Hiển thị các bài đăng có nhãn Đọc và suy ngẫm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đọc và suy ngẫm. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2011

Sử dụng bài trình chiếu trong môn Toán học như thế nào thì hiệu quả?

      Ý kiến 1:

      Gần đây phong trào sử dụng bài giảng điện tử (BGĐT) trong các nhà trường diễn ra phải nói là rất rầm rộ. Mình được biết có những trường do Hiệu trưởng yêu Tin học nên phát động phong trào thi làm BGĐT mỗi tháng/lần, và giáo viên mỗi người dạy 1 tiết có sử dụng BGĐT sẽ được hỗ trợ 50k... Tuy nhiên, đối với môn Toán Học, có thầy- cô cho rằng đặc trưng của bộ môn này khác hoàn toàn các môn khác, vì học sinh cần phải thực hành biến đổi từ cái này sang cái kia... nên chỉ có thể sử dụng phương pháp truyền thống "Phấn trắng bảng đen", không thể dùng bài trình chiếu để thay thế.

Thiết nghĩ, thời đại Công nghệ số mà không giúp được giáo viên Toán hạn chế hít bụi phấn trong giờ lên lớp được hay sao? Quý thầy- cô giúp em thảo luận vấn đề này với ạ. Rằng dạy học Toán thì sử dụng bài trình chiếu như thế nào cho hiệu quả ạ?

     Ý kiến 2:

      Đơn giản là vì các thầy cô đó không biết phần mềm nào dùng để dạy cho môn Toán. Phần lớn các thầy cô chỉ biết đến phần mềm PowerPoint và dùng PowerPoint như một công cụ đa năng để giải quyết và mô tả mọi vấn đề trong dạy học .

Em cũng đồng ý với quan điểm dùng PowerPoint để dạy toán thì thà dạy bằng phấn trắng-bảng đen còn hơn.

     Ý kiến 3:

Không hiểu từ đâu mà các giáo viên nhà ta cho rằng sử dụng CNTT trong dạy học nghĩa là phải làm một bài trình chiếu bằng PowerPoint, và sử dụng bài trình chiếu đó một cách liên tục trong thời gian giảng dạy. Họ đưa lên từ cái đề mục: Một la mã, hai la mã, cho chữ chạy ra chạy vào, màu đổi màu, nhấp nháy... rồi tìm cách trang trí phông nền cho thật bắt mắt, đưa vào các ảnh động đậy cho bài trình chiếu thêm... sinh động. Thế mới gọi là áp dụng công nghệ thông tin.

Mình nhớ hồi còn học ở trường SP, bản thân cô giáo dạy môn Phương pháp trong trường cũng từng nói về việc đi dự giờ các tiết thi GVDG, cô là một thành viên trong ban giám khảo, và cô đánh giá rất cao những bài giảng điện tử của những giáo viên mà chữ bắn ra bắn vào, đung đưa, kéo qua kéo lại (chắc là cô nghĩ để làm được như vậy là mất công lắm, trình độ phải siêu lắm chứ không biết rằng đó chỉ là một trong các hiệu ứng có sẵn của bản thân chương trình). Rồi những lần chuyên viên phòng về góp ý cho các bài giảng đi thi của giáo viên, cũng quan điểm như vậy, và lại còn chỉ rõ: đã đi thi giáo viên dạy giỏi thì phải xây dựng bài giảng điện tử bằng phần mềm PowerPoint (lại còn chỉ đích danh tên phần mềm mới chết chứ). Thế rồi lại lấy đâu ra việc chấm giáo án thông qua việc xem bài giảng điện tử. Và gọi chung là Giáo án điện tử (nếu không nhầm thì diễn đàn mình cũng đã tốn không ít page view cho chủ đề này). Thì từ đó ra chứ từ đâu ra nữa. Đến cấp trên còn mơ hồ, còn chỉ đạo sai thì giáo viên làm sao làm đúng được?

Khi chuyển sang trường Quốc tế, mình cũng chứng kiến những chuyện nực cười không kém, nhưng là chuyện với PHHS. Khi bộ phận tuyển sinh quảng cáo rầm rộ là trường ứng dụng CNTT hàng đầu trong dạy học, PHHS yêu cầu được biết danh sách các phần mềm dạy học mà trường sử dụng. Tuyển sinh hào hứng thông báo 100% các thầy cô sử dụng thành thạo phần mềm PowerPoint để soạn giảng và ngã ngửa khi PHHS phát biểu một câu: "Tôi đã đi đến nhiều nước và được biết đến nhiều nền giáo dục của các quốc gia, nhưng tôi không hiểu sao ở Việt Nam họ lại dùng PowerPoint để làm công cụ giảng dạy, và tôi phản đối việc dùng PowerPoint để dạy cho con tôi". Lời phát biểu đó của vị PHHS đã làm thay đổi hẳn quan điểm của lãnh đạo nhà trường, và ngay lập tức họ phải ký kết và làm hợp đồng đào tạo với những tổ chức cung cấp phần mềm dạy học. Nhưng nghe đâu giá trị hợp đồng cũng tương đối lớn.

Tóm lại, việc cần làm lúc này để cải thiện được tình hình lạm dụng PowerPoint trong dạy học là phải giới thiệu đến cho các thầy cô các phần mềm chuyên dụng trong việc dạy học. Thế nhưng biết đến là một chuyện, có được nó là chuyện khác. Các nhà trường, các thầy cô giáo liệu có sẵn sàng bỏ ra một khoản tiền không nhỏ để mua phần mềm dạy học, trong khi cơ sở vật của nhà trường còn nghèo nàn, đồng lương cho giáo viên còn ít ỏi. Cũng đáng suy nghĩ và cân nhắc lắm chứ.

CÒN BẠN ? BẠN NGHĨ THẾ NÀO VỀ VẤN ĐỀ NÀY ????

Tác giả: Lại Cao Đằng

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011

Văn hóa đọc bị “lấn át” bởi văn hóa nghe, nhìn

Nhiều ý kiến đóng góp cho văn hóa “đọc sách” tại hội thảo “Văn hóa đọc - phục vụ học tập suốt đời” đã được thảo luận sôi nổi nhằm làm sống lại thói quen bổ ích đã dần bị lấn chiếm bởi văn hóa nghe, nhìn thời hiện đại.

Hội thảo diễn ra ở Thư viện tỉnh TT-Huế sáng nay 8/10 do Thư viện tổng hợp TT-Huế phối hợp với Hội Khuyến học tỉnh TT-Huế và Ngân hàng thế giới tại VN tổ chức. Hội thảo thu hút sự tham gia đông đảo các nhà tri thức Huế, lãnh đạo các nhà xuất bản, Sở GD-ĐT và nhiều HS, SV.

Ông Nguyễn Duy Tờ, giám đốc NXB Thuận Hóa Huế, cho biết hiện giá sách quá cao đã làm ảnh hưởng đến sức mua của người mê sách. Về nội dung, sách có thể quá hàn lâm hay nhảm nhí cũng làm tác động đến tâm lý mua sách.

“Lúc xưa, cứ mỗi giờ ra chơi, tôi và các bạn ào vào thư viện đọc sách ngấu nghiến. Đó là thú vui của lớp trẻ chúng tôi bấy giờ. Đọc sách lúc đó rất vui. Tôi cứ nhớ cuốn sách xưa tuy mỏng nhưng viết rất cô đọng, hay và chứa nhiều hàm lượng kiến thức, tình cảm cần thiết” - ông Tờ nhớ lại.

