Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh thành tích. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh thành tích. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2011

Phá sản “hai không”?

"Chúng ta đang chống lại bệnh thành tích nhưng cách đánh giá hiện nay (qua thi cử, qua các chỉ tiêu, tỉ lệ) khiến các địa phương phải chạy theo thành tích", ông Hồ việt Hiệp, nguyên Giám đốc Sở GD-ĐT An Giang, nhận định.

Hơn 50 tỉnh thành có tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp trên 90%. Dẫn đầu là Nam Định với tỉ lệ 99,89%. Cũng ở tỉnh này, 100% học sinh hệ giáo dục thường xuyên đậu tốt nghiệp. Nhiều chuyên gia giáo dục đặt vấn đề có cần phải tổ chức kỳ thi tốt nghiệp như hiện nay.

Học sinh Trường Marie Curie, TP.HCM chúc mừng nhau sau khi biết kết quả thi tốt nghiệp - Ảnh: Như Hùng

Theo số liệu Tuổi Trẻ thu nhận được, khoảng 37 tỉnh thành có tỉ lệ tốt nghiệp trên 95%, trong đó có 12 tỉnh thành tốt nghiệp đạt trên 99%. Dẫn đầu là Nam Định 99,89%, kế tiếp là Ninh Bình 99,78%.

Vụ "bắt tay" nới lỏng chấm thi tốt nghiệp:

Chưa kết luận vì nhạy cảm

Hôm qua 21-6, Bộ GD-ĐT đã nhận được báo cáo của các tỉnh ĐBSCL về việc tổ chức họp thống nhất phương án chấm các môn thi tự luận. Bộ GD-ĐT đã tổ chức họp để phân tích tình hình trên cơ sở các báo cáo của các tỉnh, nhưng do đây là vấn đề nhạy cảm, liên quan đến quyền lợi của nhiều thí sinh nên Bộ GD-ĐT chưa thể có kết luận về việc này.

Tăng trên 68%

Đáng nói là những tỉnh thuộc các khu vực khó khăn năm nay có tỉ lệ tốt nghiệp nhảy vọt. 12/13 tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc năm nay đều có tỉ lệ tốt nghiệp hệ THPT từ trên 91% trở lên.

Gây ngạc nhiên cho nhiều người là Tuyên Quang với tỉ lệ 99,76%, vươn lên đứng thứ ba cả nước. Điện Biên từ một tỉnh đứng thứ 63 cả nước năm 2010 với 71% đậu tốt nghiệp thì năm nay vươn lên 95,65%. Sơn La từ vị trí cuối bảng xếp hạng năm 2009, sau hai năm cũng vọt lên 97,79%. Bắc Kạn tuy là tỉnh duy nhất của khu vực miền núi phía Bắc đạt kết quả tốt nghiệp dưới 90% (88,70%) nhưng so với năm 2010, tỉ lệ này đã tăng gần 20%.

Khu vực ĐBSCL năm nay cũng có tỉ lệ tốt nghiệp hệ THPT tăng cao với 10/12 tỉnh có kết quả tốt nghiệp đạt trên 90%, trong đó có ba tỉnh đạt trên 97%. Hai tỉnh Vĩnh Long và Bến Tre có tỉ lệ tốt nghiệp thấp hơn so với các tỉnh trong khu vực (86,56% và 84,15%) nhưng so với chính các tỉnh này năm 2010 cũng cao hơn. Trong đó, Bến Tre là một trong hai tỉnh ở ĐBSCL không tham gia thỏa thuận hướng dẫn chấm thi các môn tự luận (tỉnh còn lại là Tiền Giang). Ở khu vực này, Hậu Giang là tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp tăng nhiều nhất, từ 88,67% lên 97,97%.

Ở hệ giáo dục thường xuyên, tỉ lệ tốt nghiệp năm nay còn tăng rõ hơn. Trong số các tỉnh thành đã gửi báo cáo về Bộ GD-ĐT, có khoảng 31 tỉnh thành có tỉ lệ tốt nghiệp đạt từ 91% trở lên, trong đó có 12 tỉnh thành đạt 99% trở lên. Nam Định đạt tỉ lệ tốt nghiệp 100% ở hệ giáo dục thường xuyên. Theo số liệu từ các tỉnh thành, tỉ lệ tốt nghiệp hệ giáo dục thường xuyên năm nay tăng từ 15% đến trên 60%. Điển hình là Điện Biên có tỉ lệ tốt nghiệp 88,86%, tăng trên 68% so với năm 2010.

