Hiển thị các bài đăng có nhãn Đổi mới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đổi mới. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2011

Tìm hướng đi cho cải cách giáo dục

Sáng nay 27/9, Ban Tuyên giáo Trung ương đã tổ chức tọa đàm “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo”. Nhiều chuyên gia giáo dục tâm huyết đã chia sẻ góp ý sâu sắc đối với phát triển giáo dục nước nhà.
          »»  "Cải cách giáo dục cần bám vào thực tế!"
          »»  Thảo luận dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục

Cần rũ bỏ hình thức áp đặt

Phát biểu tại buổi tọa đàm, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình khẳng định: “Muốn giáo dục đổi mới căn bản, toàn diện nhất thiết phải thay đổi cách nghĩ, cách làm giáo giáo dục”.

Phân tích về vấn đề này, bà Bình cho rằng: “Muốn chuyển biến căn bản và toàn diện thì nhất thiết phải cải cách giáo dục. Đổi mới hay cải cách, trong trường hợp này, không đơn thuần là khác biệt về câu chữ. Đổi mới chắp vá, thiếu một tầm nhìn tổng thể, một kế hoạch đồng bộ như những năm qua và ngay như hiện nay, khi chưa có một đề án tổng thể, chưa xác định rõ phương hướng của cả hệ thống giáo dục mà đã tính chuyện làm mới chương trình và sách giáo khoa, thì đổi mới cách ấy còn xa mới có tính căn bản và toàn diện. Vấn đề hết sức cấp bách hiện nay là tình trạng mất cân đối giữa ba bộ phận chính của hệ thống giáo dục là giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Do đó, cần phải rà soát, xác định rõ vị trí và mục tiêu cụ thể của từng bộ phận cũng như từng cấp học, từ đó cơ cấu lại hệ thống giáo dục nghĩa là điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của mỗi bộ phần và cả hệ thống”.

Về nội dung và phương pháp giáo dục, theo nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: "Muốn có chương trình mới thì cần phải đổi mới quan niệm về sứ mạng và mục tiêu giáo dục, về kiến thức và kỹ năng, về cách dạy và cách học, để chọn ra được những nội dung đích thực là phổ thông, đích thực là cơ bản. Nhưng muốn thế phải có tầm nhìn xa và dự báo được xu thế phát triển. Với cách cắt xén chương trình để “giảm tải” cập rập như chúng ta vừa thực hiện đầu năm học này, tôi lo rằng, việc làm chương trình sắp tới khó bảo đảm được chất lượng như mong muốn.

Cần phải rũ bỏ hình thức áp đặt, thay vào đó, hết sức coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tư duy độc lập, sáng tạo cho học sinh. Chỉ có như vậy nhà trường mới đào tạo được những công dân tự tin, tự chủ, tự lập để có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội" - bà Bình nhấn mạnh.

Các đại biểu tại buổi tọa đàm “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức sáng nay 27/9. (Ảnh: Hồng Hạnh)

Đồng quan điểm với bà Bình, PGS. TS Trần Quốc Toản cho rằng: "Nhận thức đúng, sâu sắc tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước ta cần phải làm rõ và trả lời 3 câu hỏi: Vì sao lại phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục? Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục là đổi mới thế nào? Làm thế nào để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục?".

Theo PGS Trần Quốc Toản, "đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục" trước hết cần nhận thức sâu sắc tính cách mạng và khoa học của quá trình đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục. Đây không phải là những sửa đổi, điều chỉnh nhỏ lẻ, cục bộ, mang tính bề mặt. PGS.TS Trần Quốc Toản đưa ra ví dụ về việc giảm tải chương trình giáo dục phổ thông. Giảm tải chương trình giáo dục phổ thông không chỉ đơn giản là giảm khối lượng và độ khó kiến thức như Bộ GD-ĐT đang chỉ đạo là loại bỏ những phần trùng lặp, những phần được cho là quá khó; mà bao trùm hơn là cần xác định rõ mục tiêu giáo dục phổ thông có cần đổi mới không? Tương quan giữa giáo dục nhân cách, cung cấp kiến thức và giáo dục kỹ năng có cần thay đổi không? Thay đổi như thế nào? Tỷ lệ và tương quan 3 mặt giáo dục đó ở các cấp Tiểu học, THCS,THPT có cần thay đổi không?... Rõ ràng vấn đề giảm tải giáo dục phổ thông không được nghiên cứu thấu đáo trong những tương quan trên thì việc thực hiện sẽ chỉ là sự “chữa cháy”, không cơ bản, không đạt được những mục tiêu quan trọng hơn đối với giáo dục phổ thông.

Còn theo GS Hoàng Tụy, giáo dục là một hệ thống phức tạp, theo nghĩa khoa học của từ này, cần phải được tiếp cận và đối xử như một hệ thống phức tạp. Có nghĩa là khi hệ thống đó lâm vào khủng hoảng triền miên, thì những điều chỉnh cục bộ, qua cơ chế phản hồi, kiểu như đổi mới vụn vặn mấy năm qua chẳng những không có tác dụng mà còn có thể làm tình hình tồi tệ, rối ren thêm. Lối ra duy nhất lúc này là cải tạo cấu trúc, xây dựng lại từ gốc, thay đổi cả thiết kế hệ thống.

GS Hoàng Tụy đưa ra 4 vấn đề nhằm thay đổi được giáo dục một cách toàn diện và cơ bản. Đó là thay đổi cơ bản cách học và thi; Cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục phổ thông và dạy nghề. Đây chính là vấn đề giáo dục phải phù hợp với nhu cầu và khả năng của xã hội; Cải cách mạnh mẽ, hiện đại hóa đại học. Cụ thể, cải thiện chất lượng đầu vào, thay đổi phương thức đào tạo, tháo gỡ các rào cản nghiên cứu khoa học; Vấn đề cuối cùng nhưng then chốt nhất là chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ giáo chức.

Tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên

Một trong những vấn đề quan trọng trong tọa đàm “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” mà nhiều đại biểu nhắc tới là đội ngũ giáo viên. Về thực trạng các trường sư phạm hiện nay, theo PGS. TS Nghiêm Đình Vì - Ban Tuyên giáo Trung ương, chất lượng đào tạo của nhiều trường sư phạm chưa được cải thiện nhiều, chưa đáp ứng được đòi hỏi thực tiễn. Vấn đề bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo chưa có quy hoạch chiến lược, dài hạn cho toàn ngành. Đội ngũ giảng viên sư phạm vẫn còn thiếu về số lượng, hạn chế về trình độ, tính tỷ lệ tiến sĩ trong các trường cao đẳng sư phạm, ĐH sư phạm vẫn thấp hơn so với tỷ lệ chung của giáo dục đại học. Do đó, chưa tạo nên bước đột phá đáng kể về chất lượng đào tạo.

Ông Vì kiến nghị: "Cần sớm xây dựng Chiến lược phát triển ngành Sư phạm; tiếp tục nghiên cứu mô hình đào tạo giáo viên trong quá trình hội nhập quốc tế; tiến hành đào tạo giáo viên theo hướng tích hợp ở các trường ĐH sư phạm. Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào đổi mới chương trình và sách giáo khoa THPT. Căn cứ vào tình hình hội nhập quốc tế và sự thay đổi đổi nghề, tôi đề nghị với việc đào tạo giáo viên, một mặt vẫn tiếp tục đào tạo như hiện nay, nhưng sẽ nghiên cứu đề đào tạo giáo viên dạy tích hợp hai môn. Đó là Sử - Địa hoặc Sử - Chính trị, Toán - Lý, Hóa - Sinh… đây cũng có thể là đi tắt đón đầu cho việc nghiên cứu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam và phục vụ đổi mới chương trình, sách giáo khoa".

Nâng cao chất lượng giáo viên là khâu then chốt trong cải cách giáo dục.

Về vấn đề này, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đề nghị: “Phải sớm cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và phải thay đổi chính sách đãi ngộ để nhà giáo sống được bằng lương và các khoản phụ cấp nghề nghiệp chứ không để các thầy cô giáo sống bằng dạy thêm hoặc bằng một nghề nào khác”.

"Không có khâu quản lý nào thể hiện rõ hơn quyết tâm chấn hưng giáo dục bằng chính sách đối với người thầy giáo" - GS Hoàng Tụy nhấn mạnh.

Còn GS.TSKH Vũ Ngọc Hải, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho hay: “Cần chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục theo giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục. Cụ thể, tập trung đầu tư phát triển các trường ĐH sư phạm trọng điểm, các trường ĐH sư phạm kỹ thuật và các khoa sư phạm kỹ thuật tại các trường ĐH.  Xây dựng, ban hành và thực hiện các chính sách ưu đãi, nhất là chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ tạo động lực, cho các nhà giáo, cán bộ nghiên cứu và quản lý giáo dục. Có chính sách đặc biệt nhằm thu hút các nhà giáo, nhà khoa học có uy tín và kinh nghiệm trong và ngoài nước, đặc biệt là người VN ở nước ngoài về nước tích cực tham gia quản lý, giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Có chính sách học bổng đặc biệt để thu hút học sinh giỏi vào học ngành sư phạm".

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cho rằng: “Để thay đổi căn bản và toàn diện một nền giáo dục là một công trình lớn của quốc gia, không thể một vài năm mà xong. Tình thế rất bức thiết, phải khẩn trương nhưng lại phải căn cơ, bài bản, không thể riêng một mình ngành giáo dục làm nổi.

Trước mắt, theo chúng tôi, Trung ương cần bàn và ra nghị quyết, xác định mục  tiêu, yêu cầu và những vấn đề trọng tâm cần tập trung để nền giáo dục thực sự đổi mới căn bản và toàn diện. Cần có Ủy ban Cải cách giáo dục bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia trong nước và nước ngoài, am hiểu và có kinh nghiệm về giáo dục và các lĩnh vực liên quan đến giáo dục”.

Hồng Hạnh

Nguồn: Dân Trí

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

Giảm tải vội vàng!