Ông Nguyễn Duy Tờ, giám đốc NXB Thuận Hóa Huế, cho rằng giá sách cao và sách quá hàn lâm hay nhảm nhí đã khiến bạn đọc xa rời sách.

Ông Nguyễn Hữu Châu Phan, người có tủ sách gia đình đồ sộ với hàng ngàn đầu sách cho hay, nhà ông mở cửa 1 tuần 3 lần vào buổi sáng 2, 4, 6 phục vụ các SV đang làm khóa luận tốt nghiệp hay người làm luận văn thạc sĩ, tiến sĩ đến đọc sách, tra cứu sách.

Trong những năm thập niên 80-90, nhiều HS đến thư viện đường Hai Bà Trưng (do ông Phan phụ trách). Lúc đó, người đến rất đông và khi nào ra về cũng mượn ở mức tối đa 2 đến 3 cuốn sách. Hiện nay, thư viện đang ở tình trạng có ít HS, SV tới đọc sách. Phải chăng là do thư viện không có đủ sách để thu hút các em bởi vì thời hiện đại, các em quan tâm đến những sách làm lợi về kiến thức chuyên ngành và xã hội hơn.

Một góc thư viện sách gia đình cho đọc miễn phí tại tầng 2 nhà ông Nguyễn Hữu Châu Phan. (Ảnh: Nguyên Thọ)

“Một tình trạng làm cho sách dù xuất bản nhiều nhưng ít sách hay là do người có tiền tới NXB để đặt in sách của mình dù sách đó dở hoặc không hay lắm. Những sách hay vì thiếu kinh phí nên phải đợi, có lúc không in được. Vì vậy NXB phải cố gắng để xuất bản ngày càng nhiều sách hay hơn nữa để thu hút người đọc nhằm hình thành lại văn hóa đọc ở giới trẻ hiện giờ” - ông Phan tâm huyết nói.

Ông Hoàng Đức Bình, phó giám đốc Sở GD-ĐT tỉnh TT-Huế, cho rằng Internet đã làm cho HS,SV “no” về kiến thức xã hội nhưng lại “đói” thông tin về lĩnh vực chuyên môn mà mình tìm kiếm. Tuy nhiên, sự lôi cuốn của Internet đã làm giới trẻ ngày càng xa rời văn hóa đọc.

Tỷ lệ trường chuẩn, thư viện chuẩn tại tỉnh TT-Huế cũng chỉ mới đạt 30%. Trong đó đặc biệt lưu ý các thư viện và trường của khối cấp 3, cấp 3 lại thua khối cấp 1. Chính những khối lớp lớn càng phải tiếp thu kiến thức nhiều hơn từ sách, cho nên cần đầu tư hơn nữa vào thư viện trường cho các em có hứng thú tới đọc sách.

Ông Bình cũng đưa ra một ví dụ hết sức cụ thể là HS phương Tây dù đi đâu cũng mang theo sách để đọc lúc rảnh. Điều này có được do nhà trường ở Tây có dạy kỹ năng đọc sách. Khi nghiên cứu đề tài gì, nhà trường bắt buộc HS phải đọc thật nhiều sách để “chuẩn” vấn đề. Và quan trọng nhất, sách ở Tây rất hấp dẫn người đọc bởi hàm lượng kiến thức chứa trong đó.

“Sắp tới, chúng tôi sẽ về phổ biến với Sở GD-ĐT để tổ chức thêm nhiều buổi hội thảo trong ngành giáo dục nói về văn hóa đọc sách như buổi hội thảo thú vị hôm nay” - ông Bình khẳng định.

Tại hội thảo “Văn hóa đọc - phục vụ học tập suốt đời” có nhiều ý kiến tâm huyết để làm sống lại văn hóa đọc sách.

Để phát triển văn hóa đọc và thu hút người đọc, theo ông Lê Trọng Bình, giám đốc Thư viện tổng hợp tỉnh TT-Huế, thì cần chú trọng xây dựng đội ngũ những nhà viết sách giỏi, có chất lượng trên 2 lĩnh vực: sách nghiên cứu và sách mang tính phổ cập. Chế độ ưu đãi phải phù hợp để người viết sách có được những cuốn sách chất lượng cao và được xuất bản với giá mà người dân có thể chấp nhận mua được. Và Nhà nước cần có chính sách trợ giá cho các loại sách viết cho thanh thiếu niên, đặc biệt là những thiếu niên nghèo, sống ở vùng sâu vùng xa.

Đại Dương

Nguồn: Dân Trí

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

Đề án giáo dục 70.000 tỉ đồng: Không thể chắp vá

Về đề án “Đổi mới chương trình - sách giáo khoa phổ thông sau năm 2015” của Bộ GD-ĐT, TS Phạm Thị Ly - phó giám đốc phụ trách Trung tâm Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, ĐH Quốc gia TP.HCM - cho rằng:



Cải cách giáo dục - hãy bắt đầu bằng việc cải cách tiền lương cho giáo viên. Trong ảnh: giáo viên thể dục Trường THCS Độc Lập, Q.Phú Nhuận, TP.HCM trong một tiết dạy - Ảnh: H.HG.

- Nhiều người tỏ ra bức xúc, phẫn nộ trước con số 70.000 tỉ đồng cho một đề án cải cách. Thật ra chúng ta có thể nhìn vấn đề theo một cách khác: số tiền lớn như thế dự kiến đổ vào giáo dục là một dấu hiệu cho thấy Nhà nước ý thức rất rõ tầm quan trọng của việc tạo ra những thay đổi có tính cốt lõi cho giáo dục.

70.000 tỉ đồng có lãng phí hay không thì phải nhìn vào chỗ số tiền ấy chi cho những việc gì, dựa trên quan điểm và tầm nhìn như thế nào và đạt được kết quả ra sao. Nếu 70.000 tỉ đồng mà “thay máu” được hệ thống giáo dục, để con em chúng ta được học làm người, để không thầy cô nào phải bán điểm, không học trò nào có thể mua được bằng cấp, để nhà trường không bị thương mại hóa, để không ai phải “tị nạn giáo dục”... thì số tiền ấy không phải là lãng phí.

Tuy nhiên, trong bối cảnh những vấn đề sống còn của giáo dục như triết lý giáo dục, chính sách và chiến lược phát triển giáo dục còn chưa được giải quyết thì 70.000 tỉ đồng cho việc biên soạn sách giáo khoa và trang thiết bị là một việc khiến người ta phải kinh hãi.

Bộ Giáo dục - đào tạo tiếp thu các góp ý

Trao đổi với Tuổi Trẻ về đề án đổi mới chương trình sách giáo khoa sau năm 2015, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết: Để có những căn cứ khoa học và thực tiễn, trước khi xây dựng đề án này Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo thực hiện nhiều công trình nghiên cứu khoa học nhằm tổng kết đánh giá việc thực hiện chương trình sách giáo khoa của các giai đoạn trước và học hỏi kinh nghiệm quốc tế.

