Hiển thị các bài đăng có nhãn Bất cập. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bất cập. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

Giảm tải vội vàng!

Giảm tải chương trình giáo dục phổ thông mà Bộ GD-ĐT vừa đưa vào triển khai trong năm học này đã nhận được sự ủng hộ của xã hội. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học cho rằng, việc giảm tải này quá vội vàng, kết quả sẽ không đi đến đâu, nặng vẫn hoàn nặng.

Giảm không thực tế!

Ủng hộ chủ trương giảm tải chương trình học của Bộ GD-ĐT nhưng GS.TS Phạm Tất Dong, Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam lo lắng cho rằng do bị sức ép nên Bộ GD-ĐT quá vội vàng triển khai giảm tải như vậy sẽ không hiệu quả.

Phân tích về vấn đề này, GS Phạm Tất Dong cho biết: “Khi thực hiện giảm tải cần phải có sự chuẩn bị, thí điểm và hỏi ý kiến những nhà khoa học, giáo sư đầu ngành để xem họ nhận xét như thế nào về chương trình học hiện nay và giảm cái gì, thêm cái gì cho phù hợp với thực tế. Sau đó, bàn với các thầy viết sách một cách cẩn thận chứ không nên giao cho vụ này, vụ kia nghiên cứu rồi đề xuất giảm, tôi thấy không ổn”.

Về chương trình học quá tải hiện nay, GS Dong cho hay: “Nhiều kiến thức học sinh không nên học vội như chương trình tiểu học, các em đã phải tìm hiểu Liên hợp quốc là gì hoặc các em bậc tiểu học phải có thái độ tốt với Ủy ban nhân dân xã; thái độ của em với người nước ngoài… Trong khi đó nhiều em học sinh ra đương gặp người già còn chưa chào đến khi người nước ngoài. Thậm chí viết trong chương trình còn ghi là Ủy ban nhân dân thôn, xóm. Thôn, xóm làm gì có Ủy ban nhân dân… Kiến thức tưởng phù hợp với thực tế nhưng lại không thực tế".

Xét đến hậu quả của việc giảm tải chương trình vội vàng này của Bộ GD-ĐT, GS Phạm Tất Dong cho rằng: “Sẽ gây ra lộn xộn và không có tác dụng. Với cách làm này tuy không gây ra sai sót quá lớn vì vẫn sách cũ và chương trình cũ chỉ đến lớp không nói đến cái bài giảm tải nữa. Quan điểm của tôi là giảm tải bỏ đi những cái gì không cần thiết và những cái gì cần phải thêm vào. Giảm không có nghĩa là cắt. Nên gọi cho chuẩn xác việc giảm tải này là điều chỉnh chương trình cho vừa sức”.

Học sinh Hà Nội trong lễ khai giảng năm học mới. Hiện nay chương trình học quá nặng khiến học sinh mệt mỏi. (Ảnh: Hồng Hạnh)

Nặng vẫn hoàn nặng

Có lẽ thực tế nhất trong việc giảm tải chương trình này vẫn là các hiệu trưởng, giáo viên trực tiếp đứng lớp.

Một giáo viên dạy Ngữ Văn ở Trường THPT Phạm Hồng Thái (quận Ba Đình, Hà Nội) nhận định: “Chủ trương giảm tải là hợp lý, đáp ứng được mong đợi của người dạy, người học, nhưng nội dung giảm tải có cảm giác mới chỉ là bước “thăm dò” đầu tiên của Bộ GD-ĐT. Lẽ ra cần mạnh dạn cắt bỏ hơn nữa. Đối với chương trình môn Văn lớp 11, việc cắt giảm một số nội dung không giải quyết được vấn đề gì đáng kể, nếu làm quyết liệt thì phải sắp xếp lại toàn bộ chương trình”.

Còn PGS Văn Như Cương, hiệu trưởng Trường THPT Lương Thế Vinh, Hà Nội cho rằng: "Việc giảm tải hiện nay còn khá rụt rè, chưa mạnh dạn, cần giảm đi 30% chương trình thì mới có thể tạo ra một sự thay đổi thực chất. Đối với môn Toán của chương trình THPT, việc giảm tải khá vụn vặt, ví dụ chỉ làm bài tập này, không cần làm bài tập kia, bỏ ví dụ này, bỏ hoạt động (thao tác) kia".

Thầy giáo Lê Trung Tuấn, hiệu trưởng trường tiểu học Lê Hồng Phong (Hà Đông, Hà Nội) đồng thời là giáo viên dạy Toán lại cho rằng: “Chương trình giảm tải rất hợp lý, giáo viên dạy cũng ít đi, học sinh học cũng nhẹ nhàng hơn trong buổi học chính khóa. Tuy nhiên, những bài giảm tải, chúng tôi cho vào học buổi 2 và để học sinh về nhà tự đọc”.

Phân tích kỹ hơn về việc giảng dạy tại lớp học hiện nay, ông Hà Huy Bằng, hiệu trưởng Trường THPT Đào Duy Từ (Hà Nội), cũng là giáo viên môn Vật lý, cho hay: “Chúng tôi rất hoan nghênh chủ trương giảm tải chương trình của Bộ GD-ĐT nhưng theo tôi giảm tải phải đồng bộ, cắt đi một số phần và có cầu nối với phần khác để kiến thức không bị trục trặc. Giảm tải không có nghĩa là bỏ cái này, bớt cái kia mà phải vừa bỏ vừa thêm vào đồng nghĩa với chương trình cho đơn giản để học sinh dễ hiểu tránh học thêm, thi đại học tốt”.

“Chương trình Vật lý hiện nay cũng khá nặng về câu hỏi trắc nghiệm bài tập như đánh đố học sinh. Nếu theo đúng chương trình học, học sinh khó có thể thực hiện tốt. Thậm chí nhiều câu hỏi đến giáo viên còn thấy khó nữa chứ đừng nói học sinh. Theo tôi, sách giáo khoa hiện nay còn sơ sài vì vậy giảm tải nhưng vẫn phải thêm. Trong môn Vật lý phổ thông phải có câu hỏi trắc nghiệm sâu hơn về vấn đề lý thuyết. Câu hỏi bài tập trắc nghiệm cần soạn lại, thêm nhiều kiến thức” - ông Bằng nhận định.

Góp ý để nâng cao chất lượng việc giảm tải, GS Phạm Tất Dong cho rằng: “Đến năm 2015, Bộ GD-ĐT chuyển đổi chương trình sách giáo khoa và chính giảm tải là một trong những chương trình chuyển đổi này. Để việc giảm tải thực hiện có hiệu quả, Bộ GD-ĐT cần có những hội đồng khoa học họp bàn về giảm tải và quyết định sang năm nên học thế nào chứ tôi nghĩ việc làm tải này không mang lại kết quả gì lớn, nặng vẫn hoàn nặng”.

Hồng Hạnh

Nguồn: Dân Trí

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

Lạm thu tiền trường, quản lý bó tay?

Hôm qua 19/9, Sở GD-ĐT Hà Nội đã tổ chức cuộc họp khẩn với trưởng phòng GD-ĐT 29 quận, huyện, thị xã, cụm trưởng các trường THPT và các trường trực thuộc nhằm chấn chỉnh công tác thu - chi năm học 2011-2012.

Động thái muộn này của cơ quan quản lý xem ra chỉ để cho có bởi đến thời điểm này, hầu hết các trường đã cơ bản triển khai xong việc thu đầu năm. Vấn đề được dư luận quan tâm lúc này là phương án và mức độ xử lý thế nào với những sai phạm?


Các khoản phí đầu năm học vẫn là nỗi lo với nhiều phụ huynh.