Giảm tải chương trình giáo dục phổ thông mà Bộ GD-ĐT vừa đưa vào triển khai trong năm học này đã nhận được sự ủng hộ của xã hội. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học cho rằng, việc giảm tải này quá vội vàng, kết quả sẽ không đi đến đâu, nặng vẫn hoàn nặng.

Giảm không thực tế!

Ủng hộ chủ trương giảm tải chương trình học của Bộ GD-ĐT nhưng GS.TS Phạm Tất Dong, Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam lo lắng cho rằng do bị sức ép nên Bộ GD-ĐT quá vội vàng triển khai giảm tải như vậy sẽ không hiệu quả.

Phân tích về vấn đề này, GS Phạm Tất Dong cho biết: “Khi thực hiện giảm tải cần phải có sự chuẩn bị, thí điểm và hỏi ý kiến những nhà khoa học, giáo sư đầu ngành để xem họ nhận xét như thế nào về chương trình học hiện nay và giảm cái gì, thêm cái gì cho phù hợp với thực tế. Sau đó, bàn với các thầy viết sách một cách cẩn thận chứ không nên giao cho vụ này, vụ kia nghiên cứu rồi đề xuất giảm, tôi thấy không ổn”.

Về chương trình học quá tải hiện nay, GS Dong cho hay: “Nhiều kiến thức học sinh không nên học vội như chương trình tiểu học, các em đã phải tìm hiểu Liên hợp quốc là gì hoặc các em bậc tiểu học phải có thái độ tốt với Ủy ban nhân dân xã; thái độ của em với người nước ngoài… Trong khi đó nhiều em học sinh ra đương gặp người già còn chưa chào đến khi người nước ngoài. Thậm chí viết trong chương trình còn ghi là Ủy ban nhân dân thôn, xóm. Thôn, xóm làm gì có Ủy ban nhân dân… Kiến thức tưởng phù hợp với thực tế nhưng lại không thực tế".

Xét đến hậu quả của việc giảm tải chương trình vội vàng này của Bộ GD-ĐT, GS Phạm Tất Dong cho rằng: “Sẽ gây ra lộn xộn và không có tác dụng. Với cách làm này tuy không gây ra sai sót quá lớn vì vẫn sách cũ và chương trình cũ chỉ đến lớp không nói đến cái bài giảm tải nữa. Quan điểm của tôi là giảm tải bỏ đi những cái gì không cần thiết và những cái gì cần phải thêm vào. Giảm không có nghĩa là cắt. Nên gọi cho chuẩn xác việc giảm tải này là điều chỉnh chương trình cho vừa sức”.

Học sinh Hà Nội trong lễ khai giảng năm học mới. Hiện nay chương trình học quá nặng khiến học sinh mệt mỏi. (Ảnh: Hồng Hạnh)

Nặng vẫn hoàn nặng

Có lẽ thực tế nhất trong việc giảm tải chương trình này vẫn là các hiệu trưởng, giáo viên trực tiếp đứng lớp.

Một giáo viên dạy Ngữ Văn ở Trường THPT Phạm Hồng Thái (quận Ba Đình, Hà Nội) nhận định: “Chủ trương giảm tải là hợp lý, đáp ứng được mong đợi của người dạy, người học, nhưng nội dung giảm tải có cảm giác mới chỉ là bước “thăm dò” đầu tiên của Bộ GD-ĐT. Lẽ ra cần mạnh dạn cắt bỏ hơn nữa. Đối với chương trình môn Văn lớp 11, việc cắt giảm một số nội dung không giải quyết được vấn đề gì đáng kể, nếu làm quyết liệt thì phải sắp xếp lại toàn bộ chương trình”.

Còn PGS Văn Như Cương, hiệu trưởng Trường THPT Lương Thế Vinh, Hà Nội cho rằng: "Việc giảm tải hiện nay còn khá rụt rè, chưa mạnh dạn, cần giảm đi 30% chương trình thì mới có thể tạo ra một sự thay đổi thực chất. Đối với môn Toán của chương trình THPT, việc giảm tải khá vụn vặt, ví dụ chỉ làm bài tập này, không cần làm bài tập kia, bỏ ví dụ này, bỏ hoạt động (thao tác) kia".

Thầy giáo Lê Trung Tuấn, hiệu trưởng trường tiểu học Lê Hồng Phong (Hà Đông, Hà Nội) đồng thời là giáo viên dạy Toán lại cho rằng: “Chương trình giảm tải rất hợp lý, giáo viên dạy cũng ít đi, học sinh học cũng nhẹ nhàng hơn trong buổi học chính khóa. Tuy nhiên, những bài giảm tải, chúng tôi cho vào học buổi 2 và để học sinh về nhà tự đọc”.

Phân tích kỹ hơn về việc giảng dạy tại lớp học hiện nay, ông Hà Huy Bằng, hiệu trưởng Trường THPT Đào Duy Từ (Hà Nội), cũng là giáo viên môn Vật lý, cho hay: “Chúng tôi rất hoan nghênh chủ trương giảm tải chương trình của Bộ GD-ĐT nhưng theo tôi giảm tải phải đồng bộ, cắt đi một số phần và có cầu nối với phần khác để kiến thức không bị trục trặc. Giảm tải không có nghĩa là bỏ cái này, bớt cái kia mà phải vừa bỏ vừa thêm vào đồng nghĩa với chương trình cho đơn giản để học sinh dễ hiểu tránh học thêm, thi đại học tốt”.

“Chương trình Vật lý hiện nay cũng khá nặng về câu hỏi trắc nghiệm bài tập như đánh đố học sinh. Nếu theo đúng chương trình học, học sinh khó có thể thực hiện tốt. Thậm chí nhiều câu hỏi đến giáo viên còn thấy khó nữa chứ đừng nói học sinh. Theo tôi, sách giáo khoa hiện nay còn sơ sài vì vậy giảm tải nhưng vẫn phải thêm. Trong môn Vật lý phổ thông phải có câu hỏi trắc nghiệm sâu hơn về vấn đề lý thuyết. Câu hỏi bài tập trắc nghiệm cần soạn lại, thêm nhiều kiến thức” - ông Bằng nhận định.

Góp ý để nâng cao chất lượng việc giảm tải, GS Phạm Tất Dong cho rằng: “Đến năm 2015, Bộ GD-ĐT chuyển đổi chương trình sách giáo khoa và chính giảm tải là một trong những chương trình chuyển đổi này. Để việc giảm tải thực hiện có hiệu quả, Bộ GD-ĐT cần có những hội đồng khoa học họp bàn về giảm tải và quyết định sang năm nên học thế nào chứ tôi nghĩ việc làm tải này không mang lại kết quả gì lớn, nặng vẫn hoàn nặng”.

Hồng Hạnh

Nguồn: Dân Trí

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011

Vẫn cân nhắc khi thực hiện giảm tải SGK

Tài liệu chính thức hướng dẫn điều chỉnh nội dung chương trình - SGK của Bộ GD-ĐT đã được chuyển đến tay các giáo viên nhưng lại chưa thể triển khai. Một phần do các trường còn đang nghiên cứu, phần khác lại đợi hướng dẫn chi tiết của Phòng và Sở GD-ĐT.
     »»  Sẽ giảm tải chương trình SGK kể từ năm học tới 
     »»  Bộ GD-ĐT xin ý kiến đóng góp về giảm tải chương trình SGK

Trao đổi với Dân trí sáng ngày 13/9, lãnh đạo các tỉnh vùng cao như Điện Biên, Lai Châu… đều cho biết tài liệu hướng dẫn điều chỉnh nội dung CT-SGK (gọi tắt là tài liệu giảm tải) đã được phát đến cho từng trường và đang bắt đầu triển khai.

Ông Hoàng Đức Minh - phó giám đốc Sở GD-ĐT Lai Châu cho biết, nhìn chung tài liệu hướng dẫn giảm tải tương đối chi tiết nên khi triển khai sẽ không gặp nhiều khó khăn. Phòng ban của Sở cũng dựa vào tài liệu này để đưa ra một hướng dẫn chi tiết hơn để các trường dễ thực hiện.

Đồng quan điểm với ông Minh, thầy Cường - phó hiệu trưởng Trường tiểu học Quảng Lâm (huyện Mường Nhé, Điện Biên) cũng nhận định, tài liệu hướng dẫn khá chi tiết. Hiện tại nhà trường đã phát tài liệu đến từng giáo viên và đang ở giai đoạn nghiên cứu.

Theo anh Trần Ngọc Kiên - phó phòng GD-ĐT huyện Mường Nhé, nội dung hướng dẫn giảm tải sẽ giao trực tiếp cho các trường triển khai, trong quá trình thực hiện nếu gặp vướng mắc mới cùng nhau tháo gỡ chứ Phòng không đưa ra hướng dẫn chi tiết bởi giáo viên là người trực tiếp giảng dạy nên họ hiểu được phần nào nên giữ lại, phần nào nên bỏ đi.

Không chỉ các tỉnh vùng cao vẫn chưa thể thực hiện nội dung giảm tải được ngay vì còn phải chờ đợi hướng dẫn chi tiết hơn của Phòng và Sở hoặc đang còn phải nghiên cứu thêm thì ngay cả thủ đô Hà Nội cũng lâm vào tình cảnh tương tự.

Cô Phạm Thị Yến - hiệu trưởng Trường tiểu học Thành Công B quận Ba Đình cho biết: “Ngày hôm qua trường mới nhận được tài liệu của Sở gửi về. Hôm nay tài liệu này đã được in và chuyển đến từng giáo viên. Tuy nhiên chưa thể thực hiện được ngay vì các tổ chuyên môn còn phải họp bàn nghiên cứu”.

Theo hướng dẫn của Sở GD-ĐT Hà Nội, sau khi nhận được tài liệu giảm tải, ban giám hiệu các trường chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn họp để thảo luận, thống nhất việc điều chỉnh phân phối chương trình chi tiết trên cơ sở lược bớt những nội dung, yêu cầu đã được Bộ GD-ĐT cho phép.