Trong số các tỉnh có báo cáo, chỉ có hai tỉnh là An Giang và Tiền Giang năm nay có tỉ lệ tốt nghiệp hệ giáo dục thường xuyên dưới 50%. Nhiều tỉnh thành có nhiều trung tâm giáo dục thường xuyên tốt nghiệp 100%, như Bắc Giang 11/16 trung tâm, Ninh Bình 6/8 trung tâm, Bắc Ninh 6/14 trung tâm.

Tỉ lệ có từ đầu năm

Tỉ lệ tốt nghiệp cao hẳn nhiên tỉnh nào cũng vui. Nhưng đã đến lúc không còn nhiều người dám tin tỉ lệ này phản ánh được hiệu quả giáo dục tỉnh đó. Bởi lẽ, nói như một giám đốc sở phía Nam, “nếu coi tỉ lệ đậu là hiệu quả giáo dục, bộ nên tuyên dương những nơi có tỉ lệ tốt nghiệp giáo dục thường xuyên xấp xỉ hoặc đạt 100%, cao hơn cả tỉ lệ tốt nghiệp THPT của tỉnh đó. Và có lẽ cả nước phải đến những nơi đó để học tập kinh nghiệm, bí quyết!”.

Vị giám đốc trên dám nói điều này bởi không phải đến năm nay mà từ nhiều năm trước, người ta đã phát hiện có tình trạng buông lỏng trong khâu coi thi để đẩy tỉ lệ đậu tốt nghiệp của địa phương lên cao. Vì sao các tỉnh cứ chạy đua tỉ lệ ảo này? Ở nhiều tỉnh thành, tỉ lệ đậu tốt nghiệp đã được đưa vào kế hoạch thi đua từ đầu năm học. Khi tất cả các tỉnh thành đều thấp như nhau thì không sao. Nếu tỉnh bạn tăng vọt mà tỉnh mình (vì coi thi thật thà, nghiêm túc) mà tỉ lệ thấp, lãnh đạo sở sẽ khó nói chuyện với cấp trên.

Giám đốc một sở GD-ĐT khác tại ĐBSCL lý giải: “Cách xếp hạng hiện nay khiến giám đốc sở bị áp lực rất lớn với dư luận và chính quyền địa phương, từ đó khó mà trung thực được”.

Ông Hồ Việt Hiệp, nguyên giám đốc Sở GD-ĐT An Giang, cho biết: “Từ kỳ thi năm ngoái, một số tỉnh tuy không có văn bản như các tỉnh ĐBSCL nhưng đã “hợp tác” chấm chéo nhằm đối phó với Bộ GD-ĐT và để có kết quả đẹp. Qua đó cho thấy cuộc vận động “hai không” đến nay không còn nữa, các tỉnh chủ yếu cục bộ địa phương, ai cũng muốn bảo vệ lợi ích của tỉnh mình. Chúng ta đang chống lại bệnh thành tích nhưng cách đánh giá hiện nay (đánh giá qua thi cử, qua các chỉ tiêu, tỉ lệ) khiến các địa phương phải chạy theo thành tích”.

Thi thế này thì thi làm gì?

Thực hiện không tốt sẽ thành dối trá

“Kết quả thi tốt nghiệp THPT tùy thuộc ba yếu tố: đề thi - đáp án (dễ hay khó), coi thi (nghiêm túc hay thả lỏng) và khâu chấm thi như thế nào. Nếu thực hiện nghiêm túc cả ba khâu này, tỉ lệ tốt nghiệp mới thể hiện đúng hiệu quả chất lượng từng địa phương. Nếu thực hiện không tốt một trong ba khâu trên, tỉ lệ tốt nghiệp sẽ trở thành chuyện thành tích, tiêu cực và dối trá trong giáo dục. Nếu có tỉ lệ cao, khoan khen ngợi, tỉ lệ thấp cũng đừng vội phê bình”.

Ông Nguyễn Trọng Nhân (trưởng phòng khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục Sở GD-ĐT Tây Ninh)

Từ những lý do trên, ông Hồ Việt Hiệp cho rằng không cần thiết tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT nữa, tốn kém mà không phản ánh được thực chất bởi tỉnh nào cũng gần 100%. Các tỉnh nếu tổ chức thi chắc tỉ lệ cũng như vậy, thế thì tổ chức kỳ thi quốc gia làm gì?

