứng dụng. Hiện trạng trường học ở Bỉ còn bất bình đẳng và còn nhiều học sinh kém, mặc dù là đã có chế độ cưỡng bách giáo dục và miễn phí đến năm tròn 18 tuổi từ lâu và mặc dù đại đa số học sinh sống rất hạnh phúc ở học đường.

 

Về trường hợp Việt Nam, cần nhiều nghiên cứu khoa học tổng thể, biết người biết ta,  để có thể kết luận khách quan về những chỗ cần để cập nhật một cách phù hợp. Nhìn chung, phải thấy nhu cầu cập nhật những điều mới mẻ có tính thời đại là tất yếu, và nên cập nhật cho cả hệ thống chứ không phải chỉ làm theo kiểu“vá áo”. Nếu định hướng phát triển theo mô hình Phần Lan thì tôi nghĩ có triển vọng tốt, chỉ cần nửa thế kỷ có thể tiến lên hàng đầu về giáo dục!

Nguyễn Huỳnh Mai

Liège, Bỉ

LTS Dân trí - Bài viết trên đây nêu lên những kinh nghiệm “câp nhật” phương pháp dạy học tại Bỉ và nhất là Phần Lan. Tác giả là một nhà giáo dạy học lâu năm ở nước ngoài nhưng vẫn dành sự quan tâm đặc biệt đến nền giáo dục nước nhà, đã viết nhiều bài trên Diễn đàn Dân trí để đóng góp ý kiến về những chủ đề được bạn đọc quan tâm.

 

Hy vọng bài viết trên đây cung cấp những thông tin bổ ích xung quanh chủ đề về đổi mới phương pháp dạy học đang được ngành giáo dục và đông đảo nhà giáo ở nước ta quan tâm.

Theo Dân Trí

Bài đăng phổ biến