Cập rập quá sẽ trở thành khẩu hiệu!

Theo PGS Văn Như Cương, hiệu trưởng Trường THPT Dân lập Lương Thế Vinh (Hà Nội), cách thực hiện giảm tải năm nay của Bộ là quá cập rập và bản chất thì mới chỉ dừng lại ở việc giảm tải SGK còn chương trình thì vẫn nặng.

PGS. Văn Như Cương cho rằng, việc hướng dẫn điều chỉnh nội dung chương trình - SGK của Bộ GD-ĐT mới chỉ xoay quanh các vấn đề nếu trùng lặp ở hai bộ môn giống nhau thì bỏ đi một, nếu kiến thức ở lớp dưới trùng với lớp trên thì bỏ bớt hoặc bỏ bớt đi các bài tập không phù hợp với cấp học của HS… Trong khi đó những phần như vậy là không nhiều.

“Một chủ trương như vậy nhưng Bộ GD-ĐT chỉ thực hiện trong vòng chưa đầy một tháng. Thử hỏi trong khoảng thời gian ngắn như vậy Bộ vừa xin ý kiến, vừa đánh giá sau đó lại trình lãnh đạo phê duyệt thì hiệu quả được đến bao nhiêu. Thật ra những hướng dẫn của Bộ thì giáo viên cũng đã thực hiện hàng ngày bởi khi giảng dạy họ cũng phải đưa ra những ví dụ, bài tập... phù hợp với đối tượng học sinh” - PGS Văn Như Cương nhấn mạnh.

Cũng theo PGS. Cương, do hướng dẫn của Bộ chỉ giảm tải đối với chương trình - SGK ban cơ bản trong khi đó môn Toán của trường lại dạy theo chương trình nâng cao nên sẽ không làm ảnh hưởng. Còn đối với những môn học khác, trường sẽ có cách thực hiện riêng với quan điểm cắt bỏ những phần cảm thấy cần thiết còn không thì vẫn giữ nguyên. Tất nhiên các phần cắt bỏ không vượt ra khỏi hướng dẫn giảm tải của Bộ GD-ĐT.

TS. Nguyễn Tùng Lâm - hiệu trưởng Trường THPT Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội) cũng cho rằng, đối với các giáo viên dạy giỏi thì việc cắt bỏ kiến thức hay bài tập để phù hợp với đối tượng HS thì đã được thực hiện nhiều năm chứ không phải đợi hướng dẫn giảm tải của Bộ. Tuy nhiên những cách làm đó không được công khai bởi theo quy định của Bộ là không được phép. Tuy nhiên với việc Bộ GD-ĐT mạnh dạn đưa ra các nội dung giảm tải trong năm học này là một chủ trường hoàn toàn đúng đắn. Có thể ở giai đoạn đầu còn gặp nhiều khó khăn và nhiều thiếu sót nên Bộ GD-ĐT phải chịu khó lắng nghe và tiếp tục điều chỉnh cho đến khi chương trình - SGK mới ra đời. Bên cạnh đó cũng phải nghiên cứu điều chỉnh ra các bài tập hoặc đề thi kiểm tra đánh giá để rèn tư duy của HS. Những việc làm này cần phải được thực hiện sớm để giáo viên chủ động với phương pháp giảng dạy để đáp ứng được với việc ra đề thi theo hình thức mới.

Phân tích dưới một góc độ khác, GS-TSKH Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Giáo dục - Thanh niên - Thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội cho rằng, giảm tải là một vấn đề chuyên môn rất phức tạp, chính vì thế không phải cứ nói là làm ngay được. Đáng lẽ chủ trương giảm tải phải được đưa ra kịp thời để có thời gian chuẩn bị cho chắn chắn bởi nếu không chuẩn bị kỹ càng sẽ thiếu hiệu quả.

“Lúc đầu tôi nghe chủ chương này thì rất là phấn khởi bởi vì sau nhiều năm xã hội lên tiếng thì Bộ GD-ĐT cũng đã hưởng ứng. Tuy nhiên vừa rồi nghe thấy cái sự chuẩn bị cập rập quá và chưa đến đâu vào đâu thì tôi cũng bắt đầu nghi ngờ vì không biết nó có hiệu quả hay không hay đây chỉ là một khẩu hiệu” - GS Thi nhấn mạnh.

Nguyễn Hùng

Nguồn: Dân Trí

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Sẽ có nhiều thay đổi trong kỳ thi tốt nghiệp 2011-2012

Chiều ngày 31/8, Bộ GD-ĐT đã tổ chức họp báo chuyên đề khai giảng năm học mới 2011-2012. Những vấn đề được xã hội quan tâm như giảm tải, chấn chỉnh lạm thu và đặc biệt những thông tin mới nhất về kì thi tốt nghiệp 2011-2012… đã được lãnh đạo Bộ chia sẻ.

Đề án 70.000 tỷ tiếp tục được triển khai

Tại cuộc họp báo, ông Vũ Đình Chuẩn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học - Bộ GD-ĐT cho biết, sau khi Bộ GD-ĐT đăng tải dự thảo về hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học cấp THPT, đã có hơn 100 ý kiến đóng góp của tập thể, cá nhân đã gửi về phòng chuyên môn. Phần lớn các ý kiến đều đồng thuận với chủ trương giảm tải của Bộ GD-ĐT. Có một số góp ý về vấn đề “kỹ thuật”, diễn đạt… Hiện nay, Vụ Giáo dục trung học đang tổng hợp các góp ý để trình lãnh đạo Bộ sau đó tiếp tục rà soát lần cuối cùng trước khi chính thức ban hành công văn hướng dẫn giảm tải vào ngày 3/9 tới.


Quang cảnh buổi họp báo.

Cũng theo ông Chuẩn, hướng dẫn giảm tải của Bộ sẽ rất cụ thể, rõ ràng và dễ nghiên cứu và dễ triển khai thực hiện. Bộ GD-ĐT sẽ gửi nội dung giảm tải này cho lãnh đạo các Sở, sau đó Sở sẽ có trách nhiệm phát tài liệu này cho từng giáo viên. Ngay sau khi bắt đầu năm học, Bộ sẽ tiến hành kiểm tra việc triển khai giảm tải, công việc kiểm tra này cũng sẽ trở thành hoạt động thường xuyên.

Liên quan đến vấn đề giảm tải, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển khẳng định đây là một giải pháp để đảm bảo chất lượng giáo dục phù hợp hơn, tinh giản hơn, cơ bản hơn hướng tới đánh giá năng lực người học, cách vận dụng được kiến thức, kĩ năng và các giáo viên có điều kiện nâng cao phương pháp dạy học. Quá trình này phải tiếp tục hằng năm và có lộ trình. Việc tiếp thu ý kiến về việc giảm tải Bộ GD-ĐT đưa ra hai quan điểm, một là tiếp thu để khắc phúc ngay. Hai là, những ý kiến chưa thể thực hiện ngay được thì phải chờ dịp khác, thậm chí là đợi chương trình SGK mới thì mới thực hiện được.

Thứ trưởng Hiển cũng cho biết, đề án đổi mới chương trình, nội dung SGK với kinh phí 70.000 tỷ đồng đang tiếp tục được thực hiện, nghiên cứu và hoàn thiện. Đề án này sẽ được ban hành sau khi Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020.

“Chúng ta có dự kiến chi 70.000 tỷ đồng nhưng không phải chỉ để cho viết sách mà là cho toàn bộ quá trình. Nước ta hiện có khoảng 30.000 trường phổ thông, như vậy bình quân mỗi trường được hơn 2 tỷ đồng để thực hiện rất nhiều khâu thì không phải nhiều” - Thứ trưởng Hiển chia sẻ.

Thi tốt nghiệp 2011-2012: Phân cấp mạnh cho địa phương

Chia sẻ tại buổi họp báo, ông Trần Văn Nghĩa - Phó cục trưởng Cục khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục cho biết: “Bộ sẽ tiến hành kiểm tra rà soát lại các khâu trong kì thi tốt nghiệp 2010-2011 để xác định điểm mạnh và yếu. Qua đó sẽ đưa ra các giải pháp cụ thể để tiến đến việc tổ chức kì thi gọn nhẹ nhưng đảm bảo an toàn và nghiêm túc”.

Ông Nghĩa cũng cho hay, trong năm học này sẽ yêu cầu các Bộ ban ngành địa phương phối hợp với ngành giáo dục trong các khâu tổ chức kì thi. Hoàn thiện mối quan hệ giữa ban chỉ đạo thi các trường phổ thông với ban chỉ đạo thi cấp tỉnh cũng như với ban chỉ đạo thi Trung ương. Bên cạnh đó sẽ tăng cường khả năng giám sát giữa các ban chỉ đạo thi.

Trong kì thi tốt nghiệp năm 2011-2012, Bộ GD-ĐT tiếp tục thực hiện phân cấp, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho giám đốc các Sở GD-ĐT trong khâu tổ chức thi. Giao cho giám đốc Sở GD-ĐT đưa ra cách thức tổ chức thi phù hợp với địa phương của mình, bên cạnh Sở cũng được phép chủ động tổ chức chấm thi nhưng phải đảm bảo yêu cầu chấm chéo bài thi tự luận giữa các khu vực của tỉnh.

Như vậy với kì thi tốt nghiệp THPT năm học 2011-2012 hình thức thi cụm, chấm theo liên tỉnh sẽ bị xóa bỏ mà chỉ còn thu hẹp lại trong từng địa phương.

Sẵn sàng cho năm học mới

Bộ GD-ĐT cho biết, để chuẩn bị cho năm học 2011-2012, công tác bồi dưỡng hè cho giáo viên, CBQL các trường tiểu học, THCS, THPT và TTGDTX được chuẩn bị chu đáo. Đã có 1.200 báo cáo viên cốt cán về triển khai Chuẩn Hiệu trưởng trường Mầm non và Chuẩn Hiệu trưởng trường Tiểu học. Bồi dưỡng báo cáo viên cốt cán Mầm non. Bồi dưỡng 1.860 học viên cốt cán cấp Bộ với các chuyên đề.