Một cựu giám đốc sở GD-ĐT khu vực miền Trung nhận xét: “Mấy năm nay, người trong ngành đã thấy chấm chéo không giải quyết vấn đề gì. Trước sau rồi Bộ GD-ĐT cũng phải bỏ, vì phiền phức, tốn kém. Một kỳ thi cồng kềnh nhưng không hiệu quả đến lúc phải tiếp tục thay đổi”. Theo vị lãnh đạo này, năm 2011 chỉ riêng kinh phí chi cho kỳ thi của một tỉnh đã đến trên 10 tỉ đồng. Tính chi phí của cả nước còn lớn đến đâu, nhưng điều toàn dân mong đợi là “kết quả thực chất” vẫn không giải quyết được.

Về điều này, GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: “Ngay từ đầu khi Bộ GD-ĐT tiến hành thi cụm, chấm chéo tôi đã nghĩ là không thể giải quyết được vấn nạn thi cử, chỉ tạo thêm tốn kém, phiền phức”. Còn GS Nguyễn Lân Dũng nhận xét: “Thi cụm, chấm chéo chỉ là giải pháp đối phó, tốn kém mà không đạt được mục đích là có một kết quả đánh giá thực chất”.

GS Văn Như Cương thẳng thắn bày tỏ: “Khi bộ có sáng kiến thi cụm, chấm chéo, tôi cũng chờ đợi hiệu quả của việc này nhưng khó có thể nói giải pháp này có hiệu quả khi đến trên 50 tỉnh thành có kết quả thi cao, nhiều nơi cao đột biến”.

Trao đổi với Tuổi Trẻ xung quanh việc nên hay không nên có kỳ thi tốt nghiệp THPT khi tỉ lệ tốt nghiệp đã đạt đến sát ngưỡng 100%, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho rằng kỳ thi tốt nghiệp không chỉ nhằm một việc là đánh giá học sinh mà còn để đánh giá mặt bằng chất lượng giáo dục của các địa phương. Kết quả thi tốt nghiệp là một trong những căn cứ quan trọng để soi rọi và tác động trở lại việc dạy học, việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông trên toàn quốc. Mục đích của kỳ thi không phải để chăm chăm đánh trượt học sinh mà là để các nhà trường, giáo viên, học sinh cố gắng.

Giao cho địa phương

Trước thực tế này, ông Trần Thanh Đức - giám đốc Sở GD-ĐT Tiền Giang - cho rằng không thể thấy kết quả quá cao mà bỏ thi tốt nghiệp THPT, việc bỏ thi khi chưa có những chuẩn bị cần thiết là không khoa học. “Theo quan điểm cá nhân tôi thì từ từ không cần tổ chức một kỳ thi cấp quốc gia nữa mà giao cho từng địa phương tổ chức. Để thực hiện việc này, cần phải có nhiều giải pháp song song, trong đó có việc cải tiến thi tuyển sinh ĐH-CĐ” - ông Đức đề nghị.

Ông Hồ Việt Hiệp cũng đề nghị bộ giao lại cho các địa phương tổ chức sát hạch để tập trung cho kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ nhằm giảm bớt sự nặng nề, tốn kém. Ông Hiệp cho rằng: “Chúng ta đã bỏ thi tốt nghiệp THCS và kết quả giáo dục vẫn đảm bảo. Việc đánh giá chất lượng giáo dục qua kết quả tốt nghiệp là không khách quan bởi chất lượng phải đánh giá trên nhiều yếu tố khác nữa”.

Đồng tình với việc “không nên bỏ thi” trong bối cảnh hiện tại, GS Nguyễn Minh Thuyết bình luận: “Nếu kết quả tốt nghiệp 98-99% kia là thực chất thì quá tốt và tôi nghĩ cũng không cần thiết phải tổ chức một kỳ thi quốc gia tốn kém làm gì. Nhưng vấn đề ở chỗ kết quả đó không thực chất. Vì vậy thay vào việc bàn chuyện bỏ thi thì nên tính phương án làm gì để kỳ thi gần với thực chất hơn. Kỳ thi nghiêm túc trong tình thế chất lượng giáo dục còn chưa ổn sẽ giúp ngành giáo dục có cơ sở điều chỉnh chương trình - sách giáo khoa, phương pháp dạy học, đánh giá, đầu tư vào những khâu còn yếu, thiếu...”. GS Thuyết đề nghị nên giao kỳ thi về cho các địa phương tự chịu trách nhiệm. Vì khi phải tự chịu trách nhiệm, người ta sẽ có trách nhiệm cao hơn. Bộ GD-ĐT nên lo các việc to lớn hơn là ôm quá nhiều việc như hiện nay.