Thu nhiều, thu sai
Không khó để có thể "nhìn" ra các khoản thu không hợp pháp, song cũng không mấy hợp lý của các nhà trường trong danh sách các khoản thu đầu năm. Ngành GD-ĐT đã từng có lần dự kiến ban hành một danh sách các khoản thu để tránh tình trạng các trường tự đặt ra các khoản thu với những cái tên na ná nhau. Nhưng rồi thực tế mỗi trường một vẻ, nơi cần khoản này nhưng lại không cần khoản kia, không thể cố định mà áp vào. Vì vậy, độ dài - ngắn, mức cao - thấp của danh sách các khoản thu phụ thuộc vào điều kiện cụ thể. Đó là cách lý giải của các trường, còn thực tế không hẳn vậy. Thống kê sơ bộ của Sở GD-ĐT cũng thừa nhận tình trạng thu sai, thu nhiều có ở nhiều quận, huyện, từ Ba Đình, Đống Đa, Cầu Giấy, Thanh Xuân… đến Long Biên, Hoàng Mai, Từ Liêm, Thường Tín…
Ngoài các khoản thu theo quy định và các khoản thu hộ, mỗi HS mới được tuyển vào lớp 10 của Trường THPT Trung Văn (huyện Từ Liêm) phải nộp thêm gần 1,2 triệu đồng; trong đó có những khoản vô lý như hỗ trợ nâng cao 160 nghìn đồng/HS/học kỳ; mái che 350 nghìn đồng/HS; chăm sóc vườn cây 100 nghìn đồng/HS; ghế ngồi 30 nghìn đồng/HS; tiền mua máy photocopy 50 nghìn đồng/HS; Chữ thập đỏ 30 nghìn đồng/HS; biển lớp 20 nghìn đồng/HS… Còn theo phản ánh của phụ huynh một trường THCS ở quận nội thành, mỗi HS phải đóng hơn 1,8 triệu đồng, riêng phần thu thỏa thuận lên tới hơn chục khoản, trong đó có phần phí cho câu lạc bộ các môn toán, văn, Anh; kỹ năng sống; xã hội hóa trường; quỹ hỗ trợ; cờ khai giảng; báo Đội… Điều đáng nói là chẳng có phụ huynh nào được nhà trường thỏa thuận cứ ghi danh nộp tiền, ai cũng chằn chặn mà nộp chừng ấy.
Mặc dù quy định của Sở GD-ĐT không cho phép các trường thu của HS 4 khoản gồm bảo vệ, vệ sinh, an ninh và trông giữ xe đạp, song Trường THPT Trung Văn (Từ Liêm) vẫn thu tiền trông xe đạp với mức 80 nghìn đồng/ HS/học kỳ. Lại có trường tự đặt ra các loại quỹ như quỹ in ấn tài liệu phục vụ thi học kỳ và thi cuối năm; quỹ phục vụ thi văn nghệ và các hoạt động tổ chức trong trường… Lý giải về tình trạng thu nhiều, thu cao, ý kiến của đại diện lãnh đạo một số phòng GD-ĐT và nhà trường cho rằng, đó là do mức thu các khoản trong quy định quá lạc hậu trong khi yêu cầu hoạt động của trường hiện đã khác xưa. Trưởng phòng GD-ĐT huyện Gia Lâm Nguyễn Văn Quý còn cho rằng, do trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của hiệu trưởng một số nơi còn hạn chế nên dẫn đến việc thu sai… Ông cũng kiến nghị với lãnh đạo ngành nên xem xét lại quy trình 4 bước thực hiện thỏa thuận hợp lý hơn, bởi khó có lãnh đạo phòng GD-ĐT nào dám ký vào bản kế hoạch công việc với các mức thu mà các trường đề xuất.
Bao giờ mới hết lạm thu?
Căn nguyên của nỗi bức xúc được chỉ ra chủ yếu là do cách thức các nhà trường khi triển khai thu các khoản dưới danh nghĩa thỏa thuận hoặc tự nguyện. Đó là sự mập mờ, không rõ ràng trong việc dự trù mức thu, nội dung chi từng khoản, là cách yêu cầu đóng góp tự nguyện mà như ép buộc của một số trường và việc thỏa thuận cũng chỉ là "diễn". Chánh Thanh tra Sở GD-ĐT Nguyễn Đức Vui ghi nhận: Hiếm có nơi nào trình ra được kế hoạch cụ thể rằng số tiền thu của quỹ hội cha mẹ HS như thế thì dùng vào những việc gì, ai là người hưởng lợi... Việc thỏa thuận nội dung thu và mức thu ở nhiều nơi cũng chỉ là quyết định giữa đại diện nhà trường và ban đại diện cha mẹ HS. Riêng về mức thu của quỹ phụ huynh, theo ông Vui, kinh nghiệm của một số địa phương cho thấy, Hà Nội nên thống nhất mức thu của quỹ phụ huynh trường, sau đó trích một tỷ lệ phần trăm nhất định cho hoạt động của quỹ hội phụ huynh các lớp. Điều này sẽ tránh được tình trạng "trăm hoa đua nở" của các trường. Năm học 2011-2012, quận Cầu Giấy cũng đã có văn bản quy định rõ mức trần của một số khoản thu, trong đó quỹ phụ huynh 50 nghìn đồng/HS/học kỳ (ở cả cấp mầm non, tiểu học, THCS), tiền ăn cao nhất là 22 nghìn đồng/ HS/ngày, tiền hỗ trợ chăm sóc bán trú tối đa 100 nghìn đồng/ HS/tháng… Đây được coi như "cây gậy" pháp lý cho công tác quản lý chỉ đạo và việc triển khai ở các trường. Việc này cho thấy, không phải là không thể "quản" mà vấn đề là cơ quan quản lý có thực lòng vào cuộc và dám quản hay không?
Giải pháp được đưa ra tại cuộc họp khẩn là các đơn vị thu sai thì phải trả lại tiền cho phụ huynh HS. Đây không phải lần đầu tiên ngành GD-ĐT đưa ra hình thức xử lý này và thực tế cho thấy không hiệu quả. Chỉ đạo dạng này như kiểu "đánh bùn sang ao", nói cho qua chuyện mà thôi! Minh chứng là tình trạng lạm thu vẫn "nóng" và có chiều hướng lan rộng. Bao giờ mới hết lạm thu nếu lãnh đạo ngành còn né tránh?

Theo Thống Nhất

Nguồn: Dân Trí

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

Nhà trường “biến hóa” quỹ phụ huynh

Buổi họp phụ huynh đầu năm học mới, phụ huynh lớp 4 được phát bản công khai thu chi của quỹ ban đại diện cha mẹ học sinh toàn trường năm học 2010-2011 tính đến ngày 30-8.



Tổng cộng năm học vừa qua nhà trường đã chi hơn 167 triệu đồng từ quỹ phụ huynh.

Các học sinh trường tiểu học khoe dụng cụ học tập mới khi cô giáo kiểm tra ngày đầu năm học - Ảnh: N.Hùng

Những lo toan đầu năm học mới luôn là câu chuyện làm đau đầu phụ huynh. Bạn hãy gửi câu chuyện của mình về email: toasoan@tuoitre.com.vn.

Bản báo cáo khiến chúng tôi thắc mắc bởi có 49 khoản chi thì chỉ có chín khoản là chi cho học sinh, còn lại là chi cho nhà trường. Đọc qua thấy có nhiều mục chi hết sức vô lý và không phù hợp trong điều kiện địa phương có đa số phụ huynh khó khăn như chi mua phân bón, xơ dừa, chi mua ba xe đất (để trồng cây xanh), chi phóng to bằng khen thưởng, ép lụa, chi lắp đặt hệ thống báo trộm, chi mua đềcan, sọt rác... Trong báo cáo thu chi này có cả khoản chi “bồi dưỡng kế toán - thủ quỹ” (1 triệu đồng), phụ huynh chúng tôi xem xong chỉ biết lắc đầu hỏi nhau xem khoản đó là khoản gì.

Trong buổi họp phụ huynh, nhiều người trong chúng tôi đều bức xúc trước cách quản lý thu chi quỹ phụ huynh của trường. Quỹ này lẽ ra phải do ban đại diện cha mẹ học sinh quản lý nhưng ở đây chúng tôi thấy hiệu trưởng đích thân chi và bản sơ kết thu chi cũng do hiệu trưởng ký. Không biết vai trò của ban đại diện cha mẹ học sinh ở đâu khi đầu năm tổ chức thu 150.000 đồng quỹ phụ huynh là số tiền do nhà trường đưa ra và phụ huynh chúng tôi chỉ biết đóng chứ không biết tiền sẽ dự chi vào việc gì, cũng không ai hỏi ý kiến chúng tôi một câu. Quá bức xúc, tôi giơ tay phát biểu với cô giáo chủ nhiệm rằng nhà trường không nên đưa con số cụ thể mà hãy để phụ huynh tự nguyện đóng góp theo khả năng của từng người. Cô giáo nói sẽ ghi nhận ý kiến của tôi và báo lại ban giám hiệu.

Trong số chúng tôi người làm công nhân, người thì lao động chân tay, chỉ một số ít là công chức nhưng ai cũng nghĩ đến tương lai của con mình nên không ai dám ý kiến. Vì vậy năm ngoái chúng tôi phải đóng 150.000 đồng quỹ ban đại diện, năm nay tiếp tục đóng số tiền như vậy. Vợ tôi đi đóng tiền cho con, nhà trường bảo tiền quỹ ban đại diện không ép nhưng vì đây là trường điểm nên ai cũng phải đóng. Tôi nghe nói nhiều phụ huynh không đóng thì con họ không được xếp lớp.

Nhà trường cũng vừa phát phiếu tạm thu tiền học kỳ I và dự kiến các khoản thu trong năm học mới, phụ huynh chúng tôi phải đóng rất nhiều khoản lẻ mẻ như tiền phù hiệu, tiền sổ liên lạc, nước uống, tiền quét dọn vệ sinh rồi lại tiền vệ sinh lớp bán trú. Quỹ ban đại diện vẫn phải đóng song song với tiền cơ sở vật chất 20.000 đồng/năm, tiền cơ sở vật chất bán trú 100.000 đồng/năm theo quy định.

Tôi nhớ Bộ GD-ĐT quy định các trường không được lạm thu, quỹ của ban đại diện cha mẹ học sinh là hoàn toàn tự nguyện, không trường nào được ép buộc phụ huynh đóng tiền. Nhưng ở trường hợp của chúng tôi, nói không ép nhưng không đóng tiền thì trở thành “khác người”, bao nhiêu con mắt của giáo viên và những phụ huynh khác nhìn vào, ai cũng sợ con mình bị ghẻ lạnh. Vì lẽ đó, nhiều người trong chúng tôi bức xúc cũng chẳng dám nói, ráng vay mượn để đóng cho qua chuyện. Để rồi số tiền mồ hôi nước mắt của chúng tôi được chi vô tội vạ, mà chúng tôi thì không một lần được giơ tay có ý kiến.

V.H. (một phụ huynh lớp 4 ở TP.HCM)

Áp lực đến hẹn lại lên

Tôi có hai con, đứa đầu năm nay vào lớp 8, đứa thứ hai năm nay vào lớp 2. Mới đóng tiền đầu năm cho đứa lớn đã thấy “méo mặt”. Tổng các khoản học phí chính khóa, bán trú, tiền ăn tháng đầu, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn... là 1,44 triệu đồng. Đó là chưa kể tiền sách giáo khoa, tiền tập vở, dụng cụ học tập thêm 220.000 đồng, tiền đồng phục cho bốn bộ quần áo mặc hằng ngày và một bộ đồ thể dục là 800.000 đồng. Như vậy, mới lo cho đứa lớn đã 2,64 triệu đồng. Riêng cô con gái thứ hai thì trường chưa có thông báo về mức thu đầu năm nhưng mới chi khoản đồng phục và sách giáo khoa, tập vở, cặp... là 1,1 triệu đồng.

Năm nào cũng vậy, vợ chồng tôi thật sự rất mệt mỏi với các khoản thu đầu năm học. Tôi cũng biết nhà trường rất khó khăn trong thời kỳ bão giá hiện nay, các khoản tiền cũng cần tăng để nhà trường chi tiêu cho phù hợp. Nhưng lương công chức của cả hai vợ chồng tôi tổng cộng chỉ có 5,2 triệu đồng, đầu năm đóng tiền học cho con xong, trả tiền điện, nước, xăng xe... là coi như cả nhà nhịn ăn. Đó là vẫn còn may, vì hiện tại nhà trường vẫn chưa tăng học phí chính khóa, nếu tăng nữa thì chúng tôi cũng chưa biết tính sao.

