Hiển thị các bài đăng có nhãn Tốt nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tốt nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Sẽ có nhiều thay đổi trong kỳ thi tốt nghiệp 2011-2012

Chiều ngày 31/8, Bộ GD-ĐT đã tổ chức họp báo chuyên đề khai giảng năm học mới 2011-2012. Những vấn đề được xã hội quan tâm như giảm tải, chấn chỉnh lạm thu và đặc biệt những thông tin mới nhất về kì thi tốt nghiệp 2011-2012… đã được lãnh đạo Bộ chia sẻ.

Đề án 70.000 tỷ tiếp tục được triển khai

Tại cuộc họp báo, ông Vũ Đình Chuẩn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học - Bộ GD-ĐT cho biết, sau khi Bộ GD-ĐT đăng tải dự thảo về hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học cấp THPT, đã có hơn 100 ý kiến đóng góp của tập thể, cá nhân đã gửi về phòng chuyên môn. Phần lớn các ý kiến đều đồng thuận với chủ trương giảm tải của Bộ GD-ĐT. Có một số góp ý về vấn đề “kỹ thuật”, diễn đạt… Hiện nay, Vụ Giáo dục trung học đang tổng hợp các góp ý để trình lãnh đạo Bộ sau đó tiếp tục rà soát lần cuối cùng trước khi chính thức ban hành công văn hướng dẫn giảm tải vào ngày 3/9 tới.


Quang cảnh buổi họp báo.

Cũng theo ông Chuẩn, hướng dẫn giảm tải của Bộ sẽ rất cụ thể, rõ ràng và dễ nghiên cứu và dễ triển khai thực hiện. Bộ GD-ĐT sẽ gửi nội dung giảm tải này cho lãnh đạo các Sở, sau đó Sở sẽ có trách nhiệm phát tài liệu này cho từng giáo viên. Ngay sau khi bắt đầu năm học, Bộ sẽ tiến hành kiểm tra việc triển khai giảm tải, công việc kiểm tra này cũng sẽ trở thành hoạt động thường xuyên.

Liên quan đến vấn đề giảm tải, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển khẳng định đây là một giải pháp để đảm bảo chất lượng giáo dục phù hợp hơn, tinh giản hơn, cơ bản hơn hướng tới đánh giá năng lực người học, cách vận dụng được kiến thức, kĩ năng và các giáo viên có điều kiện nâng cao phương pháp dạy học. Quá trình này phải tiếp tục hằng năm và có lộ trình. Việc tiếp thu ý kiến về việc giảm tải Bộ GD-ĐT đưa ra hai quan điểm, một là tiếp thu để khắc phúc ngay. Hai là, những ý kiến chưa thể thực hiện ngay được thì phải chờ dịp khác, thậm chí là đợi chương trình SGK mới thì mới thực hiện được.

Thứ trưởng Hiển cũng cho biết, đề án đổi mới chương trình, nội dung SGK với kinh phí 70.000 tỷ đồng đang tiếp tục được thực hiện, nghiên cứu và hoàn thiện. Đề án này sẽ được ban hành sau khi Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020.

“Chúng ta có dự kiến chi 70.000 tỷ đồng nhưng không phải chỉ để cho viết sách mà là cho toàn bộ quá trình. Nước ta hiện có khoảng 30.000 trường phổ thông, như vậy bình quân mỗi trường được hơn 2 tỷ đồng để thực hiện rất nhiều khâu thì không phải nhiều” - Thứ trưởng Hiển chia sẻ.

Thi tốt nghiệp 2011-2012: Phân cấp mạnh cho địa phương

Chia sẻ tại buổi họp báo, ông Trần Văn Nghĩa - Phó cục trưởng Cục khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục cho biết: “Bộ sẽ tiến hành kiểm tra rà soát lại các khâu trong kì thi tốt nghiệp 2010-2011 để xác định điểm mạnh và yếu. Qua đó sẽ đưa ra các giải pháp cụ thể để tiến đến việc tổ chức kì thi gọn nhẹ nhưng đảm bảo an toàn và nghiêm túc”.