GS Văn Như Cương cũng có quan điểm đồng nhất với GS Thuyết khi cho rằng “nên đưa kỳ thi về địa phương, để các sở GD-ĐT tổ chức thi, ra đề, chấm thi”. Và như vậy hoàn toàn có thể chấp nhận việc đề thi tốt nghiệp ở Hà Nội khó hơn Lai Châu do điều kiện, chất lượng giáo dục khác biệt. Nếu làm như thế, kết quả thi sẽ thực chất hơn bây giờ.

Vượt ngưỡng trước “hai không”

Trước tình trạng thiếu thực chất trong thi cử, với nhiều hiện tượng tiêu cực xảy ra trên cả nước khiến tỉ lệ tốt nghiệp từ năm 2006 trở về trước cao ngất ngưởng, năm 2007, lãnh đạo Bộ GD-ĐT đã phát động cuộc vận động “Nói không với bệnh thành tích và tiêu cực trong thi cử”, gọi tắt là “hai không". Nhiều người đã ví “hai không” như luồng gió mới làm lung lay tình trạng trì trệ của giáo dục nước nhà thời gian đó. Tỉ lệ tốt nghiệp THPT năm 2007 tụt thê thảm xuống còn 66,72%.

Bàng hoàng, nhưng nhiều người trong ngành GD-ĐT đã vui mừng vì hi vọng chất lượng giáo dục từ đó sẽ thay đổi. Năm 2008, tỉ lệ tốt nghiệp nhích lên 75,96%. Năm 2009, để củng cố kết quả của “hai không”, Bộ GD-ĐT áp dụng phương thức “thi cụm, chấm chéo”. Tỉ lệ tốt nghiệp năm đó vẫn tăng lên 83,8%. Năm 2010, tỉ lệ tốt nghiệp là 92,57%.

Theo thông tin chúng tôi nắm được, năm nay tỉ lệ tốt nghiệp THPT có khả năng sẽ vượt cả năm 2006! Năm năm đổi mới thi cử để quay lại tỉ lệ tốt nghiệp như trước, theo Bộ GD-ĐT, đó là nỗ lực của ngành GD-ĐT trong việc khắc phục tình trạng học sinh yếu, kém, nâng chất lượng dạy học. Nhưng nhiều người trong cuộc lại đang băn khoăn khi cho rằng đó là bằng chứng sự phá sản của “hai không”.

TR.V.HÀ - P.ĐIỀN - M.GIẢNG

Nguồn: tuoitre.vn

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

Điệp khúc: Năm sau cao hơn năm trước

Tuy chưa có thống kê chính thức từ phía Bộ GD-ĐT, nhưng các con số do các địa phương công bố đã cho thấy kết quả kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) năm học 2010-2011 là một “kỳ tích” đáng nể.

Điệp khúc: Năm sau cao hơn năm trước

Kết quả kỳ thi THPT năm 2011 rất "đáng nể" về tỉ lệ đậu tốt nghiệp.

Gọi là “kỳ tích” bởi vì, chỉ mới ba năm sau đỉnh cao của phong trào “hai không” (nói không với bệnh thành tích và tiêu cực trong thi cử) thì năm nay, thành tích học tập của thí sinh cả nước nói chung đã phát triển vượt bậc.

Ở một tỉnh vùng cao như tỉnh Cao Bằng, nếu tỷ lệ đậu tốt nghiệp THPT năm học 2006-2007 chỉ 27,78%, thì năm học 2010-2011, tỷ lệ này đã vọt lên 93,73%. Hệ giáo dục thường xuyên kết quả còn cao hơn, đạt 94,18%. Tỉnh Ninh Thuận, năm học 2006-2007 có 68,2% thí sinh đậu tốt nghiệp, thì năm nay con số đó là 91,85%.