Từ khi cháu lớn đi học mầm non đến nay, tôi đã ý thức được áp lực của việc đóng tiền trường cho con nên đã tích cóp hằng tháng để dành tiền đóng học phí và phòng khi ốm đau. Tuy nhiên, gần một năm nay, giá thực phẩm tăng ào ào, mỗi bữa ăn tôi phải tính toán chi li từng đồng mà vẫn không có khoản dư như mình mong muốn. Trước mỗi bữa ăn, cả ông xã và hai con nhìn mâm cơm than: “Sao đợt này mẹ cứ cho ăn đậu hoài, hết đậu hũ chiên lại đến canh bí đỏ đậu phộng, ngán lắm”. Tôi rất băn khoăn nhưng không biết xoay xở thế nào để chu toàn mọi việc. Con mình được đi học đàng hoàng, được ăn đầy đủ chất dinh dưỡng và ngon miệng... thật sự là bài toán khó đối với người nội trợ.

Chị T.H. (phụ huynh ở Q.1, TP.HCM)
LƯU TRANG - HOÀNG HƯƠNG ghi

Nguồn: tuoitr.vn

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Tiếng Việt lớp 3 đánh đố học sinh

Cứ ngỡ rằng chương trình lớp 3 là "chuyện nhỏ", vậy mà nếu không nhờ đến sự trợ giúp của Google thì có lẽ con trai tôi đã không hoàn thành bài tập ngay trong sách giáo khoa.

Con trai thứ hai của tôi tên Luck, năm nay cháu vào lớp 3. Hàng ngày ba và mẹ thay nhau dạy thêm cho Luck môn Toán và Tiếng Việt vì khá nhiều cháu trong lớp tranh thủ hè đi học thêm đã đến 1/3 chương trình.

Nhìn đề bài tập làm văn: "Em hãy nói về Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh" (với các gợi ý: Đội được thành lập ngày nào? Những đội viên đầu tiên là ai? Đội được mang tên Bác Hồ khi nào?), đầu óc tôi lùng bùng. Hỏi Luck: "Ở trường cô dạy con chưa?" - Luck đáp: "Không biết đâu!". Mẹ lật tìm sách giáo khoa Tiếng Việt 3, nhưng chẳng có bài giảng nào về Đội. Bực bội lắm nhưng vì con, đành phải xách cái máy tính xuống và gõ vào Google "Đội TNTP", lập tức đã có ngay vô số đường link chờ sẵn.

Đọc cho con viết: "Đội TNTP Hồ Chí Minh được thành lập ngày 15.5.1941, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng CSVN sáng lập tại Cao Bằng. Những đội viên đầu tiên của Đội là: Nông Văn Dền (đội trưởng, tức Kim Đồng), Nông Văn Thàn, Lý Văn Tịnh, Lý Thị Nạ, Lý Thị Xậu". Nhưng lại đau đầu nữa là những link chính thống này không thấy nói đến ngày Đội được mang tên Bác. Lại Google tiếp "Ngày Đội mang tên Bác", thì may quá, cũng đã có mấy người tìm không ra nên lên mạng hỏi và có vài người hào hiệp trả lời. Người thì chắc chắn: Ngày 30.1.1970, người thì nhớ mang máng: Sau khi Bác Hồ mất, năm 1970. Và  tôi đọc tiếp cho Luck: "Đội được mang tên Bác Hồ vào ngày 30.1.1970 sau khi Bác qua đời"!

Sang cuốn vở bài tập tiếng Việt. Bài tập có nội dung: "Tìm và viết vào chỗ trống những tiếng có thể ghép vào trước hoặc sau tiếng "khăng" - yêu cầu phải viết được 3 từ". Luck vẫn: "Không biết đâu!". Mẹ đành phải đọc cho Luck và cũng chỉ được 2 từ "khăng khăng", "khăng khít". Còn 1 từ nữa, mẹ đành vào Google tìm "khăng" và được giải nghĩa "đánh khăng - một trò chơi dân gian của VN". Tôi thở phào bởi nhìn hình minh họa trên web thì có lẽ ở miền Trung người ta không gọi "đánh khăng" nên không biết!

Luck làm xong bài, hai mẹ con thả bộ ra nhà sách. Có lẽ vì ấm ức chương trình Luck vừa học, nên tôi cứ loanh quanh khu quầy sách lớp 3. Nào là "Giải đề tập làm văn mẫu", "155 bài tập làm văn hay", "Giải sách tiếng Việt", "Giải vở bài tập tiếng Việt", "Giải sách Toán", "Giải vở bài tập Toán", "Học Toán nâng cao", "Tiếng Việt nâng cao"...

Lật thử đến phần giải trong cuốn “Giải vở bài tập tiếng Việt”, thứ gì cũng có. Tôi tần ngần nửa muốn mua, nửa không. Mua về thì Luck sẽ dễ ỉ lại, mỗi khi làm bài cứ việc giở đáp án ra xem, không mua thì nhiều khi trình độ của mẹ không đủ để dạy con.

Trên đường về nhà, tôi bỗng suy nghĩ và nhụt chí với ý định đăng ký học MBA. Có nên không khi mà chương trình lớp 3 mình còn chưa làm được hết?!

Theo Lê Hà Mai Thảo

Lao Động

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2011

Phá sản “hai không”?

"Chúng ta đang chống lại bệnh thành tích nhưng cách đánh giá hiện nay (qua thi cử, qua các chỉ tiêu, tỉ lệ) khiến các địa phương phải chạy theo thành tích", ông Hồ việt Hiệp, nguyên Giám đốc Sở GD-ĐT An Giang, nhận định.

Hơn 50 tỉnh thành có tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp trên 90%. Dẫn đầu là Nam Định với tỉ lệ 99,89%. Cũng ở tỉnh này, 100% học sinh hệ giáo dục thường xuyên đậu tốt nghiệp. Nhiều chuyên gia giáo dục đặt vấn đề có cần phải tổ chức kỳ thi tốt nghiệp như hiện nay.

Học sinh Trường Marie Curie, TP.HCM chúc mừng nhau sau khi biết kết quả thi tốt nghiệp - Ảnh: Như Hùng

Theo số liệu Tuổi Trẻ thu nhận được, khoảng 37 tỉnh thành có tỉ lệ tốt nghiệp trên 95%, trong đó có 12 tỉnh thành tốt nghiệp đạt trên 99%. Dẫn đầu là Nam Định 99,89%, kế tiếp là Ninh Bình 99,78%.

Vụ "bắt tay" nới lỏng chấm thi tốt nghiệp:

Chưa kết luận vì nhạy cảm

Hôm qua 21-6, Bộ GD-ĐT đã nhận được báo cáo của các tỉnh ĐBSCL về việc tổ chức họp thống nhất phương án chấm các môn thi tự luận. Bộ GD-ĐT đã tổ chức họp để phân tích tình hình trên cơ sở các báo cáo của các tỉnh, nhưng do đây là vấn đề nhạy cảm, liên quan đến quyền lợi của nhiều thí sinh nên Bộ GD-ĐT chưa thể có kết luận về việc này.

Tăng trên 68%

Đáng nói là những tỉnh thuộc các khu vực khó khăn năm nay có tỉ lệ tốt nghiệp nhảy vọt. 12/13 tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc năm nay đều có tỉ lệ tốt nghiệp hệ THPT từ trên 91% trở lên.

Gây ngạc nhiên cho nhiều người là Tuyên Quang với tỉ lệ 99,76%, vươn lên đứng thứ ba cả nước. Điện Biên từ một tỉnh đứng thứ 63 cả nước năm 2010 với 71% đậu tốt nghiệp thì năm nay vươn lên 95,65%. Sơn La từ vị trí cuối bảng xếp hạng năm 2009, sau hai năm cũng vọt lên 97,79%. Bắc Kạn tuy là tỉnh duy nhất của khu vực miền núi phía Bắc đạt kết quả tốt nghiệp dưới 90% (88,70%) nhưng so với năm 2010, tỉ lệ này đã tăng gần 20%.

Khu vực ĐBSCL năm nay cũng có tỉ lệ tốt nghiệp hệ THPT tăng cao với 10/12 tỉnh có kết quả tốt nghiệp đạt trên 90%, trong đó có ba tỉnh đạt trên 97%. Hai tỉnh Vĩnh Long và Bến Tre có tỉ lệ tốt nghiệp thấp hơn so với các tỉnh trong khu vực (86,56% và 84,15%) nhưng so với chính các tỉnh này năm 2010 cũng cao hơn. Trong đó, Bến Tre là một trong hai tỉnh ở ĐBSCL không tham gia thỏa thuận hướng dẫn chấm thi các môn tự luận (tỉnh còn lại là Tiền Giang). Ở khu vực này, Hậu Giang là tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp tăng nhiều nhất, từ 88,67% lên 97,97%.

Ở hệ giáo dục thường xuyên, tỉ lệ tốt nghiệp năm nay còn tăng rõ hơn. Trong số các tỉnh thành đã gửi báo cáo về Bộ GD-ĐT, có khoảng 31 tỉnh thành có tỉ lệ tốt nghiệp đạt từ 91% trở lên, trong đó có 12 tỉnh thành đạt 99% trở lên. Nam Định đạt tỉ lệ tốt nghiệp 100% ở hệ giáo dục thường xuyên. Theo số liệu từ các tỉnh thành, tỉ lệ tốt nghiệp hệ giáo dục thường xuyên năm nay tăng từ 15% đến trên 60%. Điển hình là Điện Biên có tỉ lệ tốt nghiệp 88,86%, tăng trên 68% so với năm 2010.

Trong số các tỉnh có báo cáo, chỉ có hai tỉnh là An Giang và Tiền Giang năm nay có tỉ lệ tốt nghiệp hệ giáo dục thường xuyên dưới 50%. Nhiều tỉnh thành có nhiều trung tâm giáo dục thường xuyên tốt nghiệp 100%, như Bắc Giang 11/16 trung tâm, Ninh Bình 6/8 trung tâm, Bắc Ninh 6/14 trung tâm.

Tỉ lệ có từ đầu năm

Tỉ lệ tốt nghiệp cao hẳn nhiên tỉnh nào cũng vui. Nhưng đã đến lúc không còn nhiều người dám tin tỉ lệ này phản ánh được hiệu quả giáo dục tỉnh đó. Bởi lẽ, nói như một giám đốc sở phía Nam, “nếu coi tỉ lệ đậu là hiệu quả giáo dục, bộ nên tuyên dương những nơi có tỉ lệ tốt nghiệp giáo dục thường xuyên xấp xỉ hoặc đạt 100%, cao hơn cả tỉ lệ tốt nghiệp THPT của tỉnh đó. Và có lẽ cả nước phải đến những nơi đó để học tập kinh nghiệm, bí quyết!”.