Trong quá trình xây dựng đề án, Viện Khoa học giáo dục VN đã gửi dự thảo cho một số tổ chức, cơ quan để xin ý kiến góp ý. Hiện nay, dự thảo đề án cũng đã được chỉnh sửa nhiều lần qua việc tiếp thu các ý kiến góp ý từ các tổ chức và cá nhân. Trong thời gian tới Bộ GD-ĐT sẽ chỉ đạo Viện Khoa học giáo dục VN và ban soạn thảo đề án tiếp tục nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến góp ý để nâng cao chất lượng dự thảo, hoàn thiện đề án, trình các cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.

TRỊNH VĨNH HÀ

* Thưa bà, trong bối cảnh như hiện nay, có cần thiết thực hiện một cuộc cải cách giáo dục ở bậc phổ thông hay không? Và nên bắt đầu từ khâu nào đầu tiên?

- Một đề án cải cách giáo dục là tuyệt đối cần thiết, như nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nhiều lần kêu gọi. Chuyện cần thiết nhất phải làm, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã nêu ra từ lâu, là bảo đảm cho thầy cô giáo sống được bằng đồng lương mà không phải làm gì khác. Đáng tiếc, lời hứa đó đến nay vẫn chưa thành hiện thực.

Chừng nào thầy cô giáo còn bị đối xử như hiện nay (về sự đãi ngộ) thì không có bất cứ cải cách nào có thể thành công, vì người thầy là linh hồn của một nền giáo dục. Tư cách người thầy quan trọng gấp ngàn lần so với trường sở khang trang, thiết bị hiện đại.

Khi người thầy được bảo đảm đủ sống thì chuyện cấp bách tiếp theo là cải cách hệ thống thi cử, cải cách chương trình và phương pháp giảng dạy.

* Theo bà, dự thảo đề án của Bộ GD-ĐT đã thuyết phục chưa?

- Dù có hàng ngàn trang quy định chặt chẽ cách xây dựng một đề án thì người ta vẫn có thể có hàng vạn cách đối phó. Qua nhiều cấp xét duyệt không phải là cách duy nhất bảo đảm tính đúng đắn của một đề án cải cách giáo dục.

Tôi nghĩ giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, nó ảnh hưởng đến tất cả mọi gia đình, mọi người, bất kể ở lứa tuổi nào, thành phần xã hội và học vấn ra sao. Vì vậy, hãy minh bạch nội dung đề án ấy trước 80 triệu cặp mắt. Không ai không mong muốn đổi mới giáo dục. Câu hỏi chỉ là “đổi mới như thế nào” mà thôi.

* Để không lặp lại “vết xe đổ” của những lần cải cách giáo dục trước đây, lần cải cách sắp tới cần khắc phục những điều gì?

- Trong cải cách giáo dục, điều quan trọng nhất là mọi quyết định phải dựa trên chứng cứ khoa học. Không thể “thử và sai”, “vừa làm vừa học” trong giáo dục, vì cái giá phải trả rất đắt. Cái giá phải trả không chỉ là 70.000 tỉ đồng mà có thể còn nhiều hơn nữa. Cái giá phải trả là tương lai của một dân tộc. Cho nên phải cấp bách thực hiện việc nghiên cứu thực tiễn giáo dục và kinh nghiệm quốc tế một cách nghiêm túc, với những chuẩn mực khoa học chặt chẽ, để trả lời những câu hỏi cần phải giải quyết.

Phải thẳng thắn nhìn vào những khiếm khuyết của hệ thống giáo dục hiện tại, xác định đúng nguyên nhân để sửa từ gốc, nếu không tất cả chỉ là chắp vá, ta vá chỗ này thì hở ra chỗ khác. Ngay cả những vấn đề ở tầm thấp hơn cũng cần dựa trên chứng cứ khoa học để ra quyết định.

Chính sách giáo dục cần dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học, chứ không phải cần nghĩ ra các “đề tài nghiên cứu” đủ loại để minh họa cho chính sách.

HOÀNG HƯƠNG thực hiện - tuoitre.vn

Trò không sợ điểm kém nhưng thầy sợ

Nghe đâu đó người ta lên án, phê phán ngành giáo dục, giáo viên chúng tôi cũng chột dạ, cảm thấy có lỗi. Nhưng chính bản thân chúng tôi như những người mắc trong đám kẹt xe, cứ phải lầm lũi mệt nhọc mà tiến, không cách nào thoát ra được.




Cứ cuối mỗi năm học, tổng kết điểm, báo cáo các loại số liệu, xét danh hiệu thi đua, chúng tôi đều cảm thấy mệt mỏi, thậm chí gần như đuối sức vì phải chạy theo những thành tích ảo - được thổi phồng thành những số liệu và tỉ lệ rất đẹp nhưng không biết để làm gì.

Cuối năm, rất nhiều giáo viên khóc dở mếu dở vì không được xét hoàn thành nhiệm vụ năm học. Chẳng phải vì dạy dở, vì vi phạm đạo đức nhà giáo, vì bỏ giờ trễ tiết... mà chỉ vì không đạt chỉ tiêu đặt ra. Thấp hơn 85% học sinh đạt điểm trung bình trở lên thì không được xét hoàn thành nhiệm vụ năm học. Không quá 90% học sinh đạt điểm trung bình trở lên thì không được xét lao động tiên tiến. Bất kể môn học nào và bất kể tình hình học sinh như thế nào, giáo viên bắt buộc phải đạt chỉ tiêu trên nếu không muốn bị mất danh hiệu thi đua.

Lẽ tất yếu, ai ai cũng cố đạt cho được cái chỉ tiêu cao ngất ngưởng đó (đương nhiên không phải do sự hấp dẫn của khoản tiền thưởng cuối năm 100.000 đồng dành cho lao động tiên tiến và 70.000 đồng dành cho hoàn thành nhiệm vụ) bởi chẳng ai muốn trong hồ sơ lý lịch của mình lại có những năm “không hoàn thành nhiệm vụ” (và việc nâng lương dĩ nhiên cũng vì thế mà chậm lại).

Thật ra đạt được chỉ tiêu như vậy hoàn toàn không hề khó chút nào. Bài kiểm tra nếu không quá 50% học sinh trên điểm trung bình thì giáo viên phải cho kiểm tra lại lần 2, lần 3... (cho đến khi nào đạt được tỉ lệ đó thì thôi). Đối với những bài thi học kỳ không thể cho kiểm tra lại thì giáo viên phải đưa đề cương ôn tập sát với đề thi trước. Nên có nghịch lý trớ trêu là mỗi lần có bài kiểm tra thì người sợ bị điểm kém không phải học sinh mà là giáo viên!

(Buồn thay tình hình này xuất hiện ở cả cấp tiểu học. Hôm nghe kết quả thi học kỳ của con trai đang học lớp 1: có 45/47 em đạt học sinh giỏi, tôi buột miệng khen các con giỏi ghê. Con trai tôi “bật mí”: bài thi đã được cô cho làm trước nhiều lần rồi, đến khi thi chỉ việc chép lại thôi!).

Học sinh đi học không sợ điểm kém, không sợ lưu ban nên rất khó bảo và ngang ngược. Có nhiều người không giữ được bình tĩnh nên đã có những hành vi thiếu kiềm chế bị quay clip tung lên mạng. Dư luận xã hội lại được dịp phê phán chê bai giáo viên đủ cả. Nhưng ít ai biết được rằng phần lớn chúng tôi đều phải kiềm chế hết mức, mỗi ngày đi dạy về đều rất mệt mỏi và bức bối. Trớ trêu thay, giáo viên đi dạy phải sợ học trò!