Tập huấn 600 cán bộ cốt cán cấp THPT về tổ trưởng chuyên môn; bồi dưỡng cho 430 giáo viên chủ nhiệm lớp cốt cán của các tỉnh/ thành phố; bồi dưỡng cho 530 cán bộ cốt cán các tỉnh/thành phố về nội dung giáo dục hòa nhập. Tổ chức bồi dưỡng về các nội dung chuyên môn sâu cho 2.000 giáo viên cốt cán các trường chuyên trên toàn quốc.

Ở các địa phương, 100% đội ngũ giáo viên các Sở GD-ĐT đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng hè 2011, các lớp tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, công tác chủ nhiệm, năng lực quản lí cho cán bộ quản lí, giáo viên và nhân viên các cấp.

Theo ước tính, năm học 2011-2012 toàn ngành GD-ĐT sẽ có 3.756.000 trẻ mầm non đến trường (trong đó nhà trẻ 556.000 cháu, mẫu giáo 3.200.000 cháu). HS PT có 15.140.000 em (tăng 288.000 em so với năm học 2010-2011), trong đó tiểu học 7.350.000 em (tăng 301.300 em), THCS 4.960.000 em (giảm 8.300 em), THPT 2.830.000 em (giảm 5.000 em so với năm học 2010-2011).

Trong các ngày đầu tựu trường, các cơ sở giáo dục đã có kế hoạch tổ chức cho HS học nội quy nhà trường, Luật Giao thông đường bộ và có nhiều hoạt động sinh hoạt tập thể trong tuần đầu năm học mới nhất là ở những lớp đầu cấp học.

Để chấn chỉnh tình trạng lạm thu đầu năm, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cho rằng nguồn thu của các trường rất hạn chế nên nếu phụ huynh tự nguyện giúp nhà trường thì đó là điều rất hoan nghênh. Tuy nhiên, ông Hiển cũng khẳng định sự tự nguyện ở đây phải là tự nguyện thật sự chứ không phải bắt buộc hoặc “tự nguyện trong ngoặc kép”. Các khoản thu của phụ huynh tuyệt đối không sử dụng để hỗ trợ các hoạt động dạy học và giáo dục, khen thưởng cán bộ, giáo viên. Thời gian tới Bộ GD-ĐT sẽ tiếp tục ra soát để đưa ra thêm các danh mục không được phép sử dụng khoản thu của phụ huynh.

Nguyễn Hùng

Nguồn: Dân Trí

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

Đề tài: Đổi mới kiểm tra đánh giá là động lực để đổi mới phương pháp dạy học

PHẦN THỨ NHẤT:PHẦN MỞ ĐẦU

1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đại hội đã đưa đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đất nước ta đã không ngừng đổi mới và phát triển. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam quyết định đẩy mạnh CNH-HĐH. Nghị quyết TW 2 Khóa VIII xác định ”Muốn tiến hành CNH-HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục – đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”. Bởi vậy, “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” (Điều 35 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam).

“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức tri thức, sức khỏe thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. (Điều 2 Luật Giáo dục của nước CHXHCN Việt Nam 2005).

Trong những năm qua, đất nước ta chuyển mình trong công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện: từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Chuyển từ chính sách ”đóng cửa” sang chính sách “mở cửa” làm bạn với các nước trong cộng đồng thế giới. Với công cuộc đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội,  trong đó giáo dục đã có một cuộc cách mạng thực sự.

Khác với những lần cải cách giáo dục trước đây ( năm 1950, 1956, 1980), lần này ngành giáo dục chỉ tập trung đổi mới chương trình giáo dục phổ thông    ( từ Tiểu học qua Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông). Tuy nhiên, cần hiểu chương trình theo nghĩa rộng như Luật định: “ Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông; phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông” ( Điều 29, mục II - Luật Giáo dục – 2005). Như vậy, đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải là quá trình đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến phương tiện giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục, kể cả việc đổi mới các xây dựng chương trình, từ quan niệm cho đến quy trình kỹ thuật và đổi mới hoạt động quản lý cả quá trình này. Trong đó, đổi mới kiểm tra đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy và học; là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục.

Tuy nhiên, trong nhiều năm thực hiện đổi mới giáo dục đã trôi qua, ngoài những kết quả đạt được về quy mô, về đa dạng hoá các loại hình đào tạo, về xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học…thì chất lượng giáo dục vẫn là một vấn đề làm cho chúng ta vẫn phải băn khoăn nhiều nhất. Hiệu quả của đổi mới phương pháp giáo dục ở nhiều nơi còn quá chênh lệch và không cao mà nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá còn chưa cập với đổi mới phương pháp giảng dạy “ thi thế nào thì học thế ấy”.

Hiện nay, do nhiều lí do mà việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của  học sinh trong các trường phổ thông, giáo viên chưa đề cao đến việc kiểm tra đánh giá ở lĩnh vực nhận thức của học sinh. Như giáo viên mới chỉ đánh giá để biết được mức độ tiếp thu kiến thức và kỹ năng của người học mà chưa chú ý đến yêu cầu thực hiện những công việc có ý nghĩa giống với những thách thức đời thường sẽ gặp sau này để xem người học hình thành kỹ năng đến mức nào. Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì cái quan trọng nhất trong việc đào tạo ở THPT là dạy cách học, do vậy việc nâng cao mức độ đánh giá cần được quán triệt khi chọn nội dung đánh giá cũng như hình thức đánh giá và đặc biệt cần phải bảo đảm nguyên tắc "Kiểm tra đánh giá của giáo viên phải kích thích được sự tự kiểm tra đánh giá của người học và kiểm định được chính xác, khách quan thành quả học tập và mức độ đạt được mục tiêu dạy học".

Trường THPT Bình Sơn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc  không đứng ngoài thực trạng đó. Hơn ai hết, là người làm công tác quản lý một trường THPT trên quê hương mà mình dã sinh ra và lớn lên, tôi nhận thức rõ trách nhiệm đặt lên vai của mình. Phải có biện pháp chỉ đạo thiết thực, phù hợp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, đổi mới kiểm tra đánh giá làm động lực để đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả. Vì vậy, chọn đề tài  tìm ra các giải pháp đánh giá toàn diện, chính xác kết quả học tập cần sử dụng đồng bộ, có hiệu quả các hình thức kiểm tra đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh từ đó đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên đáp ứng yêu của thực tế và đây cũng là hướng quy hoạch giáo dục trong tương lai. Xuất phát từ những lý do khách quan, chủ quan như đã phân tích, tôi đã nghiên cứu đề tài: “Đổi mới kiểm tra đánh giá là động lực để đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc “.

2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất và lý giải những biện pháp chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá ở trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh của n

3.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1- Xác định cơ sở khoa học của việc quản lý chỉ đổi mới kiểm tra đánh giá.

3.2- Phân tích thực trạng việc quản lý, chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá ở trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc

3.3- Đề  xuất và lý giải một số biện pháp đổi mới kiểm tra đánh giá ở trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay.

4.PHẠM VI NGHIÊN CỨU

          Vì thời gian nghiên cứu có hạn, nên đề tài này tôi  chỉ tiến hành nghiên cứu ở trường THPT Bình Sơn – Sông Lô- Vĩnh Phúc, nơi mà tôi đang công tác.

5.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đổi mới kiểm tra đánh giá là động lực để đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc.

6.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các Văn kiện Đại hội Đảng, Hiến pháp, Luật Giáo dục, Điều lệ trường trung học, Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục của Bộ Giáo dục, Sở GD - ĐT Vĩnh Phúc, trường THPT Bình Sơn.

- Giáo trình, sách của các nhà khoa học.

- Tài liệu, Tạp chí...

6.2- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Quan sát, đàm thoại, trao đổi, khảo sát...

- Tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục.

6.3- Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ

- Thống kê, toán học, biểu bảng, sơ đồ...

PHẦN THỨ HAI: PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I

NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC

CỦA ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ Ở TRƯỜNG THPT

1.1-CƠ SỞ LÝ LUẬN

Kiểm tra - đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh về tác động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để học sinh học tập ngày một tiến bộ hơn. Phương tiện và hình thức quan trọng của đánh giá là kiểm tra.

          Đánh giá với hai chức năng cơ bản là xác nhận và điều khiển. Xác nhận đòi hỏi độ tin cậy, điều khiển đòi hỏi tính hiệu lực. thực hiện tốt đồng thời cả hai chức năng sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Đánh giá chất lượng giáo dục gồm nhiều vấn đề, trong đó hai vấn đề cơ bản nhất là đánh giá chất lượng dạy của thầy và đánh giá chất lượng học của trò. Đánh giá thực chất sẽ tạo động lực nâng cao chất lượng dạy và học.

          Trong qúa trình hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình, mỗi học sinh được trải qua quá trình giáo dục bao gồm các mặt giáo dục trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mĩ. Đánh giá chất lượng học tập của các môn học của học sinh thực chất là xem xét mức độ hoàn thành mục tiêu giáo dục đã đặt ra cho quá trình giáo dục ở các môn học, trong đó chủ yếu là xem xét những năng lực về mặt trí tuệ mà học sinh đã đạt được sau một giai đoạn học tập.

          Tham gia vào quá trình học tập, học sinh có mục đích chiếm lĩnh những tri thức của môn học mà những tri thức này được mục tiêu của mỗi môn học đặt ra và yêu cầu học sinh phải đạt được. Mục tiêu  môn học đặt ra các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ thể hiện trong chương trình giáo dục phổ thông. Trong quá trình dạy học, giáo viên phải đặt ra những kế hoạch để kiểm tra mức độ đạt được yêu cầu so với mục tiêu đặt ra. Kiểm tra xem học sinh đạt được những yêu cầu về các mặt ở mức độ nào, so với mục tiêu môn học đề ra hoàn thành được đến đâu.

          Hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời nhằm tạo ra hiệu quả ở mức cao nhất thể hiện ở chất lượng học tập của học sinh. Dạy học căn cứ kết quả đầu ra cần thông tin phản hồi đa dạng. Về phương diện này chất lượng học tập được xem như chất lượng của một sản phẩm đang trong giai đoạn hình thành và hoàn thiện. Sự điều chỉnh, bổ sung những kiến thức, kỹ năng, thái độ còn chưa hoàn thiện giúp cho chất lượng học tập trở thành tri thức bền vững cho mỗi học sinh. Việc kiểm tra chất lượng học tập sẽ giúp cho các nhà quản lý giáo dục, các giáo viên và bản thân học sinh có những thông tin xác thực, tin cậy để có những tác động kịp thời nhằm điều chỉnh và bổ sung để hoàn thiện sản phẩm trong quá trình dạy học.

Qui trình kiểm tra - đánh giá kết quả học tập  quá trình tự sử dụng các hình thức kiểm tra - đánh giá khác nhau trong suốt quá trình dạy học môn học nhằm rèn luyện việc đạt các mục tiêu đã xác định trong đề cương môn học. Có 2 hình thức kiểm tra - đánh giá: 1) Kiểm tra - đánh giá thường xuyên; 2) Kiểm tra - đánh giá định kỳ. Kiểm tra - đánh giá thường xuyên là hoạt động của giáo viên sử dụng  các kĩ thuật đánh giá khác nhau trong các hình thức tổ chức thực hiện giờ dạy (lí thuyết, thảo luận, thực hành, thí nghiệm, hoạt động theo nhóm, tự học, tự nghiên cứu, ...) như một bộ phận của phương pháp dạy học nhằm rèn luyện và kiểm tra việc rèn luyện các kiến thức, kĩ năng đã được xác định trong mục tiêu của môn học. Kiểm tra - đánh giá định kì là hoạt động của giáo viên vào những thời điểm đã được qui định trong đề cương môn học, gắn các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn với những phương pháp kiểm tra - đánh giá tương ứng nhằm đánh giá, định hướng việc đạt mục tiêu môn học ở giai đoạn tương ứng của học sinh. Kết quả kiểm tra - đánh giá định kì được xem là kết quả học tập môn học của học sinh  và là cơ sở để đánh giá chất khi kết thúc môn học.

          Vị trí, vai trò của kiểm tra – đánh giá là không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong cả quá trình. Đánh giá ở mỗi thời điểm cuối mỗi giai đoạn sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục.

Đổi mới kiểm tra, đánh giá là hướng vào bám sát mục tiêu từng bài, từng chương và mục tiêu giáo dục của môn học ở từng lớp, từng cấp. Các câu hỏi, bài tập sẽ đo được mức độ thực hiện các mục tiêu đã được xác định. Đổi mới nội dung, phương pháp theo hướng tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo niềm tin, năng lực tự học cho học sinh thì đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển trí thông minh, sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của học sinh trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng. Chừng nào việc kiểm tra đánh giá chưa thoát khỏi quỹ đạo học tập thụ động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực.

Hướng tới kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan, kịp thời và không bỏ sót kết quả học tập của học sinh, phải có tác dụng giáo dục và động viên học sinh, giúp học sinh sửa chữa thiếu sót kịp thời. Bộ công cụ đánh giá sẽ được bổ sung các hình thức đánh giá khác như đưa thêm dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm; chú ý hơn tới đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, quan tâm tới mức độ hoạt động tích cực, chủ động của học sinh trong từng tiết học, cả tiết tiếp thu kiến thức mới và tiết thực hành, thí nghiệm. Điều này đòi hỏi giáo viên phải bỏ nhiều công sức hơn cũng như công tâm hơn trong việc kiểm tra đánh giá. Lãnh đạo nhà trường cần quan tâm và giám sát hoạt động này.

Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích học tập của học sinh mà còn bao gồm đánh giá quá trình dạy học nhằm cải tiến quá trình dạy học. Chú trọng kiểm tra, đánh giá hành động, tình cảm của học sinh: nghĩ và làm. Năng lực vận dụng vào thực tiễn của học sinh, thể hiện qua ứng xử, giao tiếp. Cần bồi dưỡng những phương pháp, kỹ thuật lấy thông tin phản hồi của học sinh để đánh giá quá trình dạy học.

Đánh giá kết quả học tập của học sinh, thành tích học tập của học sinh không chỉ đánh giá kết quả cuối cùng mà chú ý cả quá trình học tập. Trong đó cần chú ý: Không tập trung vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp. Căn cứ vào đặc điểm của từng môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi cấp học, cần có quy trình đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét của giáo viên cho từng môn học và hoạt động giáo dục.

Nội dung đánh giá có thể hơi “ cao” hơn so với trình độ học sinh ( đòi hỏi tư duy, suy luận), nhưng không được quá khó, để kích thích sự tìm tòi, sáng tạo, hứng thú. Chú trọng yêu cầu đòi hỏi học sinh phải hiểu nội dung, hiểu bản chất nội dung, không chỉ thuộc một cách máy móc. Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra đánh giá không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lập lại các kỹ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế. Hệ thống câu hỏi kiểm tra đánh giá cũng cần thể hiện sự phân hoá, đảm bảo 70% câu hỏi, bài tập đo được mức độ đạt chuẩn - mặt bằng về nội dung học vấn dành cho mọi học sinh THPT và 30% còn lại phản ánh mức độ nâng cao – dành cho học sinh có năng lực trí tuệ và thực hành cao hơn.

Đổi mới kiểm tra đánh giá bao gồm cả đổi mới hình thức đánh giá, phương thức đánh giá, phương tiện đánh giá, tiêu chí đánh giá, thiết kế đề kiểm tra để đánh giá học sinh. Đổi mới hình thức đánh giá là sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá khác nhau, kết hợp giữa trức nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan. Đổi mới phương thức đánh giá là tăng cường đánh giá trong giờ, ngoài giờ, chính thức và không chính thức. Đánh giá qua quan sát, trao đổi - thảo luận, qua tự học, chuẩn bị, tìm thêm tư liệu, sáng tạo, đồ dùng học tập. Tạo sự kết hợp linh hoạt giữa kiểm tra, lượng giá, đánh giá định tính và định lượng. Chú trọng hướng dẫn học sinh phát triển khả năng và thói quen tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau. Kết hợp giữa đánh giá của thầy với đánh giá của trò. Có được như vậy thì mới tự điều chỉnh được cách dạy và cách học. Đổi mới phương tiện đánh giá là tăng cường sử dụng công nghệ thông tin để giúp đánh giá khách quan, chính xác và kịp thời. Với ự giúp đỡ này thì kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học. Đổi mới các tiêu chí đánh giá là phải đánh giá được toàn diện các mặt của giáo dục của học sinh; đảm bảo sự tin cậy, chính xác, công bằng, khách quan, phản ánh chất lượng thực; đảm bảo khả thi, phù hợp với điều kiện của học sinh, cơ sở giáo dục, mục tiêu từng môn học; đảm bảo yêu cầu phân hoá; đảm bảo giá trị, hiệu quả cao. Đổi mới thiết kế đề kiểm tra để đánh giá học sinh là vừa kết hợp giữa tự luận và trắc nghiệm khách quan. Thiết kế đề phải xác định được mục đích, yêu cầu của đề; xác định mục tiêu dạy học; thiết lập ma trận hai chiều; thiết kế đáp án, biểu điểm.

1.2-CƠ SỞ PHÁP LÝ

Nghị quyết số 40/2000/QH10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khoá X về đổi mới chương trình phổ thông đã khẳng định: “ Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải thực hiện đồng bộ với việc nần cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử, chuẩn hoá trường sở, đào tạo, bời dưỡng giáo viên và công tác quản lý giáo dục”.

Mục 2 điều 11 Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục xác định: “ Việc đánh giá kết quả học  tập, công nhận người học hoàn thành chương trình môn học, cấp học hoặc trình độ đào tạo bằng hình thức kiểm tra, thi kết thúc môn học, thi tốt nghiệp hoặc xét tốt nghiệp; kết quả kiểm tra, thi là một căn cứ chủ yếu giúp nhà trường và các cấp quản lý giáo dục đánh giá chất lượng giáo dục”.

Điều lệ trường trung học ban hành theo quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi rõ: “Học sinh được kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo Quy chế đánh giá và xếp loại học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo”- ( Quy chế 40).

Hướng dẫn Bộ GD & ĐT về nhiệm vụ của toàn ngành trong năm học 2008 - 2009 trong nội dung nhiệm vụ thứ hai phần f nói về tiếp tục đổi mới công tác thi, kiểm tra và đánh giá: “Củng cố và hoàn thiện hệ thống khảo thí và đánh giá chất lượng giáo dục ở tất cả các tỉnh, thành phố. Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác khảo thí và đánh giá chất lượng giáo dục.Triển khai kế hoạch đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, trung cấp chuyên nghiệp.

Tiếp tục xây dựng ngân hàng câu hỏi thi, kiểm tra của các môn học để giáo viên tham khảo, học sinh luyện tập và vận dụng sáng tạo các nội dung đã học.
          Tiếp tục hoàn thiện Đề án đổi mới thi và tuyển sinh theo lộ trình đổi mới công tác thi và đánh giá chất lượng giáo dục. Phát huy sáng kiến và sự chịu trách nhiệm của các địa phương, đổi mới phương thức tổ chức thi, phấn đấu kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2008-2009 nghiêm túc và chính xác như thi tuyển sinh đại học, cao đẳng. Tăng cường thanh tra, kiểm tra tất cả các khâu của quy trình tổ chức thi, đảm bảo thi nghiêm túc, khách quan, công bằng, có biện pháp cụ thể để phòng ngừa, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực. Xây dựng ngân hàng đề thi, kiểm tra đạt yêu cầu về số lượng, chất lượng. nội dung phương pháp giáo dục đã nhấn mạnh: nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh”.

Như vậy vấn đề đổi mới kiểm tra đánh giá để nâng cao chất lượng giáo dục  học sinh đang là vấn đề cấp thiết trong hoạt động giáo dục của toàn ngành nói chung, của trường THPT nói riêng.