Ông Nghĩa cũng cho hay, trong năm học này sẽ yêu cầu các Bộ ban ngành địa phương phối hợp với ngành giáo dục trong các khâu tổ chức kì thi. Hoàn thiện mối quan hệ giữa ban chỉ đạo thi các trường phổ thông với ban chỉ đạo thi cấp tỉnh cũng như với ban chỉ đạo thi Trung ương. Bên cạnh đó sẽ tăng cường khả năng giám sát giữa các ban chỉ đạo thi.

Trong kì thi tốt nghiệp năm 2011-2012, Bộ GD-ĐT tiếp tục thực hiện phân cấp, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho giám đốc các Sở GD-ĐT trong khâu tổ chức thi. Giao cho giám đốc Sở GD-ĐT đưa ra cách thức tổ chức thi phù hợp với địa phương của mình, bên cạnh Sở cũng được phép chủ động tổ chức chấm thi nhưng phải đảm bảo yêu cầu chấm chéo bài thi tự luận giữa các khu vực của tỉnh.

Như vậy với kì thi tốt nghiệp THPT năm học 2011-2012 hình thức thi cụm, chấm theo liên tỉnh sẽ bị xóa bỏ mà chỉ còn thu hẹp lại trong từng địa phương.

Sẵn sàng cho năm học mới

Bộ GD-ĐT cho biết, để chuẩn bị cho năm học 2011-2012, công tác bồi dưỡng hè cho giáo viên, CBQL các trường tiểu học, THCS, THPT và TTGDTX được chuẩn bị chu đáo. Đã có 1.200 báo cáo viên cốt cán về triển khai Chuẩn Hiệu trưởng trường Mầm non và Chuẩn Hiệu trưởng trường Tiểu học. Bồi dưỡng báo cáo viên cốt cán Mầm non. Bồi dưỡng 1.860 học viên cốt cán cấp Bộ với các chuyên đề.

Tập huấn 600 cán bộ cốt cán cấp THPT về tổ trưởng chuyên môn; bồi dưỡng cho 430 giáo viên chủ nhiệm lớp cốt cán của các tỉnh/ thành phố; bồi dưỡng cho 530 cán bộ cốt cán các tỉnh/thành phố về nội dung giáo dục hòa nhập. Tổ chức bồi dưỡng về các nội dung chuyên môn sâu cho 2.000 giáo viên cốt cán các trường chuyên trên toàn quốc.

Ở các địa phương, 100% đội ngũ giáo viên các Sở GD-ĐT đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng hè 2011, các lớp tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, công tác chủ nhiệm, năng lực quản lí cho cán bộ quản lí, giáo viên và nhân viên các cấp.

Theo ước tính, năm học 2011-2012 toàn ngành GD-ĐT sẽ có 3.756.000 trẻ mầm non đến trường (trong đó nhà trẻ 556.000 cháu, mẫu giáo 3.200.000 cháu). HS PT có 15.140.000 em (tăng 288.000 em so với năm học 2010-2011), trong đó tiểu học 7.350.000 em (tăng 301.300 em), THCS 4.960.000 em (giảm 8.300 em), THPT 2.830.000 em (giảm 5.000 em so với năm học 2010-2011).

Trong các ngày đầu tựu trường, các cơ sở giáo dục đã có kế hoạch tổ chức cho HS học nội quy nhà trường, Luật Giao thông đường bộ và có nhiều hoạt động sinh hoạt tập thể trong tuần đầu năm học mới nhất là ở những lớp đầu cấp học.

Để chấn chỉnh tình trạng lạm thu đầu năm, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cho rằng nguồn thu của các trường rất hạn chế nên nếu phụ huynh tự nguyện giúp nhà trường thì đó là điều rất hoan nghênh. Tuy nhiên, ông Hiển cũng khẳng định sự tự nguyện ở đây phải là tự nguyện thật sự chứ không phải bắt buộc hoặc “tự nguyện trong ngoặc kép”. Các khoản thu của phụ huynh tuyệt đối không sử dụng để hỗ trợ các hoạt động dạy học và giáo dục, khen thưởng cán bộ, giáo viên. Thời gian tới Bộ GD-ĐT sẽ tiếp tục ra soát để đưa ra thêm các danh mục không được phép sử dụng khoản thu của phụ huynh.

Nguyễn Hùng

Nguồn: Dân Trí

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2011

Phá sản “hai không”?