Đối với giáo viên dạy các môn thi tốt nghiệp tình hình còn căng thẳng hơn. Vì sau mỗi kỳ thi tốt nghiệp sẽ có bảng thống kê tỉ lệ đậu rớt theo từng bộ môn, từng giáo viên giảng dạy. (Bất luận tình hình đầu vào như thế nào, cho dù điểm tuyển sinh của trường này chỉ bằng 1/3 của trường kia thì tỉ lệ tốt nghiệp cũng phải được so sánh ngang bằng nhau). Giáo viên cũng theo tỉ lệ đó mà được đánh giá nên ai nấy đều cực kỳ căng thẳng. Chúng tôi đều phải “dạy dỗ” theo đúng nghĩa - dỗ dành học sinh học được chữ nào mừng chữ ấy!

Chúng tôi thường ao ước “bao giờ cho đến ngày xưa”, khi học sinh đi học đều phải lo lắng bài vở của mình, sợ bị điểm kém, sợ bị thầy cô phê bình, sợ thi rớt. Còn giáo viên sẽ được thoải mái dạy dỗ và đánh giá học sinh một cách khách quan, không bị áp lực của những chỉ tiêu “trên trời” kia nữa.

ANH MINH - tuoitre.vn

Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2011

Giáo viên THPT không dám dạy con học lớp 1

Tuy là giáo viên THPT nhưng tôi cũng không dám dạy con trai đang học lớp 1 vì sợ sai phương pháp. Không riêng gì tôi, các đồng nghiệp khác cũng rất bối rối trước những bài tập của con. Giải pháp mà không ít người chọn là đành gửi con đến nhà cô giáo, nhờ cô kèm cặp thêm kẻo sợ con không hiểu bài lại tụt hậu. Mình dạy con người ta, nhờ người dạy con mình cũng là hợp lẽ.



Không thể chối cãi được rằng chương trình tiểu học hiện nay rất khác. Quá khó đối với trẻ, nan giải cho phụ huynh, nhất là chương trình lớp 1. Bài tập tiếng Việt lớp 1 cô ra về nhà “Hãy tìm ba từ có vần UYCH”. Ngoài từ “huỳnh huỵch” ra, con trai tôi cắn nát bút rồi cầu cứu mẹ. Sau một hồi vừa suy nghĩ vừa tra Google, tôi đành cầu cứu người bạn là giáo viên dạy văn một trường THPT nổi tiếng. Bạn tôi cũng bó tay.

Với bài toán lớp 1: tìm một số biết rằng lấy số đó trừ 26 rồi trừ 24 thì được kết quả bằng 20 cộng 1, tôi cảm thấy “choáng váng”. Đặt ra phép toán đã không dễ dàng gì, tìm cho ra đáp án lại càng nan giải. Không lẽ dạy cu con lớp 1 đặt phương trình bậc nhất? Sau khi gọi điện hỏi cô giáo của con xong, tôi càng hoảng hồn hơn khi cô hướng dẫn “chuyển vế đổi dấu” (nên nhớ đây là một bài toán thường chứ toán nâng cao còn “kinh khủng” hơn).

Đến đây tôi cảm thấy thật may mắn vì đã không cố chen chân cậy cục để gửi con vào trường điểm. Con bạn tôi học trường điểm thì tối tăm mặt mũi với bài tập. Bố mẹ nó cũng “chăm chỉ đèn sách” cùng con, lắm khi mất hòa khí vì bất đồng quan điểm. Rồi còn tăng cường tiếng Anh, kỹ năng này nọ. Tội nghiệp những đứa trẻ vừa qua tuổi mẫu giáo đã rơi tõm vào mớ kiến thức nặng nề và đầy bất cập. Không vùng vẫy ắt sẽ chìm!

Nhưng đâu phải ai cũng may mắn được như tôi và đồng nghiệp, chí ít cũng có chút kiến thức và thời gian để kèm cặp con học. Cô công nhân quét rác trước nhà tôi cũng phải cắn răng bỏ ra mấy trăm ngàn đồng mỗi tháng cho con đi học thêm, sợ đứa em đi theo vết xe đổ của thằng anh: học đến lớp 6 nhưng cộng trừ nhân chia còn chưa vững. Chị bán rau phía cuối hẻm cũng hăm hở “cho con đi học thêm chứ mình đâu đủ sức dạy con nữa”.

Thế là những lớp học thêm ra đời. Ngoại trừ vài trường hợp cá biệt (ngành nào chẳng có), còn lại giáo viên dạy thêm cũng là việc “chẳng đặng đừng”. Không dạy thì trò không nắm được bài, kết quả thấp ắt ảnh hưởng đến thi đua và phân loại giáo viên. Phụ huynh thì “yếu bóng vía” cứ năn nỉ nhờ kèm cặp, không lẽ từ chối mãi.

Lên mạng tìm bài tập toán cho con học thêm, với từ khóa “math for elementary school students” (toán dành cho học sinh tiểu học), tôi đã tải về những bài toán của Mỹ rất thú vị, rất sáng tạo. Và hơn tất cả là rất dễ so với những bài toán mà hằng đêm con tôi cắn bút.

Đáng khâm phục hơn là chương trình dù khó như thế nhưng có đến hơn 80% học sinh lớp con tôi là học sinh giỏi (ở trường điểm tỉ lệ này xấp xỉ 100%). Cũng không biết “những thiên tài nhỏ tuổi” đó biến đi đâu mà lên đến lớp 10 chúng tôi lại phải tiếp nhận nhiều em còn chưa rành tiếng Việt, cộng phân số thì hồn nhiên lấy tử cộng tử, mẫu cộng mẫu - u u mê mê như vừa qua một giấc ngủ dài lắm mộng mị.

Mỗi đứa trẻ có đến hơn mười năm ăn học, không thể hiểu nổi người ta làm gì mà “thiếu kiên nhẫn” đến độ nhồi cho trẻ lắm thứ kiến thức đến thế. Cứ cố hết sức mà thổi phồng cho thật to thì quả bóng ấy nếu không nổ tung lập tức cũng im lìm mà xì hơi xẹp lép.

MINH THƯ - tuoitre.vn

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011

Giáo dục phổ thông: Chú trọng dạy làm người

Cải thiện mức lương để thầy không phải "sống mòn"; Giáo viên sư phạm phải được tuyển chọn, đào tạo nghiêm túc; Giảm tải chương trình học, thay đổi mục tiêu giáo dục phổ thông là dạy làm người; Nhà giáo là nhà khoa học được giảng dạy theo phương cách riêng.

Những vấn đề về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông đã được các nhà nghiên cứu, nhà quản lý giáo dục trao đổi tại hội thảo do Trường ĐH Sư phạm TP.HCM tổ chức hôm 15/4.

“Chừng nào người thầy giáo còn dành thời gian dạy thêm để tăng thu nhập, chừng nào mà nhân cách của người thầy giáo còn bị tiền bạc, vật chất cám dỗ thì chừng đó đổi mới giáo dục phổ thông không thể thành công” - TS Đoàn Hữu Hải, Trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, phát biểu.