Vị giám đốc trên dám nói điều này bởi không phải đến năm nay mà từ nhiều năm trước, người ta đã phát hiện có tình trạng buông lỏng trong khâu coi thi để đẩy tỉ lệ đậu tốt nghiệp của địa phương lên cao. Vì sao các tỉnh cứ chạy đua tỉ lệ ảo này? Ở nhiều tỉnh thành, tỉ lệ đậu tốt nghiệp đã được đưa vào kế hoạch thi đua từ đầu năm học. Khi tất cả các tỉnh thành đều thấp như nhau thì không sao. Nếu tỉnh bạn tăng vọt mà tỉnh mình (vì coi thi thật thà, nghiêm túc) mà tỉ lệ thấp, lãnh đạo sở sẽ khó nói chuyện với cấp trên.

Giám đốc một sở GD-ĐT khác tại ĐBSCL lý giải: “Cách xếp hạng hiện nay khiến giám đốc sở bị áp lực rất lớn với dư luận và chính quyền địa phương, từ đó khó mà trung thực được”.

Ông Hồ Việt Hiệp, nguyên giám đốc Sở GD-ĐT An Giang, cho biết: “Từ kỳ thi năm ngoái, một số tỉnh tuy không có văn bản như các tỉnh ĐBSCL nhưng đã “hợp tác” chấm chéo nhằm đối phó với Bộ GD-ĐT và để có kết quả đẹp. Qua đó cho thấy cuộc vận động “hai không” đến nay không còn nữa, các tỉnh chủ yếu cục bộ địa phương, ai cũng muốn bảo vệ lợi ích của tỉnh mình. Chúng ta đang chống lại bệnh thành tích nhưng cách đánh giá hiện nay (đánh giá qua thi cử, qua các chỉ tiêu, tỉ lệ) khiến các địa phương phải chạy theo thành tích”.

Thi thế này thì thi làm gì?

Thực hiện không tốt sẽ thành dối trá

“Kết quả thi tốt nghiệp THPT tùy thuộc ba yếu tố: đề thi - đáp án (dễ hay khó), coi thi (nghiêm túc hay thả lỏng) và khâu chấm thi như thế nào. Nếu thực hiện nghiêm túc cả ba khâu này, tỉ lệ tốt nghiệp mới thể hiện đúng hiệu quả chất lượng từng địa phương. Nếu thực hiện không tốt một trong ba khâu trên, tỉ lệ tốt nghiệp sẽ trở thành chuyện thành tích, tiêu cực và dối trá trong giáo dục. Nếu có tỉ lệ cao, khoan khen ngợi, tỉ lệ thấp cũng đừng vội phê bình”.

Ông Nguyễn Trọng Nhân (trưởng phòng khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục Sở GD-ĐT Tây Ninh)

Từ những lý do trên, ông Hồ Việt Hiệp cho rằng không cần thiết tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT nữa, tốn kém mà không phản ánh được thực chất bởi tỉnh nào cũng gần 100%. Các tỉnh nếu tổ chức thi chắc tỉ lệ cũng như vậy, thế thì tổ chức kỳ thi quốc gia làm gì?

Một cựu giám đốc sở GD-ĐT khu vực miền Trung nhận xét: “Mấy năm nay, người trong ngành đã thấy chấm chéo không giải quyết vấn đề gì. Trước sau rồi Bộ GD-ĐT cũng phải bỏ, vì phiền phức, tốn kém. Một kỳ thi cồng kềnh nhưng không hiệu quả đến lúc phải tiếp tục thay đổi”. Theo vị lãnh đạo này, năm 2011 chỉ riêng kinh phí chi cho kỳ thi của một tỉnh đã đến trên 10 tỉ đồng. Tính chi phí của cả nước còn lớn đến đâu, nhưng điều toàn dân mong đợi là “kết quả thực chất” vẫn không giải quyết được.

Về điều này, GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: “Ngay từ đầu khi Bộ GD-ĐT tiến hành thi cụm, chấm chéo tôi đã nghĩ là không thể giải quyết được vấn nạn thi cử, chỉ tạo thêm tốn kém, phiền phức”. Còn GS Nguyễn Lân Dũng nhận xét: “Thi cụm, chấm chéo chỉ là giải pháp đối phó, tốn kém mà không đạt được mục đích là có một kết quả đánh giá thực chất”.

GS Văn Như Cương thẳng thắn bày tỏ: “Khi bộ có sáng kiến thi cụm, chấm chéo, tôi cũng chờ đợi hiệu quả của việc này nhưng khó có thể nói giải pháp này có hiệu quả khi đến trên 50 tỉnh thành có kết quả thi cao, nhiều nơi cao đột biến”.

Trao đổi với Tuổi Trẻ xung quanh việc nên hay không nên có kỳ thi tốt nghiệp THPT khi tỉ lệ tốt nghiệp đã đạt đến sát ngưỡng 100%, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho rằng kỳ thi tốt nghiệp không chỉ nhằm một việc là đánh giá học sinh mà còn để đánh giá mặt bằng chất lượng giáo dục của các địa phương. Kết quả thi tốt nghiệp là một trong những căn cứ quan trọng để soi rọi và tác động trở lại việc dạy học, việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông trên toàn quốc. Mục đích của kỳ thi không phải để chăm chăm đánh trượt học sinh mà là để các nhà trường, giáo viên, học sinh cố gắng.

Giao cho địa phương

Trước thực tế này, ông Trần Thanh Đức - giám đốc Sở GD-ĐT Tiền Giang - cho rằng không thể thấy kết quả quá cao mà bỏ thi tốt nghiệp THPT, việc bỏ thi khi chưa có những chuẩn bị cần thiết là không khoa học. “Theo quan điểm cá nhân tôi thì từ từ không cần tổ chức một kỳ thi cấp quốc gia nữa mà giao cho từng địa phương tổ chức. Để thực hiện việc này, cần phải có nhiều giải pháp song song, trong đó có việc cải tiến thi tuyển sinh ĐH-CĐ” - ông Đức đề nghị.

Ông Hồ Việt Hiệp cũng đề nghị bộ giao lại cho các địa phương tổ chức sát hạch để tập trung cho kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ nhằm giảm bớt sự nặng nề, tốn kém. Ông Hiệp cho rằng: “Chúng ta đã bỏ thi tốt nghiệp THCS và kết quả giáo dục vẫn đảm bảo. Việc đánh giá chất lượng giáo dục qua kết quả tốt nghiệp là không khách quan bởi chất lượng phải đánh giá trên nhiều yếu tố khác nữa”.

Đồng tình với việc “không nên bỏ thi” trong bối cảnh hiện tại, GS Nguyễn Minh Thuyết bình luận: “Nếu kết quả tốt nghiệp 98-99% kia là thực chất thì quá tốt và tôi nghĩ cũng không cần thiết phải tổ chức một kỳ thi quốc gia tốn kém làm gì. Nhưng vấn đề ở chỗ kết quả đó không thực chất. Vì vậy thay vào việc bàn chuyện bỏ thi thì nên tính phương án làm gì để kỳ thi gần với thực chất hơn. Kỳ thi nghiêm túc trong tình thế chất lượng giáo dục còn chưa ổn sẽ giúp ngành giáo dục có cơ sở điều chỉnh chương trình - sách giáo khoa, phương pháp dạy học, đánh giá, đầu tư vào những khâu còn yếu, thiếu...”. GS Thuyết đề nghị nên giao kỳ thi về cho các địa phương tự chịu trách nhiệm. Vì khi phải tự chịu trách nhiệm, người ta sẽ có trách nhiệm cao hơn. Bộ GD-ĐT nên lo các việc to lớn hơn là ôm quá nhiều việc như hiện nay.

GS Văn Như Cương cũng có quan điểm đồng nhất với GS Thuyết khi cho rằng “nên đưa kỳ thi về địa phương, để các sở GD-ĐT tổ chức thi, ra đề, chấm thi”. Và như vậy hoàn toàn có thể chấp nhận việc đề thi tốt nghiệp ở Hà Nội khó hơn Lai Châu do điều kiện, chất lượng giáo dục khác biệt. Nếu làm như thế, kết quả thi sẽ thực chất hơn bây giờ.

Vượt ngưỡng trước “hai không”

Trước tình trạng thiếu thực chất trong thi cử, với nhiều hiện tượng tiêu cực xảy ra trên cả nước khiến tỉ lệ tốt nghiệp từ năm 2006 trở về trước cao ngất ngưởng, năm 2007, lãnh đạo Bộ GD-ĐT đã phát động cuộc vận động “Nói không với bệnh thành tích và tiêu cực trong thi cử”, gọi tắt là “hai không". Nhiều người đã ví “hai không” như luồng gió mới làm lung lay tình trạng trì trệ của giáo dục nước nhà thời gian đó. Tỉ lệ tốt nghiệp THPT năm 2007 tụt thê thảm xuống còn 66,72%.

Bàng hoàng, nhưng nhiều người trong ngành GD-ĐT đã vui mừng vì hi vọng chất lượng giáo dục từ đó sẽ thay đổi. Năm 2008, tỉ lệ tốt nghiệp nhích lên 75,96%. Năm 2009, để củng cố kết quả của “hai không”, Bộ GD-ĐT áp dụng phương thức “thi cụm, chấm chéo”. Tỉ lệ tốt nghiệp năm đó vẫn tăng lên 83,8%. Năm 2010, tỉ lệ tốt nghiệp là 92,57%.

Theo thông tin chúng tôi nắm được, năm nay tỉ lệ tốt nghiệp THPT có khả năng sẽ vượt cả năm 2006! Năm năm đổi mới thi cử để quay lại tỉ lệ tốt nghiệp như trước, theo Bộ GD-ĐT, đó là nỗ lực của ngành GD-ĐT trong việc khắc phục tình trạng học sinh yếu, kém, nâng chất lượng dạy học. Nhưng nhiều người trong cuộc lại đang băn khoăn khi cho rằng đó là bằng chứng sự phá sản của “hai không”.