Tại Hải Phòng, chánh văn phòng sở Giáo dục-đào tạo Đỗ Văn Lợi cho biết, tỷ lệ đậu tốt nghiệp THPT năm nay đạt 99,08%, vượt xa kỳ thi 2007 chỉ đạt 76,9%. Một tỉnh có điều kiện còn khó khăn như tỉnh Kon Tum cũng có tỷ lệ thí sinh đậu cao không kém gì thí sinh Hà Nội, tới 97,31% (Hà Nội là 97,79%) so với năm 2007 chỉ đạt 55,5%. Thậm chí địa phương này còn có tới 8 trường đạt tỷ lệ đậu tốt nghiệp 100%. Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2011 cũng được ghi nhận là kỳ thi có số hội đồng thi đạt tỷ lệ tốt nghiệp 100% nhiều nhất từ trước tới nay.

Nhiều nhà giáo cho biết, họ không tài nào tin được kết quả kỳ thi năm nay lại “ngất ngưỡng” như vậy, dù đó không phải là cái gì quá sức bất ngờ.

Không bất ngờ, vì kết quả trên đã được dự báo từ trước đó.

Ngay sau khi kỳ thi diễn ra, PGS Văn Như Cương đã khẳng khái nhận định gần như chắc chắn, “sẽ có cuộc họp báo của bộ để tổng kết một cuộc thi thắng lợi. Như thường lệ, điệp khúc năm nay tốt hơn năm ngoái sẽ được lặp lại. Nào là rất nghiêm túc, rất trật tự, phao thi không còn rải trắng sân trường; nào là số thí sinh bị kỷ luật giảm mạnh…”. Không cần đến những chi tiết mà báo chí cung cấp để tạo scandal như cái biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi của 11 tỉnh thành tại đồng bằng sông Cửu Long, hay động tác điều chỉnh đáp án chấm thi môn văn vào giờ chót của bộ, với động thái ra đề thi được các nhà giáo đánh giá là thoáng hơn nhiều so với các năm trước, và số thanh tra ủy quyền của bộ bất ngờ giảm mạnh, từ 9.000 người năm 2009 xuống còn 600 năm 2011, rõ ràng nhận định trên của PGS Cương là rất có cơ sở.

Theo GS.TS Nguyễn Xuân Hãn – đại học Quốc gia Hà Nội, hãy khoan đặt câu hỏi liệu kết quả kỳ thi năm nay có phản ánh đúng chất lượng giáo dục, khi hiện tại cái gọi là chất lượng giáo dục THPT của chúng ta vẫn còn rất mơ hồ. Theo ông, việc kết quả kỳ thi tú tài - hay tốt nghiệp THPT hàng năm có tỷ lệ đậu cao là phản ánh đúng thực chất và phù hợp quy luật trong tình trạng nền giáo dục hiện tại của nước nhà.

Cả nước đến giờ phút này đã có trên 400 trường đại học, cao đẳng. Trong số đó, hơn 300 trường đại học và cao đẳng của các địa phương mới được nâng cấp hoặc mới thành lập trong vòng 10 năm qua. Tuy áp lực lên các trường đại học có tên tuổi ở hai trung tâm lớn là Hà Nội và TP.HCM vẫn chưa giảm, nhưng không thể không nhận thấy hiện tượng là một bộ phận lớn thí sinh ở các tỉnh năm 2011 đã chọn cửa dự thi vào các trường đại học tại địa phương mình. Thống kê cho thấy, một số trường đại học địa phương được khá đông thí sinh chọn đăng ký dự thi, như đại học Hải Phòng có khoảng 10.000 hồ sơ của thí sinh Hải Phòng đăng ký dự thi; tại tỉnh Vĩnh Phúc, trường cao đẳng Vĩnh Phúc cũng đứng đầu bảng về lượng hồ sơ với gần 3.000 bộ; đại học Hồng Đức của tỉnh Thanh Hoá hút hơn 10.000 hồ sơ của các thí sinh thuộc tỉnh và lân cận. Số hồ sơ dự thi vào trường đại học An Giang chiếm gần phân nửa thí sinh của địa phương này: 11.000 bộ.

Thậm chí, mang danh là đại học vùng như Đại học Cần Thơ, đến 80% số hồ sơ thí sinh tại Cần Thơ (gần 19.000 bộ) đăng ký dự thi vào đây...