Giáo viên “sống mòn”: Khó đổi mới giáo dục

GS-TSKH Lê Ngọc Trà phân tích: Vấn đề thiết yếu nhất, thậm chí có tính chất quyết định để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông là vấn đề lương giáo viên và người làm công tác giáo dục. Chúng ta muốn các thầy cô giáo hết lòng vì sự nghiệp giáo dục nhưng đồng lương trả cho họ lại không đủ sống. Không thay đổi tình trạng hiện nay, mọi ý định và kế hoạch dù tốt đẹp đến đâu cũng sẽ khó mang lại kết quả thực tế.

Cùng quan điểm, PGS-TS Trần Hữu Tá nêu: “Chất lượng đào tạo giáo viên chỉ có thể đáp ứng đúng mức yêu cầu khi mà đội ngũ giảng viên sư phạm được đãi ngộ, đầu tư xứng đáng. Họ phải được tạm yên tâm về vấn đề kinh tế, không đến nỗi lâm cảnh sống mòn (hiện tiến sĩ cũng chỉ nhận lương tháng non 3 triệu đồng), luôn bị nợ áo cơm ghì sát đất! Quan trọng hơn, họ không sợ bị bào mòn về chuyên môn, được tiếp tục học tập, bồi dưỡng cho những bậc cao hơn, ở những lớp tập huấn dài hạn có chất lượng cả trong và ngoài nước”.

Học sinh Trường THPT Lê Quý Đôn (TP.HCM) trong một giờ học.

PGS-TS Bùi Mạnh Hùng, Phó Trưởng khoa Ngữ văn, cho biết: “Chất lượng giáo viên phản ánh đầy đủ nhất tiềm lực của một nền giáo dục. Giả sử một thảm họa nào đó, trường học bị cuốn trôi, chương trình và sách giáo khoa bị cháy rụi, thầy và trò phải ra đồng dựng lều mà dạy học thì vẫn còn có hy vọng về một nền giáo dục tốt nếu có những người thầy thạo nghề và tâm huyết. Còn nếu một nền giáo dục mà mọi thứ đều “hoành tráng”, chỉ trừ ông thầy, vốn chỉ là những học sinh phổ thông trung bình, vào nghề với sự bất đắc dĩ, vừa dạy học, vừa bươn chải kiếm sống thì có thể nói một cách quả quyết là nền giáo dục đó không có tương lai”.

GS-TSKH Lê Ngọc Trà đề nghị: “Không có thầy giỏi sẽ không có trò giỏi. Những tư tưởng mới, những phương pháp mới phải bắt đầu ở các trường ĐH sư phạm, ở nơi đào tạo các thầy giáo tương lai”. PGS-TS Trần Hữu Tá đồng tình: “Những sản phẩm của các trường ĐH sư phạm chỉ thực sự ưu hạng khi ngay từ khâu tuyển sinh đã thu hút được học sinh giỏi. Đồng thời, sau khi tốt nghiệp ra trường nhất thiết phải có việc làm và phải sống được bằng lương như Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã từng đoan quyết thì mới níu chân được người giỏi”.

Đổi mục tiêu, giảm chương trình

Đóng góp về đổi mới giáo dục phổ thông, TS Huỳnh Thanh Triều, Phó Hiệu trưởng, nói: “Chương trình phổ thông của chúng ta quá nặng, đòi hỏi của chúng ta đối với học sinh quá cao. Tôi nghĩ giáo dục phổ thông nên thiên về hình thành con người hơn là vội vàng đào tạo nhân tài. Nhiều phát biểu của học sinh đã tốt nghiệp phổ thông du học ở nước ngoài khiến tôi phải suy nghĩ: Sang đây con mới thấy thế nào là đi học…”. GS Lê Ngọc Trà đồng tình: “Cần xác định lại mục tiêu đào tạo của chúng ta là đào tạo con người. Tôi đề nghị phải kiên quyết cắt giảm nội dung và liều lượng kiến thức được giảng dạy, khắc phục tình trạng quá tải ở trường phổ thông hiện nay. Đồng thời, phải biện luận lại sách giáo khoa theo hướng hiện đại, cho phép giáo viên được sử dụng nhiều bộ sách giáo khoa để dạy”.

TS Triều đề xuất: “Không nên quản lý chương trình giáo dục phổ thông một cách quá chặt như hiện nay. Nên để cho trường có quyền quyết định nội dung, phương pháp giảng dạy và lịch trình cho hoạt động của mình. Giáo viên phổ thông cũng là những nhà khoa học nên dành cho họ quyền tư duy và hành động theo phương cách riêng của mình”.

PGS.TS Trần Hữu Tá:

Phải đổi mới từ trường sư phạm

Tình trạng “cơm chấm cơm”, thậm chí “cơm nguội chấm cơm nát”, như cách nói phổ biến của 50 năm trước, không ngờ đến nay vẫn tồn tại dai dẳng ở nhiều cấp học, nhiều địa phương, thậm chí còn đáng lo ngại hơn. Các trường ĐH làm nhiệm vụ đào tạo giáo viên hiện nay đội ngũ giáo viên vừa thiếu vừa yếu (cử nhân lên lớp đào tạo cử nhân), đặc biệt thiếu cán bộ khoa học đầu đàn để giúp đỡ giảng viên trẻ và để đáp ứng yêu cầu đào tạo ngày càng cao về chất lượng. Hậu quả của tình trạng này thật đáng sợ.

GS-TSKH Lê Ngọc Trà:

Xây dựng ĐH sư phạm trọng điểm

Phải xây dựng hai hay ba ĐH sư phạm trọng điểm như là nơi đào tạo giáo viên có tính chất chuẩn mực, chất lượng cao. Tuyệt đối không nên biến các ĐH sư phạm trọng điểm hiện nay thành các ĐH đa ngành. Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Nga và nhiều nước tiên tiến trên thế giới hiện nay vẫn giữ những trường ĐH sư phạm chuyên ngành theo kiểu này.

Theo Quốc Dũng

Pháp luật TPHCM

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

Dân chủ trong quan hệ thầy trò

- Ở nước ta, tôn sư trọng đạo đã trở thành truyền thống. Đây là một nét đẹp trong văn hóa dân tộc, cần giữ gìn và phát huy cho con cháu đời sau. Song mặt khác, có lẽ chính truyền thống ấy lại là một trong những lý do tạo ra khoảng cách nhất định giữa thầy và trò.



Đi bất cứ trường học nào trên toàn quốc cũng có thể dễ dàng nhìn thấy những khẩu hiệu như “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Lấy người học làm trung tâm”, “Thực hiện những giờ học đối thoại”... Nhìn lại mới thấy những điều ấy cuối cùng chẳng thực hiện được bao nhiêu. Một giờ học ở ta thường đơn thuần chỉ là thầy giảng trò nghe, thầy hỏi trò trả lời. Rất ít khi trò có ý kiến ngược lại với thầy. Những cuộc tranh luận thật sự cởi mở giữa thầy và trò lại càng hiếm hoi hơn nữa.

Vì sao lại thế? Tôi nghĩ lý do chính là chúng ta chưa tạo ra được không khí dân chủ trong quan hệ thầy trò. Không phải cứ thầy giáo là cái gì cũng biết, cái gì cũng hiểu đúng. Có những kiến thức thầy không biết mà trò biết là chuyện bình thường. Trò giỏi hơn thầy lại càng đáng quý. Thế nhưng sĩ diện của một người thầy khiến chúng ta khó chấp nhận điều này.