TR.V.HÀ - P.ĐIỀN - M.GIẢNG

Nguồn: tuoitre.vn

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

Điệp khúc: Năm sau cao hơn năm trước

Tuy chưa có thống kê chính thức từ phía Bộ GD-ĐT, nhưng các con số do các địa phương công bố đã cho thấy kết quả kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) năm học 2010-2011 là một “kỳ tích” đáng nể.

Điệp khúc: Năm sau cao hơn năm trước

Kết quả kỳ thi THPT năm 2011 rất "đáng nể" về tỉ lệ đậu tốt nghiệp.

Gọi là “kỳ tích” bởi vì, chỉ mới ba năm sau đỉnh cao của phong trào “hai không” (nói không với bệnh thành tích và tiêu cực trong thi cử) thì năm nay, thành tích học tập của thí sinh cả nước nói chung đã phát triển vượt bậc.

Ở một tỉnh vùng cao như tỉnh Cao Bằng, nếu tỷ lệ đậu tốt nghiệp THPT năm học 2006-2007 chỉ 27,78%, thì năm học 2010-2011, tỷ lệ này đã vọt lên 93,73%. Hệ giáo dục thường xuyên kết quả còn cao hơn, đạt 94,18%. Tỉnh Ninh Thuận, năm học 2006-2007 có 68,2% thí sinh đậu tốt nghiệp, thì năm nay con số đó là 91,85%.

Tại Hải Phòng, chánh văn phòng sở Giáo dục-đào tạo Đỗ Văn Lợi cho biết, tỷ lệ đậu tốt nghiệp THPT năm nay đạt 99,08%, vượt xa kỳ thi 2007 chỉ đạt 76,9%. Một tỉnh có điều kiện còn khó khăn như tỉnh Kon Tum cũng có tỷ lệ thí sinh đậu cao không kém gì thí sinh Hà Nội, tới 97,31% (Hà Nội là 97,79%) so với năm 2007 chỉ đạt 55,5%. Thậm chí địa phương này còn có tới 8 trường đạt tỷ lệ đậu tốt nghiệp 100%. Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2011 cũng được ghi nhận là kỳ thi có số hội đồng thi đạt tỷ lệ tốt nghiệp 100% nhiều nhất từ trước tới nay.

Nhiều nhà giáo cho biết, họ không tài nào tin được kết quả kỳ thi năm nay lại “ngất ngưỡng” như vậy, dù đó không phải là cái gì quá sức bất ngờ.

Không bất ngờ, vì kết quả trên đã được dự báo từ trước đó.

Ngay sau khi kỳ thi diễn ra, PGS Văn Như Cương đã khẳng khái nhận định gần như chắc chắn, “sẽ có cuộc họp báo của bộ để tổng kết một cuộc thi thắng lợi. Như thường lệ, điệp khúc năm nay tốt hơn năm ngoái sẽ được lặp lại. Nào là rất nghiêm túc, rất trật tự, phao thi không còn rải trắng sân trường; nào là số thí sinh bị kỷ luật giảm mạnh…”. Không cần đến những chi tiết mà báo chí cung cấp để tạo scandal như cái biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi của 11 tỉnh thành tại đồng bằng sông Cửu Long, hay động tác điều chỉnh đáp án chấm thi môn văn vào giờ chót của bộ, với động thái ra đề thi được các nhà giáo đánh giá là thoáng hơn nhiều so với các năm trước, và số thanh tra ủy quyền của bộ bất ngờ giảm mạnh, từ 9.000 người năm 2009 xuống còn 600 năm 2011, rõ ràng nhận định trên của PGS Cương là rất có cơ sở.

Theo GS.TS Nguyễn Xuân Hãn – đại học Quốc gia Hà Nội, hãy khoan đặt câu hỏi liệu kết quả kỳ thi năm nay có phản ánh đúng chất lượng giáo dục, khi hiện tại cái gọi là chất lượng giáo dục THPT của chúng ta vẫn còn rất mơ hồ. Theo ông, việc kết quả kỳ thi tú tài - hay tốt nghiệp THPT hàng năm có tỷ lệ đậu cao là phản ánh đúng thực chất và phù hợp quy luật trong tình trạng nền giáo dục hiện tại của nước nhà.

Cả nước đến giờ phút này đã có trên 400 trường đại học, cao đẳng. Trong số đó, hơn 300 trường đại học và cao đẳng của các địa phương mới được nâng cấp hoặc mới thành lập trong vòng 10 năm qua. Tuy áp lực lên các trường đại học có tên tuổi ở hai trung tâm lớn là Hà Nội và TP.HCM vẫn chưa giảm, nhưng không thể không nhận thấy hiện tượng là một bộ phận lớn thí sinh ở các tỉnh năm 2011 đã chọn cửa dự thi vào các trường đại học tại địa phương mình. Thống kê cho thấy, một số trường đại học địa phương được khá đông thí sinh chọn đăng ký dự thi, như đại học Hải Phòng có khoảng 10.000 hồ sơ của thí sinh Hải Phòng đăng ký dự thi; tại tỉnh Vĩnh Phúc, trường cao đẳng Vĩnh Phúc cũng đứng đầu bảng về lượng hồ sơ với gần 3.000 bộ; đại học Hồng Đức của tỉnh Thanh Hoá hút hơn 10.000 hồ sơ của các thí sinh thuộc tỉnh và lân cận. Số hồ sơ dự thi vào trường đại học An Giang chiếm gần phân nửa thí sinh của địa phương này: 11.000 bộ.

Thậm chí, mang danh là đại học vùng như Đại học Cần Thơ, đến 80% số hồ sơ thí sinh tại Cần Thơ (gần 19.000 bộ) đăng ký dự thi vào đây...

Bất chấp thực tế rất khập khiễng giữa đội ngũ giảng viên, cùng cơ sở vật chất của các nhà trường, nhu cầu đào tạo đội ngũ lao động có bằng cấp tương đương đại học của các địa phương vẫn là một đòi hỏi chính đáng. Và, điều đó cho thấy, thành tích "đáng nể" của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2010-2011 vừa qua chẳng qua chỉ là kết quả của làn sóng đã bùng nổ trong khoảng mấy năm gần đây và vẫn đang còn tiếp diễn.

Theo NHƯ THUẦN, SGTT ONLINE

“Xì-căng-đan” chấm thi tốt nghiệp ở Đồng bằng Sông Cửu Long: Thỏa thuận để cho điểm vô tư!

Để điểm thi môn Ngữ văn đạt kết quả cao, các chuyên viên bộ môn Ngữ văn của 11 sở GD-ĐT các tỉnh ĐBSCL đã có cuộc họp vào ngày 5/6 tại TP Cần Thơ, ra “Biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2011 môn ngữ văn”.
Thực chất đây là thỏa thuận để “nâng cao chất lượng” bằng cách cho điểm “vô tư”, thoát ly hẳn hướng dẫn chấm thi môn này của Bộ GD-ĐT.

Đề thi tốt nghiệp THPT môn ngữ văn năm nay được dư luận nhận định là hay, phù hợp với phương pháp giảng dạy mới. Nhận được nhiều lời khen nhất chính là câu đầu tiên trong đề thi năm nay. Cụ thể, câu 1 (2,0 điểm) hỏi: “Trong đoạn cuối của truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kỹ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó nói lên điều gì?”. Tuy nhiên, với hướng dẫn chấm thi của Bộ GD-ĐT, nhiều học sinh đã bị mất điểm ở câu 1, mặc dù tổ chấm chúng tôi đã rất cố gắng “đọc hiểu” giùm cho học sinh cũng như vận dụng linh hoạt hướng dẫn chấm thi của bộ. Câu 2 và câu 3 kết quả đạt được cũng không khả quan vì kỹ năng vận dụng kiến thức của học sinh còn hạn chế.

Kết thúc đợt chấm thi, chúng tôi cảm thấy buồn và ray rứt vì kết quả đạt được không như mình mong đợi, nhưng vui vì mình đã đánh giá khách quan thực lực của người học.

 
“Biên bản thống nhất...” của lãnh đạo bộ môn ngữ văn được lập vào ngày 5-6 tại TP Cần Thơ.

Từ bàng hoàng và phẫn nộ...

Giữa lúc chúng tôi đang tự đánh giá, rút kinh nghiệm về cách dạy của mình, một người bạn đã cho chúng tôi “Biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2011 môn ngữ văn” (theo tinh thần cuộc họp triển khai đáp án của 11 tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ngày 5-6-2011 tại Cần Thơ). Đọc biên bản này, cảm xúc đầu tiên của chúng tôi là bàng hoàng và phẫn nộ. Làm sao không bàng hoàng và phẫn nộ khi cuộc họp triển khai đáp án thực chất là một cuộc gặp gỡ của các chuyên viên bộ môn ngữ văn với mục đích là thỏa thuận để “nâng cao chất lượng” bằng cách cho điểm “vô tư” bài làm của thí sinh - thoát ly hẳn hướng dẫn chấm thi của Bộ GD-ĐT! Làm sao không bàng hoàng và phẫn nộ khi thỏa thuận này lại là một văn bản phi khoa học đến vậy! Với cách triển khai và vận dụng hướng dẫn chấm thi như thế này, theo tôi, học sinh không cần phải nhớ các chi tiết nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm, không cần phải học cách đọc văn bản tác phẩm văn chương và cũng không cần phải học cách viết một bài văn nghị luận.

Bởi vì, theo biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi từ cuộc họp triển khai đáp án của 11 tỉnh khu vực ĐBSCL ngày 5-6-2011 tại Cần Thơ mà chúng tôi có được, để trả lời cho câu hỏi thứ nhất: “Trong đoạn cuối của truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kỹ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào?”, học sinh thay vì nhớ và tái hiện chính xác các chi tiết: màu hồng hồng của ánh sương mai (0,5 điểm); người đàn bà vùng biển (người đàn bà hàng chài) bước ra từ tấm ảnh (0,5 điểm) thì có thể trả lời đại khái, qua loa vẫn đạt điểm như hướng dẫn chấm của bộ. Cụ thể, biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi tại Cần Thơ triển khai đáp án như sau:

Câu 1:

Những hình ảnh thường hiện lên là :

Ý 1: Học sinh nêu được một trong các ý sau được 0,5 điểm:

- Màu hồng hồng - Ánh sương mai - Chiếc thuyền - Chiếc thuyền lưới vó ở ngoài khơi tiến vào… màu sương mờ…

Ý 2: Nêu được một trong các ý sau cho 0,5 điểm: - Hình ảnh người đàn bà - Người đàn bà hàng chài -lNgười đàn bà trong chiếc thuyền bước ra

Như vậy, học sinh dù trả lời không đầy đủ, không rõ ràng, thậm chí trả lời sai hoàn toàn vẫn đạt điểm tối đa (!) (Đáng lưu ý là các hình ảnh “- Chiếc thuyền” và “- Chiếc thuyền lưới vó ở ngoài khơi tiến vào… màu sương mờ…” là hoàn toàn không có trong đoạn cuối của truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu)!