1.3-CƠ SỞ THỰC TIỄN

- Theo cách đào tạo kiểu biên chế theo năm học trong các trường THPT của ta hiện nay, kết quả học tập môn học  của học sinh được đánh giá bằng điểm thi kết thúc môn học – Quy chế, đánh giá xếp loại học sinh THCS và THPT ban hành theo Quyết định số: 40/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT.

- Tuy nhiên, do phải đối phó với áp lực thi cử nặng nề mà nhiều giáo viên vẫn chưa đổi mới phương pháp vẫn dạy học đọc chép và kiểm tra đánh giá theo lượng kiến thức máy móc mà học sinh ghi nhớ được. Giáo viên đánh giá kết quả học tập của học sinh dựa vào cách thi cử khi mà học sinh chỉ việc chép lại bài giảng ở trên lớp hoặc sách giáo khoa, rất ít khi được trình bày quan điểm của mình. Đề thi kiểm tra đánh giá ra theo hướng “học vẹt” dẫn tới khi thi học sinh có thể chép đáp án ngay từ trong sách mà không cần phải học gì. Đề thi trắc nghiệm, nhiều giáo viên có tâm lý ngại ra đề và trộn các mã đề nên chất lượng của các đề này không cao, không đánh giá đúng theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của học sinh.

- Theo Quy chế 40 thì số lần cho điểm kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ của từng môn tăng hơn so với trước nên nhiều giáo viên không kiểm tra đủ số lần điểm cho học sinh mà cấy điểm, hoặc không chấm, trả bài cho học sinh. Cũng theo Quy chế này, thì điểm kiểm tra học kỳ nhân hệ số 3, đặc biệt là học kỳ II lại nhân 2, cộng với học kỳ I và chia cho 3. Do vậy, thường là vào cuối năm, áp lực thi cử lại dồn lên học sinh hết sức nặng nề, thêm vào đó là yêu cầu báo cáo kết quả sớm đã làm cho giáo viên và học sinh căng ra mà chạy.

- Việc đổi mới kiểm tra đánh giá còn gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học, phương tiện và thiết bị dạy học. Trong những năm qua Nhà nước và Bộ giáo dục đã đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc về cho các trường nhưng chất lượng rất thấp chỉ dùng được thời gian là hỏng, hơn nữa đội ngũ bảo quản, sử dụng ở các trường đều không có ( kiêm nhiệm ) do vậy việc sử dụng hầu như không có hiệu quả. Đặc biệt là bộ phận khảo thí ở các trường đều yếu và không tách khỏi độc lập với giáo viên.

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC  ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ 

Ở TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN TỈNH VĨNH PHÚC

2.1- ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG

2.1.1- Đặc điểm chung của địa phương

Trường THPT Bình Sơn đóng trên địa của xã Nhân Đạo, một xã  miền núi nằm ở vùng xa nhất của huyện miền núi Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Vùng tuyển sinh của trường gồm 8 xã phía Bắc vùng sâu, vùng xa nhất của huyện Sông Lô. Điều kiện kinh tế, cơ sở hạ tầng, giao thông, thông tin, văn hoá chính trị xã hội... còn gặp rất nhiều khó khăn. Mọi thứ đều thiếu, không đồng bộ, lạc hậu, hạn chế... so với tất cả các huyện khác ở trong tỉnh. Đặc biệt là trình độ dân trí còn rất thấp, đại đa số là làm nghề nông nên có rất nhiều hạn chế trong nhận thức và phương pháp giáo dục trẻ.

Trong vài năm gần đây, thực hiện cuộc vận động: “ Nói không với bệnh thành tích trong giáo dục, nói không với tiêu cực trong thi “ do Bộ Giáo dục phát động và thực hiện đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá nhưng chủ yếu vẫn là đối phó với thi cử ( thi tốt nghiệp lớp 12, thi vào đại học – Cao đẳng ), vì đó là các tiêu chí để đánh giá, xếp loại thi đua hằng năm. Do vậy, thực tế thì hầu như vẫn dậm chân tại chỗ mà chẳng đổi mới được bao nhiêu.

2.1.2- Đặc điểm  của trường

Trường THPT Bình Sơn được thành lập vào ngày 03 tháng 12 năm 2003, là một trường có vùng tuyển sinh và nằm ở nơi vùng sâu, vùng xa nhất của huyện miền núi Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau 7 năm liên tục phấn đấu và trưởng thành đến nay trường đã có một cơ sở trường lớp tương đối khang trang, khuôn viên rộng và thoáng. Hiện nay trường có 31 lớp với 1389 học sinh.

Những năm đầu mới thành lập, qui mô các năm đều tăng hơn năm trước. Tuy nhiên, hai năm trở lại đây sĩ số học sinh trên một lớp tương đối ổn định có chiều hướng giảm xuống theo sĩ số qui định của chuẩn.

Dưới đây là bảng tổng hợp số lớp và sĩ số các năm ( Nguồn nhà trường)

Năm học

Số lớp công lập

Số lớp bán công

Tổng số lớp

Tổng số học sinh

Sĩ số HS trên 1 lớp

2003 - 2004

5

4

9

471

>52

2004 - 2005

11

7

18

917

>50

2005 – 2006

18

11

29

1464

>50

2006 – 2007

22

10

32

1559

>48

2007 – 2008

25

10

35

1613

> 46

2008 - 2009

29

5

34

1534

> 45

2009 - 2010

29

2

32

1405

=44

2010 - 2011

31

0

31

1395

=45

 

Hiện nay trường có 66 cán bộ, giáo viên, nhân viên với 55 giáo viên đứng lớp (5 giáo viên đi học và nghỉ chế độ). Lãnh đạo nhà trường có 01 đồng chí Hiệu trưởng, 01 đồng chí Phó hiệu trưởng. Trường có một Chi bộ Đảng gồm 14 đảng viên, với 11 đồng chí đang ở tuổi Đoàn. Những năm qua Chi bộ liên tục đạt “Chi bộ trong sạch, vững mạnh”. Công đoàn nhà trường liên tục được nhận bằng khen của công đoàn ngành. Chi đoàn giáo viên gồm 58 đồng chí. Đoàn trường liên tục đạt danh hiệu “Đoàn trường có công tác đoàn và phong trào thanh niên xuất sắc”  được Tỉnh Đoàn và Trung Ương Đoàn tặng bằng khen. Mấy năm qua trường giữ vững danh hiệu “Trường tiên tiến cấp tỉnh”, năm học 2008 – 2009 và 2009 – 2010 đạt danh hiệu “ Trường tiên tiến xuất sắc”.

Đội ngũ giáo viên đã được chuẩn hóa và không ngừng phát triển. Tập thể sư phạm thực sự là tổ ấm, đoàn kết, thống nhất.

Dưới đây là bảng tổng hợp cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường các năm ( Nguồn nhà trường).

Năm học

Tổng số lớp

Số cán bộ QL

Số giáo viên

Số nhân viên

Trình độ Thạc sỹ

Tỷ lệ giáo viên/lớp

2003 - 2004

9

1

8

1

1

0.89

2004 - 2005

18

2

19

1

1

1.06

2005 – 2006

29

2

35

1

2

1.21

2006 – 2007

32

1

41

1

2

1.28

2007 – 2008

35

3

43

2

3

1.23

2008 - 2009

34

3

51

3

5

1.50

2009 - 2010

32

2

56

2

6

1.75

2010 - 2011

31

2

60

4

8

1.94

Chất lượng giáo dục toàn diện ngày càng tăng với tỷ lệ học sinh lên lớp và đỗ tốt nghiệp hàng năm đạt 90 - 98%. Học sinh lớp 12 đỗ vào Đại học, Cao đẳng ngày càng tăng.

Dưới đây là bảng tổng hợp học sinh đỗ tốt nghiệp lớp 12 và thi đỗ CĐ-ĐH các năm ( Nguồn nhà trường).

Năm học

 

Số lớp 12

 

Số học sinh

Số HS thi đỗ tốt nghiệp

Tỷ lệ %

Số HS thi đỗ CĐ-ĐH

Tỷ lệ %

2003 - 2004

0

0

0

Chưa có

Chưa có

 

2004 - 2005

0

0

0

Chưa có

Chưa có

 

2005 – 2006

9

459

451

98.3

46

10.02

2006 – 2007

9

464

419

90.4

118

25.43

2007 – 2008

11

532

508

95.6

256

48.12

2008 - 2009

11

484

435

89.9

297

61.36

2009 - 2010

11

508

499

98.29

323

63.58

Chất lượng mũi nhọn là học sinh giỏi cấp tỉnh hàng năm đều được nhà trường chú trọng đã không ngừng tăng lên về cả số lượng và chất lượng.

Dưới đây là bảng tổng hợp học sinh đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh các năm ( Nguồn nhà trường).

Năm học

Số học sinh dự thi

Số học sinh đạt giải

 

Giải nhất

 

Giải nhì

 

Giải ba

 

Giải KK

2003 - 2004

38

14

0

1

3

10

2004 - 2005

98

57

0

2

16

39

2005 – 2006

112

71

0

6

20

45

2006 – 2007

119

90

1

6

23

60

2007 – 2008

258

119

4

5

39

71

2008 - 2009

201

97

1

9

32

55

2009 - 2010

198

134

1

20

54

68

2.2-MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG CÔNG TÁC ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ Ở TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN TỈNH VĨNH PHÚC

+ Ngay từ đầu năm chi bộ Đảng đã có nghị quyết về đổi mới kiểm tra đánh giá, kiện toàn lại bộ phận khảo thí độc lập kiểm tra đánh giá do một đồng chí Phó Hiệu trưởng trực tiếp phụ trách. Lãnh đạo nhà trường đã có kế hoạch, tổ chức chỉ đạo bằng những biện pháp sát thực, cụ thể: nâng cao nhận thức, vị trí vai trò công tác kiểm tra đánh giá trong tập thể sư phạm, là căn cứ trực tiếp để đánh giá chất lượng giáo viên và chất lượng học tập của học sinh; mua sắm thêm trang thiết bị, máy móc để phục vụ cho việc kiểm tra đánh giá được khách quan  ( máy chấm trắc nghiệm, phần mềm kiểm tra đánh giá ITBM, bảng thông minh ACTIVEBOARD)

+ Công tác đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy và học nói chung và đổi mới kiểm tra đánh giá nói riêng luôn được nhà trường coi trọng hàng đầu. Bởi vì, Đổi mới kiểm tra đánh giá chính là động lực để đổi mới phương pháp dạy học. Trong nghị quyết giáo dục đầu năm học cũng đã nêu cụ thể về:

- Yêu cầu đánh giá: Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng của từng môn học ở từng lớp; Phối hợp tốt giữa đánh giá thường xuyên với đánh giá định kỳ, giữa đánh giá của giáo viên, của học sinh, của gia đình và của cộng đồng; Không chỉ đánh giá kết quả cuối cùng mà đánh giá trong suốt qua trình học tập.