Thành ra có những học trò giỏi, biết chắc thầy mình nói sai mà vì kính thầy, sợ thầy nên không dám phản hồi. Đôi khi có những học trò cá tính, bày tỏ thông tin ngược chiều thì cũng chẳng có mấy thầy dũng cảm nhận là mình sai. Thế là tìm đủ mọi cách cố che giấu cái sai ấy. Có người còn tỏ ra cau có, khó chịu trước những thắc mắc của học trò.

Cần thấy rằng sự dân chủ trong quan hệ thầy trò là cần thiết. Nó có tác dụng thúc đẩy, tạo ra hiệu quả cao trong giáo dục.

Đã đến lúc thầy giáo không phải chỉ là người dạy dỗ mà còn là người bạn đồng hành thân thiết của các em.

Đã đến lúc không phải chỉ có trò học thầy mà thầy cũng phải học trò.

Đã đến lúc phải tạo ra sự bình đẳng giữa thầy và trò trong môi trường học thuật lành mạnh.

Cần có những giờ học mà thầy trò cùng bàn bạc, trao đổi, tranh luận để tìm ra chân lý.

HỒ TẤN NGUYÊN MINH
(Phú Yên)

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2011

Những “góc khuất”

- Từ trước tới nay nhiều người vẫn nghĩ ngành giáo dục là một ngành nghề trong sáng, ít bị chi phối bởi các yếu tố tiêu cực.

Nhưng những năm gần đây, ở nhiều địa phương đã xuất hiện những việc không lành mạnh. Tình trạng tuyển dụng không công khai dẫn đến chuyện sinh viên ra trường phải chi một số tiền lớn mới được tuyển dụng. Khi đi dạy lại gặp quá nhiều chuyện nhiễu nhương mà những người gây phiền nhiễu chính là những cán bộ đầu ngành.

Chuyện “vạch lá tìm sâu” để vòi tiền, đòi ăn nhậu không còn hiếm. Một đồng nghiệp của tôi vốn là tổ trưởng chuyên môn nhiều năm tâm sự: sau khi dự giờ dạy của cô, ông thanh tra của phòng GD-ĐT đã “phán” một câu xanh rờn: “Cô dạy tiết này yếu cả phương pháp lẫn chuyên môn. Chiều chúng tôi sẽ thông báo kết quả thanh tra với trường. Trưa cô về suy nghĩ xem mình còn yếu chỗ nào để chiều có ý kiến”. “Suy nghĩ” tức là trưa hôm ấy phải cấp tốc lên gặp thanh tra để giúi cái phong bì gọi là tiền trà nước. Nhờ vậy, buổi chiều cô được thông báo kết quả loại khá.

Tại một số tỉnh thành, hằng năm các trường nội ô phải tăng cường giáo viên cho các xã khó khăn. Nghe đến chữ tăng cường ai cũng sợ, nhất là giáo viên nữ có con nhỏ. Danh sách dự kiến được hiệu trưởng thông báo trước hội đồng để chuẩn bị...

Nhiều giáo viên có hoàn cảnh khó khăn chưa muốn đi thì phải gặp hiệu trưởng và lãnh đạo phòng GD-ĐT. Một khoản tiền kha khá lót tay thì sẽ được nằm trong danh sách hoãn. Tôi có cô bạn đã đi dạy 13 năm, hai con còn nhỏ, chồng làm ở bộ phận thi công của ngành điện, lúc làm tỉnh này khi tỉnh khác.

Mấy năm qua cô luôn phải thu xếp hoãn binh. Vừa rồi cô tâm sự: “Chắc năm nay mình phải xin làm giáo dục cộng đồng ở xã. Biết làm việc này thì buồn, mất chuyên môn nhưng đi tăng cường thì con nhỏ để cho ai. Mà cứ hoãn mãi chịu sao thấu. Được đồng lương nào nuôi mấy ông ấy hết”.

Thời điểm thi học kỳ cũng là thời điểm mà các bộ phận thanh tra tích cực nhất. Nhiều cán bộ thanh tra chạy sô đến các trường để “kiểm tra”. Những trường được thanh tra “ưu ái” ghé thăm nhiều lần rất khổ sở vì mỗi lần thanh tra đến phải kèm thêm một phong bì “tiền xăng xe”.

Dân tộc ta từ xưa đến nay khi nghĩ về người thầy luôn dành một tình cảm kính trọng. Vì vậy, ở những “góc khuất” như vậy, những “con sâu” trong ngành cần được chấn chỉnh và loại bỏ để làm trong sạch hình ảnh người thầy.

NGUYỄN CAO - Dân Trí

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

Từ khái niệm “siêu nhân” của Nietzsche, nghĩ về người thầy

Xã hội ta vốn rất coi trọng người thầy. Không có vấn đề gì khi sự đề cao mang nghĩa ghi nhận đóng góp của người thầy đối với cộng đồng, như ghi nhận đóng góp của các ngành nghề, lĩnh vực khác. Tuy nhiên, sự đề cao đó phần nào xuất phát từ ý nghĩ cố hữu là thầy luôn luôn đúng. Điều đó cản trở quá trình phê phán của người thầy.

Từ khái niệm “siêu nhân” của Nietzsche, nghĩ về người thầy 

Từ khái niệm “siêu nhân” của Nietzsche, nghĩ về người thầy

Ai cũng có thể trở thành siêu nhân...

Khái niệm siêu nhân trong triết học Nietzsche, theo cách hiểu của Deleuze, là rất khác so với quan niệm thông thường. Sự phát triển của điện ảnh, nhất là thể loại khoa học giả tưởng đã tạo nên một hình ảnh đậm nét trong trường liên tưởng của chúng ta. Siêu nhân – đó là những người có năng lực siêu nhiên, phi thường, thường xuất hiện với sứ mệnh thiêng liêng là chống lại thế lực phi nghĩa nào đó; siêu nhân bao giờ cũng chiến thắng, anh ta là kẻ mạnh và luôn đóng vai chính. Nietzsche quan niệm: “siêu nhân, con người bị vượt qua, bị vượt lên” (1). Có nghĩa là với Nietzsche, siêu nhân không phải là kẻ mang sức mạnh siêu nhiên, mà siêu nhân xuất hiện khi con người bị vượt qua. Sức mạnh của siêu nhân là ở chỗ có khả năng phê phán và chấp nhận sự phê phán, sự phê phán nhằm vào những mặt cần phê phán và có tác dụng hoàn thiện con người.


Điều này nghe có vẻ rất đơn giản nhưng không phải ai cũng làm được. Bởi chấp nhận sự phê phán tức là chấp nhận rằng bản thân có những khuyết điểm, những sai lầm cần phải sửa chữa. Thái độ này đòi hỏi một sự dũng cảm đặc biệt mà không phải ai cũng có. Deleuze viết: “Đừng nghĩ rằng siêu nhân của Nietzsche là một sự đấu giá cao hơn: về bản chất, nó khác con người, khác với cái tôi” (2). Con người có bản năng tự bảo vệ, đối với ý thức của mình cũng vậy, thật khó để con người phủ định bản thân, thật khó để cho cái tôi tự lên án chính nó.