"Chúng ta đang chống lại bệnh thành tích nhưng cách đánh giá hiện nay (qua thi cử, qua các chỉ tiêu, tỉ lệ) khiến các địa phương phải chạy theo thành tích", ông Hồ việt Hiệp, nguyên Giám đốc Sở GD-ĐT An Giang, nhận định.

Hơn 50 tỉnh thành có tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp trên 90%. Dẫn đầu là Nam Định với tỉ lệ 99,89%. Cũng ở tỉnh này, 100% học sinh hệ giáo dục thường xuyên đậu tốt nghiệp. Nhiều chuyên gia giáo dục đặt vấn đề có cần phải tổ chức kỳ thi tốt nghiệp như hiện nay.

Học sinh Trường Marie Curie, TP.HCM chúc mừng nhau sau khi biết kết quả thi tốt nghiệp - Ảnh: Như Hùng

Theo số liệu Tuổi Trẻ thu nhận được, khoảng 37 tỉnh thành có tỉ lệ tốt nghiệp trên 95%, trong đó có 12 tỉnh thành tốt nghiệp đạt trên 99%. Dẫn đầu là Nam Định 99,89%, kế tiếp là Ninh Bình 99,78%.

Vụ "bắt tay" nới lỏng chấm thi tốt nghiệp:

Chưa kết luận vì nhạy cảm

Hôm qua 21-6, Bộ GD-ĐT đã nhận được báo cáo của các tỉnh ĐBSCL về việc tổ chức họp thống nhất phương án chấm các môn thi tự luận. Bộ GD-ĐT đã tổ chức họp để phân tích tình hình trên cơ sở các báo cáo của các tỉnh, nhưng do đây là vấn đề nhạy cảm, liên quan đến quyền lợi của nhiều thí sinh nên Bộ GD-ĐT chưa thể có kết luận về việc này.

Tăng trên 68%

Đáng nói là những tỉnh thuộc các khu vực khó khăn năm nay có tỉ lệ tốt nghiệp nhảy vọt. 12/13 tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc năm nay đều có tỉ lệ tốt nghiệp hệ THPT từ trên 91% trở lên.

Gây ngạc nhiên cho nhiều người là Tuyên Quang với tỉ lệ 99,76%, vươn lên đứng thứ ba cả nước. Điện Biên từ một tỉnh đứng thứ 63 cả nước năm 2010 với 71% đậu tốt nghiệp thì năm nay vươn lên 95,65%. Sơn La từ vị trí cuối bảng xếp hạng năm 2009, sau hai năm cũng vọt lên 97,79%. Bắc Kạn tuy là tỉnh duy nhất của khu vực miền núi phía Bắc đạt kết quả tốt nghiệp dưới 90% (88,70%) nhưng so với năm 2010, tỉ lệ này đã tăng gần 20%.

Khu vực ĐBSCL năm nay cũng có tỉ lệ tốt nghiệp hệ THPT tăng cao với 10/12 tỉnh có kết quả tốt nghiệp đạt trên 90%, trong đó có ba tỉnh đạt trên 97%. Hai tỉnh Vĩnh Long và Bến Tre có tỉ lệ tốt nghiệp thấp hơn so với các tỉnh trong khu vực (86,56% và 84,15%) nhưng so với chính các tỉnh này năm 2010 cũng cao hơn. Trong đó, Bến Tre là một trong hai tỉnh ở ĐBSCL không tham gia thỏa thuận hướng dẫn chấm thi các môn tự luận (tỉnh còn lại là Tiền Giang). Ở khu vực này, Hậu Giang là tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp tăng nhiều nhất, từ 88,67% lên 97,97%.

Ở hệ giáo dục thường xuyên, tỉ lệ tốt nghiệp năm nay còn tăng rõ hơn. Trong số các tỉnh thành đã gửi báo cáo về Bộ GD-ĐT, có khoảng 31 tỉnh thành có tỉ lệ tốt nghiệp đạt từ 91% trở lên, trong đó có 12 tỉnh thành đạt 99% trở lên. Nam Định đạt tỉ lệ tốt nghiệp 100% ở hệ giáo dục thường xuyên. Theo số liệu từ các tỉnh thành, tỉ lệ tốt nghiệp hệ giáo dục thường xuyên năm nay tăng từ 15% đến trên 60%. Điển hình là Điện Biên có tỉ lệ tốt nghiệp 88,86%, tăng trên 68% so với năm 2010.