- Hình thức đánh giá: Sử dụng phối hợp các hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau, kết hợp giữa tự luận và trắc nghiệm khách quan.

- Phương tiện đánh giá: Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin, máy chấm trắc nghiệm khách quan.

- Các tiêu chí đánh giá: đánh giá toàn diện kiến thức, kỹ năng, năng lực, thái độ, hành vi của học sinh; đảm bảo độ tin cậy, chính xác, khách quan, công bằng; đảm bảo tính khả thi; đảm bảo yêu cầu phân hoá; đảm bảo giá trị và hiệu quả cao.

+ Nhà trường cúng đã cho giáo viên đi tập huấn và mời các chuyên gia về tập huấn cách thiết kế đề kiểm tra theo hướng đổi mới, cụ thể:

-         Xác định mục đích, yêu cầu của đề kiểm tra.

-         Xác định mục tiêu dạy học.

-         Thiết lập ma trận hai chiều.

-         Thiết kế câu hỏi, bài tập theo ma trận.

-         Thiết kế đáp án, biểu điểm.

+ Lãnh đạo nhà trường yêu cầu giáo viên sau mỗi tiết dạy đều phải có 5 câu hỏi trắc nghiệm và 2 câu hỏi tự luận căn cứ vào chuẩn kỹ năng của môn học và bài học đó, sau đó bộ phận khảo thí sẽ nạp các câu hỏi đó vào phần mềm        ( ITBM) xây dựng thành ngân hàng đề, kết hợp với ngân hàng đề của các trường khác và của Sở. Lãnh đạo nhà trường cùng với bộ phận khảo thí sẽ đi kiểm tra bất cứ giờ của giáo viên nào bằng cách là vào phần mềm ngân hàng đề in câu hỏi của bài học đó và kiểm tra trực tiếp học sinh vào 5 phút cuối của giờ học để đánh giá chất lượng giảng dạy và nhận thức của học sinh trong tiết học học đó sau đó có các biện pháp rút kinh nghiệm và điều chỉnh kịp thời.

+ Đối với các đề kiểm tra thường xuyên ( hệ số 1), trường giao cho các giáo viên dạy tự ra đề và chấm. Đối với các đề kiểm tra định kỳ ( hệ số 2 ), giáo viên nào có giờ kiểm tra ở lớp nào báo với bộ phận khảo thí trước 01 ngày, bộ phận khảo thí sẽ lấy ngẫu nhiên từ ngân hàng đề theo chuẩn kiến thức kỹ năng của các phần được kiểm tra in và phô tô cho giáo viên kiểm tra, sau đó thu bài và giao cho giáo viên khác chấm nếu là tự luận, còn nếu là trắc nghiệm thì bộ phận khảo thí chấm bằng máy. Như vậy thì giáo viên dạy cũng không biết đề kiểm tra sẽ như thế nào, và mỗi lớp đều có các đề khác nhau. Đối với kiểm tra học kỳ, bộ phận khảo thí sẽ ra đề chung cho toàn khối và kiểm tra chung trong toàn trường vào các ngày được quy địng cụ thể và sau đó giao bài cho các giáo viên và bộ phận khảo thí sẽ chấm, trên cơ sở quản lý chặt chẽ quá trình coi thi và chấm thi.

+ Mỗi học kỳ, nhà trường đều tổ chức lấy phiếu học sinh về quy chế chuyên môn, công tác giảng dạy, công tác chủ nhiệm và công tác kiểm tra đánh giá, phát hiện đồng chí giáo viên nào không coi chấm, trả bài nghiêm túc nhà trường đều có những hình thức xử lý đích đáng. Qua đó cũng đã động viên được gương các giáo viên tốt và kịp thời uốn nắn các giáo viên còn vi phạm.

+ Bằng các biện pháp nói trên công tác đổi mới kiểm tra đánh giá của trường đã có nhiều tiến bộ rõ rệt, cụ thể:

- Ban khảo thí đã đi kiểm tra đình kỳ và kiểm tra đột suất 48 giáo viên, trong đó đánh giá giờ dạy đạt: 42% loại tốt, 47% loại Khá, 8% loại TB, 3 % loại yếu.

- Tất cả các giáo viên đều biết cách ra đề theo hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá để nạp vào phần mềm ngân hàng đề và không có giáo viên nào vi phạm không chấm trả bài cho học sinh.

Kết quả xếp loại học lực trong những năm gần đây:

 

Năm học

Tổng số HS

Xếp loại học lực

Số HS phải thi lại

Số HS bị đúp

Giỏi (%)

Khá (%)

Trung bình (%)

Yếu, kém (%)

2005 - 2006

1457

0,06

22

67

11

42

24

2006 - 2007

1568

0,2

27

64

9

39

21

2007 - 2008

1632

1

31

60

8

28

19

2008 - 2009

1555

1,6

34,5

57

7

24

15

2009 - 2010

1405

2.0

41.4

53.5

3.1

26

12

2.3-MỘT SỐ TỒN TẠI

- Vẫn còn một số ít  giáo viên chưa tập trung đầu tư vào đổi mới kiểm tra đánh giá cho nên ra đề nhiều khi còn chiếu lệ, chưa có chất lượng.

- Các em học sinh vẫn chưa thực sự hoà nhập vào đổi mới kiểm tra đánh giá mà vẫn còn có tư tưởng học tủ, học vẹt.

- Sự phối hợp giữa ban khảo thí và cá giáo viên nhiều khi vẫn chưa được thông suốt, đối phó với sự kiểm tra của lãnh đạo nhà trường.

2.4- MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG TỔ CHỨC, CHỈ ĐẠO ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ Ở TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN, TỈNH VĨNH PHÚC

Qua phân tích những kết quả đã đạt được những tồn tại, thách thức trong công tác đổi mới kiểm tra đánh giá ở trường THPT Bình Sơn - Sông Lô - Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay chúng tôi thấy cần làm tốt những vấn đề sau:

- Tiếp tục nâng cao nhận thức, vai trò trách nhiệm cho mọi thành viên, tổ chức trong nhà trường về công tác đổi mới kiểm tra đánh giá.

- Tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện của chi bộ Đảng ở trường học (đặc biệt là lãnh đạo tư tưởng chính trị).

- Nâng cao vai trò, trách nhiệm của cán bộ quản lý, ban khảo thí trong công tác chỉ đạo công tác đổi mới kiểm tra đánh giá.

- Tuyên truyền tốt tư tưởng tới học sinh và cha mẹ học sinh trong đổi mới kiểm tra đánh giá.

- Kết hợp chặt chẽ các lực lượng xã hội khác tham gia hoạt động giáo dục: Hội cha mẹ  học sinh – Uỷ ban nhân dân các xã ... Những nội dung trên được cụ thể bằng một số biện pháp chỉ đạo được trình bày ở Chương III.

CHƯƠNG III

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ Ở TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN, TỈNH VĨNH PHÚC

3.1- Nâng cao nhận thức, vai trò trách nhiệm của các thành viên, tổ chức nhà trường trong công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá

3.1.1- Tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện của chi bộ Đảng

Chi bộ Đảng là trung tâm chính trị, tập hợp lực lượng quần chúng nhằm thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong nhà trường, chi bộ Đảng lãnh đạo toàn diện, đặc biệt chú trọng công tác lãnh đạo tư tưởng, chính trị.

Chi bộ Đảng là cầu nối trực tiếp Đảng với quần chúng. Thông qua giáo viên, nhân viên, học sinh mà chi bộ nắm tâm tư, nguyện vọng, góp ý kiến để chi bộ đưa ra những chủ trương, giải pháp sát thực với tình hình nhằm chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác đổi mới.

Chi bộ có trách nhiệm chú trọng kiện toàn tổ chức nhằm phát huy chức năng của Hiệu trưởng, vai trò của Công đoàn, Đoàn thanh niên, ban khảo thí và các tổ chức quần chúng khác. Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm nâng cao nhận thức về định hướng chính trị cho giáo viên, nhân viên và học sinh.

Từng đảng viên phải thấm nhuần phong cách tác phong  cách mạng, từ đó mỗi đảng viên trở thành một tấm gương sáng, một chuẩn mực để quần chúng học sinh noi theo. Chi bộ Đảng phải thường xuyên kiểm tra bằng nhiều hình thức, qua đó để phát hiện nhân tố mới, kịp thời khắc phục khuyết điểm, bổ sung điều chỉnh chủ trương, phương hướng tiếp theo, giúp hoạt động quản lý đi đúng định hướng.

3.1.2- Xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong tập thể sư phạm

Tập thể sư phạm trong trường phổ thông là tập thể lao động sư phạm có tổ chức, có mục đích giáo dục thống nhất, có phương thức hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường. Xây dựng tập thể sư phạm nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của tập thể để thực hiện tốt mục tiêu của nhà trường. Cần  làm cho mỗi giáo viên, nhân viên nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá là động lực để thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học.  Đó là một mặt không thể tách rời trong quá trình giáo dục, đó không phải là nhiệm vụ của riêng ai. Từ đó, tùy vị trí nhiệm vụ của mình để làm công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá. Thông qua các buổi họp, buổi rút kinh nghiệm để góp ý cho giáo viên thực hiện nghiêm túc nghị quyết của chi bộ, đặc biệt là các hiện tượng dùng điểm để khống chế học sinh.