Khái niệm siêu nhân của Nietzsche mở ra một khả năng của con người. Với quan niệm của Nietzsche, siêu nhân là một sự trở thành của con người, bất kỳ ai cũng có thể là siêu nhân nếu họ tiến hành phê phán, và ngược lại, biết chấp nhận sự phê phán. Làm được điều đó có nghĩa là họ đã tạo điều kiện cho sự hình thành của siêu nhân. Quyền lựa chọn giờ đây được chuyển vào tay con người chứ không phải Chúa, đó là nỗ lực sống chứ không phải là định mệnh.

...nhưng người thầy phải sáng suốt gấp đôi

Xã hội ta vốn rất coi trọng người thầy. Trong chế độ phong kiến, quan hệ thầy – trò là một trong ba quan hệ trụ cột của xã hội, cùng với quan hệ vua – tôi và cha – con. Cho đến ngày nay, vị trí của người thầy luôn được đề cao. Không có vấn đề gì khi sự đề cao đó mang nghĩa ghi nhận đóng góp của người thầy đối với cộng đồng, như ghi nhận đóng góp của các ngành nghề, lĩnh vực khác. Tuy nhiên, sự tôn vinh hiện nay phần nào xuất phát từ ý nghĩ cố hữu là thầy luôn luôn đúng. Điều đó cản trở quá trình phê phán, cũng là cản trở quá trình đến với siêu nhân của người thầy. Mọi người xung quanh nghĩ rằng thầy luôn đúng, như thế thật khó để chính ông nghĩ rằng mình đã sai.


Khi một đứa trẻ bị la mắng, người ta nói với nó rằng đó là để nó tiến bộ hơn; nhưng khi đứa trẻ lên tiếng về cái sai của người lớn, người ta sẽ nghĩ nó hư. Những đóng góp hay nhận xét của học sinh đối với thầy giáo bị xem là vô lễ và xúc phạm. Gần đây, Bộ Giáo dục đưa ra ý kiến về việc tiến hành nhận xét giáo viên trong trường phổ thông, và người nhận xét là học sinh. Dư luận nảy sinh hai luồng quan điểm: 1. cho rằng đó là tiến bộ, phù hợp với xu thế của thời hiện đại; 2. phản đối vì việc đó làm ảnh hưởng đến quan hệ thầy – trò truyền thống, làm giảm uy tín người thầy và “làm hư” học sinh. Cuối cùng, việc học sinh nhận xét giáo viên chỉ được một số trường tư thực hiện và vẫn không áp dụng một cách đại trà.

Người thầy ở xã hội ta thật khó có thể thực hiện quá trình vươn tới siêu nhân – khái niệm mà chúng ta đang nói đến. Tâm lý xã hội đã ảnh hưởng đến tâm lý cá nhân. Người thầy một mặt bị kìm nén bởi đặc tính cố hữu của con người là bảo thủ, một mặt được xã hội vỗ về rằng ông luôn đúng. Để nhận ra khuyết điểm của mình, ông phải sáng suốt gấp đôi.

Người thầy - người đồng hành

Mối quan hệ thầy – trò vốn được xác định trong thế đối xứng cao – thấp cần phải được điều chỉnh. Người thầy ngày nay không đứng cao hơn học sinh trong quá trình khám phá tri thức. Vai trò người truyền thụ nên được thay đổi thành người đồng hành, người trao đổi. Có như vậy thì những ý kiến đóng góp của học sinh về mặt chưa tốt, chưa đúng của thầy mới được coi là bình thường. Thầy phê trò thì cũng nên có chiều ngược lại. “Siêu nhân là sản phẩm tích cực của bản thân sự phê phán” (3). Từ câu này có thể hiểu rằng người phê phán và kẻ bị phê phán ngang hàng với nhau, bởi trong quá trình trở thành siêu nhân thì hai vai trò đó có thể được hoán đổi: lúc này anh là kẻ bị phê phán, nhưng lúc khác anh là người phê phán, dù ở trường hợp nào thì anh cũng đang góp phần thúc đẩy sự hoàn thiện của con người. Nói “siêu nhân là sản phẩm tích cực” bởi vì sau phê phán cái xấu bị bóc trần và tiêu diệt đi, con người sau phê phán thay đổi theo hướng tốt lên. Hơn thế nữa, sự phê phán ở đây không chỉ là “phê bình” mà còn là “tự phê bình”.

Ý nghĩa triệt để nhất của khái niệm phê phán là ở sự tự phê bình này. “…một ‘kiểu người tương đối có tính siêu nhân’: kiểu người phê phán, con người với tư cách là kẻ muốn bị vượt qua, bị vượt lên”. Cái “muốn” đó biểu hiện sốt sắng nhất ở việc tự tiến hành phê phán. Thực tế cho thấy, phê phán người khác luôn dễ hơn phê phán chính mình, con người thường nghĩ rằng nhận ra cái sai của người khác tức là chứng tỏ mình giỏi hơn họ. Đầu mũi tên phê phán phải hướng vào bên trong trước khi vươn ra bên ngoài để đảm bảo tính trong sáng và bình đẳng của nó.

Siêu nhân trong cách hiểu thông thường là nhân vật dùng sức mạnh của mình để chống lại một lực lượng phi nghĩa. Đối tượng nó hướng đến là lực lượng phi nghĩa đó. Trong triết học Nietzsche, vì siêu nhân là sản phẩm của phê phán nên nó lấy chính mình làm đối tượng “tấn công”. Siêu nhân loại trừ cái cần bị phê phán trong chính nó. Với Nietzsche, cái cần phê phán tồn tại trong mỗi con người và phải được loại trừ trước hết bởi chính người đó. Cái cần phê phán không phải được tập trung hoàn toàn trong một thế lực đại diện nào để con người ta chỉ chăm chú vào đó để tấn công. Siêu nhân trong cách hiểu thông thường hóa ra rất đơn giản: anh ta chỉ việc phát hiện ra mục tiêu ở - bên – ngoài mình và sử dụng những năng lực siêu nhiên trời phú (mang tính bản năng, có sẵn) để hoàn thành sứ mệnh là tiêu diệt mục tiêu ấy.

Ngược lại, quá trình trở thành siêu nhân theo quan niệm của Nietzsche thật khó khăn khi chúng ta – với tư cách là những con người thiếu sót – phải phát hiện ra cái thiếu sót của mình. Siêu nhân sẽ ra đời khi con người không hoàn hảo phê phán cái không hoàn hảo của anh ta. Cũng như khi nói “Chúa đã chết”, Nietzsche một lần nữa nhấn mạnh việc tự chịu trách nhiệm với bản thân của con người thông qua quan niệm về siêu nhân.

Làm việc với thế hệ trẻ, đó là niềm vui của người thầy mà cũng là trách nhiệm. Người thầy buộc phải tự hoàn thiện mình, trước hết như một nhu cầu tự thân của con người, sau đó là để tương xứng với sự học của học sinh. Học sinh là người lĩnh hội kiến thức, tức là người tìm cách phủ nhận cái mình chưa biết bằng cái mình sẽ biết. Người thầy, bởi vì là một người bạn đường, cũng cần phải khắc phục cái mình còn thiếu sót. Quá trình tự phê phán diễn ra một cách tự nhiên nếu người thầy nhận thức được việc ông đang làm là đi cùng với thế hệ trẻ trên con đường trưởng thành của họ - đó cũng là quá trình trở thành siêu nhân của chính ông.