Về ý nghĩa của hình ảnh, theo hướng dẫn chấm thi của bộ, những hình ảnh đó nói lên: chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn của cuộc sống (0,5 điểm); hiện thực về số phận lam lũ, khốn khó của con người (0,5 điểm). Sau này, trong văn bản số 3749/BGDĐT-KTKĐCLGD v/v hướng dẫn bổ sung chấm thi môn ngữ văn kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2011, ký ngày 8-6-2011, theo tinh thần đề mở và đáp án mở, để bảo đảm đúng nguyên tắc chấm thi, đồng thời khuyến khích những sáng tạo của thí sinh trong bài thi, ý 2 của câu 1 được bổ sung như sau:

a) Nếu thí sinh không trả lời trực tiếp, cụ thể như trong đáp án mà nêu được ý tưởng nghệ thuật của tác giả về mối quan hệ giữa nghệ sĩ với hiện thực, nghệ thuật với cuộc sống: có thể cho từ 0,5 điểm trở lên, với điều kiện tổng số điểm cho ý này không quá 1,0 điểm.

b) Nếu thí sinh phân tích kỹ và sâu sắc ý đã nêu: Có thể cho tới tối đa 1,0 điểm, với điều kiện tổng số điểm cho ý này không quá 1,0 điểm”.

Trong khi đó, biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi từ cuộc họp triển khai đáp án của 11 tỉnh khu vực ĐBSCL ngày 5-6-2011 tại Cần Thơ, thống nhất cho điểm ý 2 của câu 1 là:

Ý 3: Nêu được một trong các ý sau cho 0,5 điểm: - Chất thơ hoặc lãng mạn, vẻ đẹp nghệ thuật - Biểu tượng nghệ thuật…

Ý 4: Nêu được một trong các ý sau cho 0,5 điểm: - Hiện thực về số phận lam lũ hoặc khốn khó… - Bức tranh đời sống hoặc hiện thực…

Ngoài ra, với ý 3 và ý 4, học sinh có thể nêu một trong các ý sau cho 1,0 điểm: - Mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống - Cái nhìn đa chiều, toàn diện

Lưu ý:

- Không trừ điểm khi học sinh nêu dư ý trong bài làm - Không tính lỗi chính tả -lKhông yêu cầu viết thành đoạn văn”.

Mặt khác, một số chi tiết, theo thiển nghĩ của tôi, cũng chưa hẳn chính xác. Chẳng hạn, về ý nghĩa của hình ảnh “màu hồng hồng của ánh sương mai”, thay vì câu trả lời đúng là “chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn của cuộc sống” thì biên bản thống nhất hướng dẫn chấm của 11 tỉnh khu vực ĐBSCL lại nêu là “Chất thơ hoặc lãng mạn, vẻ đẹp nghệ thuật”.

Theo một giáo viên dạy môn ngữ văn ở tỉnh Tiền Giang, năm nay chỉ có 73% thí sinh  ở tỉnh này đạt điểm trung bình môn này. Nếu chấm theo “Biên bản thống nhất...” của 11 tỉnh ĐBSCL thì 100% thí sinh tỉnh Tiền Giang sẽ đạt điểm trung bình môn ngữ văn.

Phải chăng để có niềm vui trọn vẹn mà đối với câu 2 trong đề thi (3,0 điểm - tạo lập văn bản nghị luận xã hội), biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi của 11 tỉnh khu vực ĐBSCL cũng đã có những triển khai hết sức vô lý. Theo đó, câu 2, chỉ cần “Học sinh nắm vững kỹ năng làm văn, bố cục có 3 phần : MB - TB - KB (mở bài – thân bài – kết bài – ghi chú của  tòa soạn), nội dung dù có sơ sài cho tối thiểu: 1,5 điểm” hay “Học sinh trình bày theo hướng lập thân, lập nghiệp trong tương lai (hợp lý) thì tối đa: 2,0 điểm”. Từ hướng dẫn chấm này, việc giảng dạy của giáo viên sẽ rất nhẹ nhàng, bởi vì các em viết lạc đề vẫn đạt 2 điểm, hay nội dung bài viết có sơ sài đi nữa thì các em vẫn đạt hơn 1,5 điểm!

 
.... đến kinh hoàng!
 
Phần hướng dẫn chấm câu 3 (5,0 điểm - tạo lập văn bản nghị luận văn học) càng kinh  hoàng hơn. Về mặt lý thuyết, để viết được một bài văn nghị luận về một đoạn thơ, học sinh phải có năng lực cảm nhận, phải biết phương pháp phân tích một đoạn thơ. Học sinh phải biết cách phân tích một hình tượng nhân vật... Và, bài viết đạt điểm tốt, cần phải bảo đảm các yêu cầu về kỹ năng, kiến thức. Tuy nhiên, khi đọc biên bản thống nhất nêu trên, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng. So với hướng dẫn chấm của bộ thì hướng dẫn chấm của 11 tỉnh khu vực ĐBSCL đã “mở rộng đến vô cực”. Xin trích dẫn dưới đây:

Câu 3a: Thống nhất với hướng dẫn chấm, song giám khảo cần thống nhất các tình huống sau đây:

- Về kỹ năng, bài đủ 3 phần: MB - TB - KB, nội dung không đầy đủ → cho ít nhất: 2,0 điểm.

- Về nội dung: Bức tranh thiên nhiên nêu được ý hùng vĩ, thơ mộng → cho trọn: 1,5 điểm.

- Về nghệ thuật:

+ Nêu được một vài ý về nghệ thuật (không cần nêu triệt để): 1,0 điểm

+ Không nêu được nghệ thuật: trừ 1,0 điểm.

-  Phân tích nội dung và nêu được một vài ý nghệ thuật: vẫn được trọn 4,0 điểm.

- Phân tích nội dung trước rồi mới nêu nghệ thuật sau: chỉ cho tối đa 4,5 điểm.

- Diễn xuôi đoạn thơ: cho từ 2,5 - 3,0 điểm

- Đánh giá chung hoặc kết luận: vẫn cho 0,5 điểm…

Câu 3b: Thống nhất với hướng dẫn chấm, song giám khảo cần thống nhất các tình huống sau đây:

- Về kỹ năng, bài đủ 3 phần: MB - TB - KB, nội dung không đầy đủ → cho ít nhất: 2,0 điểm.

- Phân tích nhân vật, đôi chỗ còn hạn chế (kể chuyện): tối thiểu 3,5 điểm.

- Bài làm sa vào kể lể, nặng về tóm tắt truyện hay hoàn toàn tóm tắt cốt truyện: tối đa 2 điểm…”.

Như vậy, cuộc họp triển khai đáp án của 11 tỉnh khu vực ĐBSCL ngày 5-6-2011 tại Cần Thơ đã gần như thoát ly hướng dẫn chấm của bộ. Nếu như tỉnh, thành nào cũng có những bước đi “đột biến” như vậy thì đâu cần hướng dẫn chấm thi thống nhất của bộ! Điều này cũng có nghĩa là học sinh không cần phải lo lắng khi đi thi môn ngữ văn vì chỉ cần các em “biết gì viết nấy”, đừng bỏ giấy trắng, cứ viết đầy trang thì thế nào cũng có điểm, thậm chí còn có điểm tốt, vì đã có thầy cô “đãi cát tìm văn” giúp các em. Vậy là với cách làm này, trò có điểm tốt, thầy có học sinh đỗ cao, trường đạt được thành tích đề ra!

 

Vì sao và tại sao?

Khi đọc hướng dẫn chấm này, chúng tôi không khỏi băn khoăn. Một biên bản thỏa thuận phi khoa học như thế này mà cũng được xem là “Biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi...” cho một kỳ thi cấp quốc gia sao?  Với một biên bản triển khai và thống nhất hướng dẫn chấm như thế, khi xem kết quả trên bảng điểm của thí sinh, những giáo viên giảng dạy môn ngữ văn sẽ nghĩ gì? Họ có vui và hạnh phúc trước những số điểm được “ban phát” từ tình thương và tấm lòng nhân hậu của các chuyên viên bộ môn ngữ văn của các tỉnh, của các giám khảo, trong đó có bản thân mình? Và các em học sinh, các em có vui vì đạt được kết quả tuyệt vời như thế này? 

Do đâu lại có cuộc họp triển khai đáp án của 11 tỉnh khu vực ĐBSCL ngày 5-6-2011 tại Cần Thơ? Và còn các khu vực khác, có hay không những cuộc họp “triển khai” đáp án giữa những tỉnh, TP được phân công chấm chéo lẫn nhau? Rõ ràng với cách tổ chức kiểm tra đánh giá như thế này, những trăn trở, ưu tư của giáo viên khi vận dụng hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng; vận dụng cách đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng; việc cập nhật kiến thức, cải tiến phương pháp dạy học sẽ chẳng còn ý nghĩa gì! 

 

Theo Đỗ Thị Lê (Giáo viên Trường THPT chuyên Tiền Giang)

Người Lao Động

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2011

Đề án giáo dục 70.000 tỉ đồng: Không thể chắp vá

- Về đề án “Đổi mới chương trình - sách giáo khoa phổ thông sau năm 2015” của Bộ GD-ĐT, TS Phạm Thị Ly - phó giám đốc phụ trách Trung tâm Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, ĐH Quốc gia TP.HCM - cho rằng:



Cải cách giáo dục - hãy bắt đầu bằng việc cải cách tiền lương cho giáo viên. Trong ảnh: giáo viên thể dục Trường THCS Độc Lập, Q.Phú Nhuận, TP.HCM trong một tiết dạy - Ảnh: H.HG.