Bất chấp thực tế rất khập khiễng giữa đội ngũ giảng viên, cùng cơ sở vật chất của các nhà trường, nhu cầu đào tạo đội ngũ lao động có bằng cấp tương đương đại học của các địa phương vẫn là một đòi hỏi chính đáng. Và, điều đó cho thấy, thành tích "đáng nể" của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2010-2011 vừa qua chẳng qua chỉ là kết quả của làn sóng đã bùng nổ trong khoảng mấy năm gần đây và vẫn đang còn tiếp diễn.

Theo NHƯ THUẦN, SGTT ONLINE

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

Trò không sợ điểm kém nhưng thầy sợ

Nghe đâu đó người ta lên án, phê phán ngành giáo dục, giáo viên chúng tôi cũng chột dạ, cảm thấy có lỗi. Nhưng chính bản thân chúng tôi như những người mắc trong đám kẹt xe, cứ phải lầm lũi mệt nhọc mà tiến, không cách nào thoát ra được.




Cứ cuối mỗi năm học, tổng kết điểm, báo cáo các loại số liệu, xét danh hiệu thi đua, chúng tôi đều cảm thấy mệt mỏi, thậm chí gần như đuối sức vì phải chạy theo những thành tích ảo - được thổi phồng thành những số liệu và tỉ lệ rất đẹp nhưng không biết để làm gì.

Cuối năm, rất nhiều giáo viên khóc dở mếu dở vì không được xét hoàn thành nhiệm vụ năm học. Chẳng phải vì dạy dở, vì vi phạm đạo đức nhà giáo, vì bỏ giờ trễ tiết... mà chỉ vì không đạt chỉ tiêu đặt ra. Thấp hơn 85% học sinh đạt điểm trung bình trở lên thì không được xét hoàn thành nhiệm vụ năm học. Không quá 90% học sinh đạt điểm trung bình trở lên thì không được xét lao động tiên tiến. Bất kể môn học nào và bất kể tình hình học sinh như thế nào, giáo viên bắt buộc phải đạt chỉ tiêu trên nếu không muốn bị mất danh hiệu thi đua.

Lẽ tất yếu, ai ai cũng cố đạt cho được cái chỉ tiêu cao ngất ngưởng đó (đương nhiên không phải do sự hấp dẫn của khoản tiền thưởng cuối năm 100.000 đồng dành cho lao động tiên tiến và 70.000 đồng dành cho hoàn thành nhiệm vụ) bởi chẳng ai muốn trong hồ sơ lý lịch của mình lại có những năm “không hoàn thành nhiệm vụ” (và việc nâng lương dĩ nhiên cũng vì thế mà chậm lại).

Thật ra đạt được chỉ tiêu như vậy hoàn toàn không hề khó chút nào. Bài kiểm tra nếu không quá 50% học sinh trên điểm trung bình thì giáo viên phải cho kiểm tra lại lần 2, lần 3... (cho đến khi nào đạt được tỉ lệ đó thì thôi). Đối với những bài thi học kỳ không thể cho kiểm tra lại thì giáo viên phải đưa đề cương ôn tập sát với đề thi trước. Nên có nghịch lý trớ trêu là mỗi lần có bài kiểm tra thì người sợ bị điểm kém không phải học sinh mà là giáo viên!

(Buồn thay tình hình này xuất hiện ở cả cấp tiểu học. Hôm nghe kết quả thi học kỳ của con trai đang học lớp 1: có 45/47 em đạt học sinh giỏi, tôi buột miệng khen các con giỏi ghê. Con trai tôi “bật mí”: bài thi đã được cô cho làm trước nhiều lần rồi, đến khi thi chỉ việc chép lại thôi!).

Học sinh đi học không sợ điểm kém, không sợ lưu ban nên rất khó bảo và ngang ngược. Có nhiều người không giữ được bình tĩnh nên đã có những hành vi thiếu kiềm chế bị quay clip tung lên mạng. Dư luận xã hội lại được dịp phê phán chê bai giáo viên đủ cả. Nhưng ít ai biết được rằng phần lớn chúng tôi đều phải kiềm chế hết mức, mỗi ngày đi dạy về đều rất mệt mỏi và bức bối. Trớ trêu thay, giáo viên đi dạy phải sợ học trò!