Người cán bộ quản lý phải quán triệt đầy đủ các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác giáo dục đào tạo. Phải xây dựng và củng cố khối đoàn kết nhất trí trong tập thể sư phạm. Công đoàn tổ chức, giáo dục giáo viên, nhân viên, thường xuyên duy trì, thực hiện tốt cuộc vận động:      “ Nói không với bệnh thành tích trong giáo dục, nói không vơi tiêu cực trong thi kiểm tra”. Cán bộ, giáo viên cần được bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức, lý tưởng nghề nghiệp, công bằng trong kiểm tra, đánh giá để kích thích năng lực học tập của học sinh.

3.1.3- Phát huy vai  trò của Ban khảo thí

Ban khảo thí là bộ phận hết sức quan trọng trong công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá. Ban khảo thí là bộ phận thay mặt lãnh đạo nhà trường kiểm tra đánh giá chất lượng giờ dạy của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh. Do vậy, những cán bộ khảo thí phải là những ngưòi thấm nhuần tư tưởng đổi mới kiểm tra đánh giá, đồng thời phải luôn luôn công tâm, công bằng, chính xác và khách quan khi đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên cúng như chất lượng học tập của học sinh. Chỉ cần một sai lầm nhỏ trong công tác kiểm tra đánh giá cũng dễ dẫn đến tiêu cực, mất đoàn kết trong giáo viên và trong cả học sinh.

Lãnh đạo trường phối hợp cùng với ban khảo thí kiểm tra đánh giá giáo viên và chất lượng học tập của học sinh, đồng thời cũng tạo điều kiện để ban khảo thí hoàn thành tốt nhiệm vụ.

3.1.4- Phát huy vai  trò tự kiểm tra  đánh giá của học sinh

Bên cạnh việc kiểm tra đánh giá của giáo viên trong suốt các giờ học, kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ thì giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh biết tự đánh giá kiến thức của mình, biết đánh giá cho bạn mình. Như vậy, thì thay vào việc xưa nay giáo viên độc quyền đánh giá học sinh thì nay học sinh có quyền tham gia vào kết quả đánh giá của chính mình và của bạn mình.

Học sinh còn là cầu nối giữa cá nhân học sinh, giáo viên, ban khảo thí và lãnh đạo nhà trường trong công tác đổi mới kiểm tra đánh giá. Mỗi cá nhân được thử nghiệm vị trí, vai trò của mình trong công tác kiểm tra đánh giá chính bản thân học sinh.

Muốn có những học sinh, tập thể học sinh có vai trò trong đổi mới kiểm tra đánh giá, vai trò của giáo viên giảng dạy vô cùng to lớn. Giáo viên giảng dạy phải hướng dẫn các em, phải lắng nghe các em, phải công tâm, công bằng và khách quan đối với mọi học sinh. Lãnh đạo trường, ban khảo thí cần lắng nghe ý kiến của các em, định hướng giúp các em phương pháp tự kiểm tra đánh giá.

3.1.5-Vai trò, trách nhiệm của người cán bộ quản lý

Người cán bộ quản lý (CBQL) phải nắm vững cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá nói riêng từ đó thực hiện tốt chức năng quản lý và chỉ đạo công tác đổi mới kiểm tra đánh giá. Xây dựng được kế hoạch khảo thí, kiểm tra đánh giá thống nhất với mục tiêu giáo dục trong trường THPT. Kế hoạch  phù hợp với kế hoạch kiểm tra đánh giá theo từng tuần, từng tháng, và cả năm học. Xây dựng kế hoạch có tính khả thi cao, lôi cuốn được mọi lực lượng tham gia. Sau khi có kế hoạch, người cán bộ quản lý  tổ chức triển khai để mọi lực lượng tham gia nắm chắc kế hoạch, từ đó tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá kịp thời, điều chỉnh, bổ sung nhằm đạt mục tiêu giáo dục  đề ra một cách hiệu quả nhất.

Để chỉ đạo công tác đổi mới kiểm tra đánh giá thành công, người cán bộ quản lý phải có uy tín thực sự với tập thể giáo viên và tập thể học sinh, nhân dân. Người CBQL cần có trí tuệ thông suốt, hiểu biết sâu rộng, có kinh nghiệm sư phạm và trải nghiệm cuộc sống, lòng nhân ái, khoan dung, năng động sáng tạo trong công việc. Biết đoàn kết, thuyết phục và cảm hóa mọi người. Xây dựng tập thể nhà trường thành khối thống nhất tạo nên sức mạnh tổng hợp trong mọi hoạt động giáo dục của nhà trường.

3.2-Nâng cao năng lực của học sinh trong công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá.

3.2.1- Về công tác tổ chức

- Để tổ chức chỉ đạo công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá trong học sinh, Hiệu trưởng  nhà trường đã thành lập ban chỉ đạo gồm:

+ Đồng chí phó hiệu trưởng: Lê Gia Thanh – Trưởng ban

+ Đồng chí Đỗ Bằng Giang - Trưởng ban khảo thí – Phó ban

+ Các đồng chí tổ trưởng chuyên môn là thành viên

Ban chỉ đạo có nhiệm vụ giúp Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch chương trình và chỉ đạo chương trình đó. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền theo qui mô lớn và phối hợp với các lực lượng tham gia tuyên truyến công tác đổi mới kiểm tra đánh giá đến toàn thể các em học sinh. Giúp các đồng chí giáo viên hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá và biết đánh giá cho bạn mình, đồng thời giúp Hiệu trưởng kiểm tra đánh giá các hoạt động. Mỗi tháng họp ban chỉ đạo một lần để sơ kết đánh giá và triển khai kế hoạch tiếp theo.

3.2.2- Hướng dẫn học sinh đổi mới công tác kiểm tra đánh giá trong từng giờ học thông qua học tập các môn học

Qua từng giờ học, giáo viên liên tục ra các câu hỏi kiểm tra cả kiến thức cũ và kiến thức mới cho học sinh trả lời, sau đó cho bạn nhận xét, trả lời bổ sung và giáo viên sẽ là người đưa ra câu trả lời cuối cùng. Căn cứ vào đó hướng dẫn các em tự đánh giá xem mình trả lời đã chính xác chưa, bạn trả lời đã chính xác chưa, và theo thang điểm mà giáo viên đưa ra thì mình nằm ở thang điểm nào.

Đối với các bài kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ theo hình thức tự luận hay hình thức trắc nghiệm thì giáo viên đều ra các thang điểm rõ ràng và công bố công khai đáp án để học sinh tự đánh giá cũng như đánh giá cho bạn mình, từ đó giúp học sinh cố gắng hơn trong học tập cũng như triệt tiêu được việc giáo viên dùng điểm để khống chế học sinh.

PHẦN KẾT LUẬN

1.MỘT SỐ KẾT LUẬN

Vấn đề đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới phương tiện, thiết bị dạy học, công tác quản lý không thể thiếu được đổi mới kiểm tra đánh giá. Bởi vì, đổi mới kiểm tra đánh giá chính là động lực để đổi mới phương pháp dạy học.

Từ những cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của đề tài, qua phân tích thực trạng công tác  đổi mới kiểm tra đánh giá ở trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp chỉ đạo  đổi mới kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Như vậy, mục đích nghiên cứu đã hoàn thành.Chúng tôi đã đưa ra một số biện pháp chỉ đạo vừa mang tính thực tiễn vừa mang tính khả thi là:

* Tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện của chi bộ Đảng

* Xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong tập thể sư phạm .

* Phát huy vai trò của Ban khảo thí.

* Phát huy vai trò tự kiểm tra đánh giá của học sinh .

* Vai trò, trách nhiệm của người cán bộ quản lý.

2.MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

+ Đối với Bộ Giáo dục & Đào tạo:

- Chương trình SGK còn quá tải về mặt kiến thức. Các điều kiện dạy học lại chưa đầy đủ, ảnh hưởng đến thời lượng , giờ lên lớp, dẫn đến nhiều giáo viên chưa thật sự chú ý đến công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá.

- Cải tiến hình thức đánh giá và thi cử làm sao cho học sinh thấy được kết quả phản ánh đúng với khả năng thực của các em.

- Có quy chế cụ thể cho Ban khảo thí làm việc có hiệu quả.

- Nên có các hình thức đánh giá thi đua của các trường sao cho hợp lý.

+ Đối với Sở GD-ĐT:

- Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, hoạt động đổi mới nội dung chương trình, SGK, phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá nói riêng.

- Yêu cầu các trường trong tỉnh gửi các đề kiểm tra đánh giá vào phần mềm ngân hàng chung của toàn tỉnh.

- Có chuyên đề bồi dưỡng phương pháp ra đề, kiểm tra đánh giá cho giáo viên các bộ môn, đặc biệt là các Ban khảo thí.

Vĩnh Phúc, tháng 9 năm 2010

LÊ GIA THANH

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Điều lệ trường THPT số 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007.
  2. Luật Giáo dục 2005. NXB Lao động 2007.
  3. Nghị định của Chính phủ.
  4. Nghị quyết của Đại hội Đảng.
  5. Quy chế 40 đánh giá xếp loại học sinh THCS-THPT.
  6. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên. NXB Giáo dục.
    1. Tài liệu hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2009-2010. NXB Giáo dục.
  7. Hồ Ngọc Đại - Giải pháp giáo dục. NXB hà Nội 2007.
  8. Phạm Minh Hạc – Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại. NXB. KHXH Hà Nội 1996.

10. Nguyễn Thị Phương Hoa – Lý luận dạy học hiện đại.

11. Thái Duy Tuyên – Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới. NXB Giáo dục 2008.

12. Phạm Viết Vượng – Giáo dục học. NXB ĐHQG Hà Nội 2007


Nguồn: binhson.edu.vn

Bài đăng phổ biến