- Nhiều người tỏ ra bức xúc, phẫn nộ trước con số 70.000 tỉ đồng cho một đề án cải cách. Thật ra chúng ta có thể nhìn vấn đề theo một cách khác: số tiền lớn như thế dự kiến đổ vào giáo dục là một dấu hiệu cho thấy Nhà nước ý thức rất rõ tầm quan trọng của việc tạo ra những thay đổi có tính cốt lõi cho giáo dục.

70.000 tỉ đồng có lãng phí hay không thì phải nhìn vào chỗ số tiền ấy chi cho những việc gì, dựa trên quan điểm và tầm nhìn như thế nào và đạt được kết quả ra sao. Nếu 70.000 tỉ đồng mà “thay máu” được hệ thống giáo dục, để con em chúng ta được học làm người, để không thầy cô nào phải bán điểm, không học trò nào có thể mua được bằng cấp, để nhà trường không bị thương mại hóa, để không ai phải “tị nạn giáo dục”... thì số tiền ấy không phải là lãng phí.

Tuy nhiên, trong bối cảnh những vấn đề sống còn của giáo dục như triết lý giáo dục, chính sách và chiến lược phát triển giáo dục còn chưa được giải quyết thì 70.000 tỉ đồng cho việc biên soạn sách giáo khoa và trang thiết bị là một việc khiến người ta phải kinh hãi.

Bộ Giáo dục - đào tạo tiếp thu các góp ý

Trao đổi với Tuổi Trẻ về đề án đổi mới chương trình sách giáo khoa sau năm 2015, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết: Để có những căn cứ khoa học và thực tiễn, trước khi xây dựng đề án này Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo thực hiện nhiều công trình nghiên cứu khoa học nhằm tổng kết đánh giá việc thực hiện chương trình sách giáo khoa của các giai đoạn trước và học hỏi kinh nghiệm quốc tế.

Trong quá trình xây dựng đề án, Viện Khoa học giáo dục VN đã gửi dự thảo cho một số tổ chức, cơ quan để xin ý kiến góp ý. Hiện nay, dự thảo đề án cũng đã được chỉnh sửa nhiều lần qua việc tiếp thu các ý kiến góp ý từ các tổ chức và cá nhân. Trong thời gian tới Bộ GD-ĐT sẽ chỉ đạo Viện Khoa học giáo dục VN và ban soạn thảo đề án tiếp tục nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến góp ý để nâng cao chất lượng dự thảo, hoàn thiện đề án, trình các cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.

TRỊNH VĨNH HÀ

* Thưa bà, trong bối cảnh như hiện nay, có cần thiết thực hiện một cuộc cải cách giáo dục ở bậc phổ thông hay không? Và nên bắt đầu từ khâu nào đầu tiên?

- Một đề án cải cách giáo dục là tuyệt đối cần thiết, như nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nhiều lần kêu gọi. Chuyện cần thiết nhất phải làm, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã nêu ra từ lâu, là bảo đảm cho thầy cô giáo sống được bằng đồng lương mà không phải làm gì khác. Đáng tiếc, lời hứa đó đến nay vẫn chưa thành hiện thực.

Chừng nào thầy cô giáo còn bị đối xử như hiện nay (về sự đãi ngộ) thì không có bất cứ cải cách nào có thể thành công, vì người thầy là linh hồn của một nền giáo dục. Tư cách người thầy quan trọng gấp ngàn lần so với trường sở khang trang, thiết bị hiện đại.

Khi người thầy được bảo đảm đủ sống thì chuyện cấp bách tiếp theo là cải cách hệ thống thi cử, cải cách chương trình và phương pháp giảng dạy.

* Theo bà, dự thảo đề án của Bộ GD-ĐT đã thuyết phục chưa?

- Dù có hàng ngàn trang quy định chặt chẽ cách xây dựng một đề án thì người ta vẫn có thể có hàng vạn cách đối phó. Qua nhiều cấp xét duyệt không phải là cách duy nhất bảo đảm tính đúng đắn của một đề án cải cách giáo dục.

Tôi nghĩ giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, nó ảnh hưởng đến tất cả mọi gia đình, mọi người, bất kể ở lứa tuổi nào, thành phần xã hội và học vấn ra sao. Vì vậy, hãy minh bạch nội dung đề án ấy trước 80 triệu cặp mắt. Không ai không mong muốn đổi mới giáo dục. Câu hỏi chỉ là “đổi mới như thế nào” mà thôi.

* Để không lặp lại “vết xe đổ” của những lần cải cách giáo dục trước đây, lần cải cách sắp tới cần khắc phục những điều gì?

- Trong cải cách giáo dục, điều quan trọng nhất là mọi quyết định phải dựa trên chứng cứ khoa học. Không thể “thử và sai”, “vừa làm vừa học” trong giáo dục, vì cái giá phải trả rất đắt. Cái giá phải trả không chỉ là 70.000 tỉ đồng mà có thể còn nhiều hơn nữa. Cái giá phải trả là tương lai của một dân tộc. Cho nên phải cấp bách thực hiện việc nghiên cứu thực tiễn giáo dục và kinh nghiệm quốc tế một cách nghiêm túc, với những chuẩn mực khoa học chặt chẽ, để trả lời những câu hỏi cần phải giải quyết.

Phải thẳng thắn nhìn vào những khiếm khuyết của hệ thống giáo dục hiện tại, xác định đúng nguyên nhân để sửa từ gốc, nếu không tất cả chỉ là chắp vá, ta vá chỗ này thì hở ra chỗ khác. Ngay cả những vấn đề ở tầm thấp hơn cũng cần dựa trên chứng cứ khoa học để ra quyết định.

Chính sách giáo dục cần dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học, chứ không phải cần nghĩ ra các “đề tài nghiên cứu” đủ loại để minh họa cho chính sách.

HOÀNG HƯƠNG thực hiện

Nguồn: tuoitre.vn

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

Trò không sợ điểm kém nhưng thầy sợ

Nghe đâu đó người ta lên án, phê phán ngành giáo dục, giáo viên chúng tôi cũng chột dạ, cảm thấy có lỗi. Nhưng chính bản thân chúng tôi như những người mắc trong đám kẹt xe, cứ phải lầm lũi mệt nhọc mà tiến, không cách nào thoát ra được.




Cứ cuối mỗi năm học, tổng kết điểm, báo cáo các loại số liệu, xét danh hiệu thi đua, chúng tôi đều cảm thấy mệt mỏi, thậm chí gần như đuối sức vì phải chạy theo những thành tích ảo - được thổi phồng thành những số liệu và tỉ lệ rất đẹp nhưng không biết để làm gì.

Cuối năm, rất nhiều giáo viên khóc dở mếu dở vì không được xét hoàn thành nhiệm vụ năm học. Chẳng phải vì dạy dở, vì vi phạm đạo đức nhà giáo, vì bỏ giờ trễ tiết... mà chỉ vì không đạt chỉ tiêu đặt ra. Thấp hơn 85% học sinh đạt điểm trung bình trở lên thì không được xét hoàn thành nhiệm vụ năm học. Không quá 90% học sinh đạt điểm trung bình trở lên thì không được xét lao động tiên tiến. Bất kể môn học nào và bất kể tình hình học sinh như thế nào, giáo viên bắt buộc phải đạt chỉ tiêu trên nếu không muốn bị mất danh hiệu thi đua.

Lẽ tất yếu, ai ai cũng cố đạt cho được cái chỉ tiêu cao ngất ngưởng đó (đương nhiên không phải do sự hấp dẫn của khoản tiền thưởng cuối năm 100.000 đồng dành cho lao động tiên tiến và 70.000 đồng dành cho hoàn thành nhiệm vụ) bởi chẳng ai muốn trong hồ sơ lý lịch của mình lại có những năm “không hoàn thành nhiệm vụ” (và việc nâng lương dĩ nhiên cũng vì thế mà chậm lại).

Thật ra đạt được chỉ tiêu như vậy hoàn toàn không hề khó chút nào. Bài kiểm tra nếu không quá 50% học sinh trên điểm trung bình thì giáo viên phải cho kiểm tra lại lần 2, lần 3... (cho đến khi nào đạt được tỉ lệ đó thì thôi). Đối với những bài thi học kỳ không thể cho kiểm tra lại thì giáo viên phải đưa đề cương ôn tập sát với đề thi trước. Nên có nghịch lý trớ trêu là mỗi lần có bài kiểm tra thì người sợ bị điểm kém không phải học sinh mà là giáo viên!

(Buồn thay tình hình này xuất hiện ở cả cấp tiểu học. Hôm nghe kết quả thi học kỳ của con trai đang học lớp 1: có 45/47 em đạt học sinh giỏi, tôi buột miệng khen các con giỏi ghê. Con trai tôi “bật mí”: bài thi đã được cô cho làm trước nhiều lần rồi, đến khi thi chỉ việc chép lại thôi!).

Học sinh đi học không sợ điểm kém, không sợ lưu ban nên rất khó bảo và ngang ngược. Có nhiều người không giữ được bình tĩnh nên đã có những hành vi thiếu kiềm chế bị quay clip tung lên mạng. Dư luận xã hội lại được dịp phê phán chê bai giáo viên đủ cả. Nhưng ít ai biết được rằng phần lớn chúng tôi đều phải kiềm chế hết mức, mỗi ngày đi dạy về đều rất mệt mỏi và bức bối. Trớ trêu thay, giáo viên đi dạy phải sợ học trò!

Đối với giáo viên dạy các môn thi tốt nghiệp tình hình còn căng thẳng hơn. Vì sau mỗi kỳ thi tốt nghiệp sẽ có bảng thống kê tỉ lệ đậu rớt theo từng bộ môn, từng giáo viên giảng dạy. (Bất luận tình hình đầu vào như thế nào, cho dù điểm tuyển sinh của trường này chỉ bằng 1/3 của trường kia thì tỉ lệ tốt nghiệp cũng phải được so sánh ngang bằng nhau). Giáo viên cũng theo tỉ lệ đó mà được đánh giá nên ai nấy đều cực kỳ căng thẳng. Chúng tôi đều phải “dạy dỗ” theo đúng nghĩa - dỗ dành học sinh học được chữ nào mừng chữ ấy!