Bài tiểu luận này được thực hiện trong khuôn khổ chuyên đề hướng dẫn cách đọc một tác phẩm triết học tại Khoa Văn học và Ngôn Ngữ, ĐHKHXHNV TP HCM.
(1) Gilles Deleuze, Nietzsche và triết học (Nguyễn Thị Từ Huy dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính), NXB Tri thức, H, 2010, tr. 131

(2) Sđd, tr. 232

(3) Sđd, tr. 130
Theo Nghề giáo

Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011

"Con thi sư phạm, mẹ đòi chết"

- Từ nhỏ đã thích làm giáo viên, kỳ thi sắp tới, Vinh tính thi vào trường Sư phạm để thực hiện ước mơ thì nghe mẹ tuyên bố: “Mày đòi làm thầy giáo, mẹ chết cho mày xem”.

Đó là chia sẻ của Vinh, HS lớp 12 một trường THPT ở Q.4 (TPHCM) trong một buổi tham gia tư vấn tuyển sinh tại trường. Cậu học trò này cho hay, hồi nhỏ khi biết cậu thích làm thầy giáo, bố mẹ rất ủng hộ nhưng từ khi cậu lên cấp 3, họ thay đổi và thích con trai phải thi vào kinh tế, ngân hàng.

Từ đầu năm học cuối cấp, giữa Vinh và gia đình thêm căng thẳng việc con trai chọn nghề. Bố mẹ Vinh phân tích, nghề giáo bây giờ khổ, thu nhập thì thấp mà cũng chẳng còn được trọng vọng như trước. Đặc biệt là mẹ Vinh, bà thường xuyên cập nhật các hạn chế, tiêu cực trong ngành giáo dục như việc bạo hành học sinh, giáo viên bị lên án, thị cử, phong bì, chuyện thưởng Tết… về “đe” con. Mới đây nhất, khi ngày nộp hồ sơ đang đến gần, mẹ Vinh còn… dọa: “Mày làm thầy giáo, mẹ chết cho mày xem”.

“Em thích Sư phạm nhưng với áp lực từ gia đình thế này có lẽ em sẽ chọn một ngành khác”, Vinh cho hay.

T. Nhung (trường THPT Hàn Thuyên, TPHCM) thích dạy trẻ nhưng bị bố mẹ phản đối. “Nếu em thi Sư phạm thì tự kiếm tiền ăn học, bố mẹ không nuôi một đồng”, Nhung nói.

Rất quấn trẻ con, T.Nhung, HS trường THPT Hàn Thuyên (Q. Phú Nhuận) chỉ có một ước mơ duy nhất là trở thành giáo viên dạy trẻ. Tuy nhiên, gia đình Nhung lại hướng theo cho cô vào ngành Y vì có người quen. Bố mẹ Nhung suốt ngày chê nghề giáo, nhất là giáo viên mầm non. Nào là công việc cực, không may là “ăn đòn” với phụ huynh của trẻ ngay, rồi việc không có thời gian dành cho gia đình, bản thân.

Hôm Tết, Nhung nói lại mong muốn của mình thì cả gia đình cùng phản đối: “Làm giáo viên bây giờ chẳng những bị người ta chửi mà còn ế chồng như chơi. Thích gì không thích thời này còn thích làm nghề gõ đầu trẻ”. Cùng với đó, Nhung nhận được “sắc lệnh”: thi Sư phạm thì tự lo ăn học, bố mẹ không can thiệp.

Đó cũng là lý do làm Nhung đang rất lăn tăn trong việc thực hiện ước mơ của mình: “Giá như em thích một ngành nghề khác thì đỡ biết mấy”, cô học trò buồn bã.

Sư phạm ngày càng “trượt giá”?

Có một thực tế, những năm gần đây, ngành Sư phạm (SP) ngày càng bị thí sinh “quay lưng”. Những năm ngành SP còn chiếm ưu thế, tỉ lệ chọi đến điểm chuẩn của các trường đều cao ngất ngưởng.

Thế nhưng, khoảng 5 năm đổ lại đây, lượng thí sinh nộp hồ sơ đăng ký dự thi và các ngành SP năm sau luôn giảm so với các năm trước. Không ít ngành “nhà giáo” luôn trong tình trạng số lượng thí sinh nộp hồ sơ còn thấp hơn cả chỉ tiêu.

Nghề giáo đang ngày càng “trượt giá”?

Năm 2008, tỉ lệ chọi trường ĐH Sư phạm TPHCM 1/16, năm 2009 giảm xuống một nửa, chỉ còn 1/8. Mùa tuyển sinh năm 2010, các ngành SP hầu hết có tỉ lẹ chọi dưới 5. Trong đó có một số ngành SP hồ sơ nộp vào thấp hơn cả chỉ tiêu như ngành tiếng Pháp, song ngữ Nga - Anh.

Các trường SP trong cả nước cũng trong tình cảnh “tuột dốc” lượng thí sinh đăng ký dự thi, phải “chữa cháy” bằng cách tuyển NV2, NV3.

Trong các buổi tư vấn tuyển sinh, mức độ quan tâm đến các ngành học SP giảm đi thấy rõ, thay vào đó là các lĩnh vực về kinh tế, ngân hàng, y… Không ít thí sinh có sở thích nghề giáo nhưng họ lại gác ước mơ của mình lại để theo đuổi những ngành học khác vì cho rằng SP là một nghề “bạc” như áp lực lớn, thu nhập thấp… Nghề cao quý nhưng con cái dường như cũng ít được bố mẹ ủng hộ khi có sở thích này.

“Con gái đầu tôi dạy cấp hai, lương không đủ sống. Như dịp Tết rồi nó được thưởng 600.000 đồng trong khi bạn bè làm kinh tế thưởng cả chục triệu. Chưa nói áp lực nghề nghiệp, 30 tuổi đã lấy được chồng đâu. Thích nghề nhưng cháu nó cũng kêu nản”, cô Vương, nhà ở phường Thạnh Xuân (Q.12) cho hay.

Chính vì thế, cô con út của cô Vương, đang học lớp 12 cũng thích sư phạm nhưng nhìn “gương” chị lại bị gia đình cản nên quyết định tìm ngành học khác. “Tôi không chê nhưng thiết nghĩ ngành SP cần được đặt đúng giá trị của mình, chứ cứ như hiện nay mấy ăn còn mặn mà cho con làm giáo viên”, cô Vương nói.

Thậm chí, những năm gần đây, ngành SP không còn khó xin việc vì các cấp lúc nào cũng trong tình cảnh “khát giáo viên”. Như ở TPHCM, các giáo sinh tốt nghiệp mầm non ít nhất trong 5 năm tới được đảm bảo nếu có tay nghề và có tâm sẽ có việc làm ngay. Dự báo giờ đến năm 2015, TP cần thêm trên 4.000 giáo viên mầm non. Đây là một nhu cầu rất cấp thiết nhưng xem ra với tình trạng ngành sư phạm bị “chê” như hiện nay thì thật khó để biết đến lúc nào thì không phải "ca" điệp khúc thiếu giáo viên.

Hoài Nam - Dâ Trí

Bài đăng phổ biến