Đối với giáo viên dạy các môn thi tốt nghiệp tình hình còn căng thẳng hơn. Vì sau mỗi kỳ thi tốt nghiệp sẽ có bảng thống kê tỉ lệ đậu rớt theo từng bộ môn, từng giáo viên giảng dạy. (Bất luận tình hình đầu vào như thế nào, cho dù điểm tuyển sinh của trường này chỉ bằng 1/3 của trường kia thì tỉ lệ tốt nghiệp cũng phải được so sánh ngang bằng nhau). Giáo viên cũng theo tỉ lệ đó mà được đánh giá nên ai nấy đều cực kỳ căng thẳng. Chúng tôi đều phải “dạy dỗ” theo đúng nghĩa - dỗ dành học sinh học được chữ nào mừng chữ ấy!

Chúng tôi thường ao ước “bao giờ cho đến ngày xưa”, khi học sinh đi học đều phải lo lắng bài vở của mình, sợ bị điểm kém, sợ bị thầy cô phê bình, sợ thi rớt. Còn giáo viên sẽ được thoải mái dạy dỗ và đánh giá học sinh một cách khách quan, không bị áp lực của những chỉ tiêu “trên trời” kia nữa.

ANH MINH - tuoitre.vn

Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011

Ít học sinh giỏi, cô mất thưởng?

"Họp phụ huynh xong, tôi thấy buồn và ngỡ ngàng trước nhận định của cô giáo. Chỉ vì kết thúc học kỳ 1 có đến 17 học sinh đạt kết quả tiên tiến, 2 học sinh đạt trung bình khiến cô không thực hiện được cam kết với Ban Giám hiệu..." - Một phụ huynh có con học tiểu học ở Hà Nội chia sẻ.

Lớp học có 50 học sinh. Theo lời kể của phụ huynh thì, kết quả cuối kỳ chỉ có 31 học sinh đạt loại giỏi, 17 học sinh đạt tiên tiến và 2 học sinh có kết quả học trung bình. So với cam kết đầu năm với Ban Giám hiệu thì lớp còn thiếu 11 học sinh giỏi nữa mới đạt chỉ tiêu. Cô đăng ký đạt 42 học sinh đạt loại giỏi/50 học sinh.  

Dạy học. Ảnh minh họa: VietNamNet

Sau khi nghe cô thông báo kết quả học kỳ 1 - những phụ huynh có con học chưa giỏi (đạt tiên tiến và trung bình) đã chạnh lòng tự hỏi: Sao cùng cô dạy mà con người đạt giỏi còn con mình thì... Hay tại không cho con đi học thêm?... Rồi tự an ủi: mới học lớp 2 phải để con có thời gian chơi. Kết quả giỏi - khá - trung bình là bình thường.

Cho đến khi cô than thở, so với chỉ tiêu đăng ký từ đầu năm học với Ban Giám hiệu thì còn thiếu 11 học sinh giỏi nữa mới đạt chỉ tiêu 42. Và cô nhấn mạnh "kết quả này đã làm ảnh hưởng đến cô..." - tôi vừa buồn, vừa ngỡ ngàng.

Ngỡ ngàng vì vừa nhận lớp, chưa nắm rõ năng lực của từng học sinh cô lại hứa chắc nịch về tỷ lệ học sinh giỏi với Ban Giám hiệu? Buồn vì hình như những gì cô đang làm chỉ chú trọng chạy theo thành tích hơn dạy kiến thức cho học sinh? - lời phụ huynh nói.

Một số phụ huynh khác thì cho rằng, không đủ số học sinh giỏi có thể ảnh hưởng đến chỉ tiêu thi đua, ảnh hưởng đến bình bầu danh hiệu cuối năm... nên cô mới nói "ảnh hưởng đến cô". Chưa biết mức độ "ảnh hưởng" đến cô đến đâu nhưng có thể thấy chủ trương chống bệnh thành tích trong trường học của ngành giáo dục là không hiệu quả.

Điều lo ngại hơn, vì thành tích mà không ít trường học mải chạy theo những vấn đề mang tính hình thức dẫn đến chất lượng dạy và học không thực chất. Giáo viên cũng từ đó mà "gánh" nhiều áp lực chạy đua với danh hiệu... Cũng từ đó mà chuyện "mưa" điểm 10 và những lớp học 100% học sinh giỏi hiện nay nhiều đến nghi ngờ.

N.Hiền (ghi)

Theo: VietNamnet

Bài đăng phổ biến