Chúng tôi thường ao ước “bao giờ cho đến ngày xưa”, khi học sinh đi học đều phải lo lắng bài vở của mình, sợ bị điểm kém, sợ bị thầy cô phê bình, sợ thi rớt. Còn giáo viên sẽ được thoải mái dạy dỗ và đánh giá học sinh một cách khách quan, không bị áp lực của những chỉ tiêu “trên trời” kia nữa.

ANH MINH - tuoitre.vn

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2011

Làm ngơ trước thực tế giáo dục

Trước giải thích của những người trong ban soạn thảo đề án “Đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015”, nhiều chuyên gia giáo dục tiếp tục trao đổi về những vấn đề mà theo họ “Bộ GD-ĐT không nghĩ đến hoặc cố tình không hiểu”.

Chương trình - sách giáo khoa hiện thời đã thực hiện 10 năm nhưng chưa được tổng kết, nghiên cứu nghiêm chỉnh để rút kinh nghiệm. Trong ảnh: học sinh chọn mua sách giáo khoa tại một nhà sách ở TP.HCM - Ảnh: Như Hùng

Dự thảo lần thứ 13 đề án này với gần 30 trang được một số nhà khoa học, giáo dục ví như “bản nháp vội”. Ý kiến gần như đồng nhất của một số nhà giáo dục mà Tuổi Trẻ đã gặp đều cho rằng vấn đề đáng nói ở chỗ “bản nháp vội” lại một lần nữa thể hiện cách làm ngược.

Bắt cháu đẻ ra... ông

Ngay trong hội thảo do Liên hiệp Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tổ chức đầu tháng 6, GS Chu Hảo, nguyên thứ trưởng Bộ Khoa học - công nghệ, đã nói: Khi Bộ GD-ĐT dự thảo chiến lược giáo dục VN 2008-2020, nhiều người đã nói đến một “quy trình ngược” mà Bộ GD-ĐT áp dụng. Bởi dự thảo đặt ra rất nhiều mục tiêu nhưng việc cần làm trước là cải cách giáo dục, khắc phục những bất cập thì chưa làm. Việc này không khác gì chuyện “bắt con đẻ ra cha”.

Năm 2008, việc xây dựng “chiến lược” không hoàn thành được, đến nay vẫn chưa, sau gần 20 dự thảo. Bây giờ, chiến lược giáo dục chưa công bố, việc cải cách giáo dục cũng không được tính đến, Bộ GD-ĐT lại triển khai xây dựng chương trình - sách giáo khoa (SGK) mới. Đây không khác gì chuyện “bắt cháu đẻ ra ông”.

Trước phát biểu của đại diện Bộ GD-ĐT cho rằng họ đang làm đúng chủ trương của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục mà việc đổi mới chương trình - SGK chỉ là một “nhánh” của công việc này, GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng chủ trương thì đúng nhưng cách làm thì không. Và người góp ý đang muốn đề cập đến “cách làm”. Ví như người ta muốn thay đổi ngôi nhà đã cũ kỹ, xuống cấp thì cần gia cố, xây dựng lại nền móng cho vững, chứ không phải lo đi lợp lại cái mái.

Về vấn đề này, GS Nguyễn Ngọc Phú, phó chủ tịch Hội Tâm lý - giáo dục Việt Nam, cho biết: không nên vin vào “nghị quyết” để bảo vệ một việc làm không đúng quy trình và chắc chắn không mang lại hiệu quả. Cách làm của Bộ GD-ĐT, xét ở khía cạnh khoa học là không ổn. Vì với thực trạng giáo dục hiện nay, những nhà quản lý giáo dục cần phải nghĩ đến việc “sửa từ gốc”. Có nghĩa là phải làm một cuộc cải cách. Nếu muốn tránh từ “cải cách” mà dùng từ “đổi mới căn bản, toàn diện” cũng cần phải rà soát từ gốc rễ. Phải có những nghiên cứu sâu để làm rõ nền giáo dục có chỗ nào bất ổn. Và phải bắt đầu từ những bất ổn đó để xây dựng lại hệ thống giáo dục, xây dựng lại triết lý giáo dục. Như vậy, phân tích kỹ lưỡng thì “đổi mới căn bản, toàn diện” cũng có nghĩa là “cải cách”. Chứ “đổi mới căn bản, toàn diện” không thể chỉ là việc xây dựng một chương trình - SGK mới trên cái nền có quá nhiều bất ổn.

GS Nguyễn Ngọc Phú băn khoăn: Nếu Bộ GD-ĐT nhìn thấy được những bất ổn mà nhiều nhà giáo dục tâm huyết đã nhắc đến thì hẳn họ phải đi một con đường khác. Còn họ vẫn làm theo cách hiện nay, bỏ qua những góp ý của những người tâm huyết thì chỉ có thể giải thích là họ nghĩ “giáo dục không có gì khủng hoảng”.

Những điều “cần” lại không có

Một số chuyên gia giáo dục cho rằng những vấn đề mấu chốt cần bàn, cần sửa không thấy có trong đề án. Giống như bác sĩ không chẩn đúng bệnh, những bất ổn của giáo dục kéo dài đã và sẽ tạo nên khủng hoảng và sự xuống cấp về chất lượng giáo dục.

GS Nguyễn Ngọc Phú và GS Nguyễn Minh Thuyết đều khẳng định việc cần làm là tổ chức nghiên cứu mô hình giáo dục trong tương lai, mô hình có thể khắc phục nhiều điểm yếu hiện nay của nền giáo dục. GS Phú cho rằng rất cần nghiên cứu mô hình sau THPT, học sinh không thi đại học mà lấy kết quả thi tốt nghiệp THPT để làm cơ sở vào học một số trường đại học nhất định. Một hệ thống giáo dục mới như thế nào thì còn cần phải bàn nhiều nhưng nhất định phải được tính đến, phải được nghiên cứu và phải được làm trước khi xây dựng chương trình - SGK.

Đồng quan điểm, GS Nguyễn Ngọc Phú cho rằng: “Rất cần phải có những cách đánh giá chương trình, môn học và SGK đang được sử dụng, cho dù chỉ là những đánh giá khái quát nhưng lại rất quan trọng để làm cơ sở cho các đề xuất thay đổi. Nhưng tiếc là nội dung này không có trong bản dự thảo đề án”. GS Chu Hảo cũng bày tỏ bức xúc về cách làm lạ của Bộ GD-ĐT: “Một chương trình - SGK thực hiện 10 năm nhưng không hề có một sự tổng kết, nghiên cứu nghiêm chỉnh để rút kinh nghiệm, làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng cái mới”.

Nếu xây dựng một chương trình, viết một bộ SGK mới mà những vấn đề nêu trên chưa được nghiên cứu, phân tích, định hướng thay đổi trong tương lai, theo các giáo sư, cách làm này đang đi lại “vết xe đổ” của sai lầm cũ.

TRỊNH VĨNH HÀ

* GS PHẠM PHỤ (Trường ĐH Bách khoa - ĐHQG TP.HCM):

Quy trình chưa hợp lý

Quy trình thực hiện đề án cải cách giáo dục như nhóm soạn thảo đưa ra là chưa hợp lý. Cần có một chiến lược phát triển giáo dục tổng thể của đất nước, trong đó xác định rõ ràng 5, 10 hay 15 năm tới giáo dục phổ thông sẽ ra sao, giáo dục đại học, dạy nghề sẽ như thế nào. Từ chiến lược này mới soạn thảo riêng cho đề án cải cách giáo dục phổ thông, chứ cách làm như hiện nay chưa khoa học và tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Trên thế giới hiện nay có ba hướng tiếp cận giáo dục: tiếp cận nội dung, tiếp cận mục đích và tiếp cận phát triển. Đề án nêu định hướng là tiếp cận năng lực nhưng tôi vẫn thấy thiếu một ý quan trọng: đó là cách dạy làm người.

* TS MAI NGỌC LUÔNG (nguyên giám đốc Trung tâm nghiên cứu giáo dục phổ thông, Viện Nghiên cứu giáo dục - ĐH Sư phạm TP.HCM):

Duy ý chí

Tôi thấy đề án này là duy ý chí, thiếu các điều kiện cần và đủ để đề án khả thi. Trước hết phải xác định được sự phát triển về kinh tế - khoa học - văn hóa - xã hội của đất nước trong những năm tới ra sao. Cứ tính sự phát triển này với cột mốc năm năm một, trên cơ sở đó mới xác định tiếp đất nước cần nhân lực như thế nào để đáp ứng sự phát triển đó. Chứ cách làm đề án cải cách giáo dục như hiện nay giống như nhắm mắt đi ra giữa đường, không bám sát thực tiễn phát triển của đất nước.

Một điều mà tôi đã góp ý rất nhiều lần trên các phương tiện truyền thông là chương trình phổ thông hiện hành thiếu triết lý giáo dục, nay với đề án mới vẫn thiếu cái này. Cần phải xác định mục tiêu đào tạo của chúng ta là gì, có những phẩm chất nào. Ví dụ: con người khoa học - dân tộc - hội nhập hay con người khoa học - dân tộc - đại chúng... Chứ cứ nói đào tạo những con người toàn diện là hết sức chung chung và không thuyết phục.

* PGS.TS TRẦN THÀNH TRAI (Trường ĐH Mở TP.HCM):

Hạn hẹp

Trước hết, những người soạn thảo đề án cần nêu ra hiện trạng giáo dục ở nước ta như thế nào, mục tiêu giáo dục - đào tạo trong tương lai ra sao. Mục tiêu giáo dục mà đề án đưa ra chưa phù hợp với tình hình đất nước, nó hạn hẹp và có vẻ như chỉ nhằm giải quyết một tình thế nào đó.

Vấn đề của giáo dục Việt Nam không chỉ là sách giáo khoa, không chỉ có bậc phổ thông. Cải cách giáo dục là việc làm cần thiết, cần làm ngay. Nhưng phải xác định trước chúng ta cần đào tạo nên những con người ra sao, ví dụ chúng ta cần những con người biết giải quyết các vấn đề của cuộc sống, có đạo đức, tư cách, phong thái của người Việt Nam. Từ đó soạn thảo một chương trình thống nhất giữa các cấp học từ mẫu giáo đến đại học chứ không thể làm theo kiểu “cắt khúc” như hiện nay.

HOÀNG HƯƠNG ghi

Nguồn: tuoitre.vn

Bài đăng phổ biến