Trong số các tỉnh có báo cáo, chỉ có hai tỉnh là An Giang và Tiền Giang năm nay có tỉ lệ tốt nghiệp hệ giáo dục thường xuyên dưới 50%. Nhiều tỉnh thành có nhiều trung tâm giáo dục thường xuyên tốt nghiệp 100%, như Bắc Giang 11/16 trung tâm, Ninh Bình 6/8 trung tâm, Bắc Ninh 6/14 trung tâm.

Tỉ lệ có từ đầu năm

Tỉ lệ tốt nghiệp cao hẳn nhiên tỉnh nào cũng vui. Nhưng đã đến lúc không còn nhiều người dám tin tỉ lệ này phản ánh được hiệu quả giáo dục tỉnh đó. Bởi lẽ, nói như một giám đốc sở phía Nam, “nếu coi tỉ lệ đậu là hiệu quả giáo dục, bộ nên tuyên dương những nơi có tỉ lệ tốt nghiệp giáo dục thường xuyên xấp xỉ hoặc đạt 100%, cao hơn cả tỉ lệ tốt nghiệp THPT của tỉnh đó. Và có lẽ cả nước phải đến những nơi đó để học tập kinh nghiệm, bí quyết!”.

Vị giám đốc trên dám nói điều này bởi không phải đến năm nay mà từ nhiều năm trước, người ta đã phát hiện có tình trạng buông lỏng trong khâu coi thi để đẩy tỉ lệ đậu tốt nghiệp của địa phương lên cao. Vì sao các tỉnh cứ chạy đua tỉ lệ ảo này? Ở nhiều tỉnh thành, tỉ lệ đậu tốt nghiệp đã được đưa vào kế hoạch thi đua từ đầu năm học. Khi tất cả các tỉnh thành đều thấp như nhau thì không sao. Nếu tỉnh bạn tăng vọt mà tỉnh mình (vì coi thi thật thà, nghiêm túc) mà tỉ lệ thấp, lãnh đạo sở sẽ khó nói chuyện với cấp trên.

Giám đốc một sở GD-ĐT khác tại ĐBSCL lý giải: “Cách xếp hạng hiện nay khiến giám đốc sở bị áp lực rất lớn với dư luận và chính quyền địa phương, từ đó khó mà trung thực được”.

Ông Hồ Việt Hiệp, nguyên giám đốc Sở GD-ĐT An Giang, cho biết: “Từ kỳ thi năm ngoái, một số tỉnh tuy không có văn bản như các tỉnh ĐBSCL nhưng đã “hợp tác” chấm chéo nhằm đối phó với Bộ GD-ĐT và để có kết quả đẹp. Qua đó cho thấy cuộc vận động “hai không” đến nay không còn nữa, các tỉnh chủ yếu cục bộ địa phương, ai cũng muốn bảo vệ lợi ích của tỉnh mình. Chúng ta đang chống lại bệnh thành tích nhưng cách đánh giá hiện nay (đánh giá qua thi cử, qua các chỉ tiêu, tỉ lệ) khiến các địa phương phải chạy theo thành tích”.

Thi thế này thì thi làm gì?

Thực hiện không tốt sẽ thành dối trá

“Kết quả thi tốt nghiệp THPT tùy thuộc ba yếu tố: đề thi - đáp án (dễ hay khó), coi thi (nghiêm túc hay thả lỏng) và khâu chấm thi như thế nào. Nếu thực hiện nghiêm túc cả ba khâu này, tỉ lệ tốt nghiệp mới thể hiện đúng hiệu quả chất lượng từng địa phương. Nếu thực hiện không tốt một trong ba khâu trên, tỉ lệ tốt nghiệp sẽ trở thành chuyện thành tích, tiêu cực và dối trá trong giáo dục. Nếu có tỉ lệ cao, khoan khen ngợi, tỉ lệ thấp cũng đừng vội phê bình”.

Ông Nguyễn Trọng Nhân (trưởng phòng khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục Sở GD-ĐT Tây Ninh)

Từ những lý do trên, ông Hồ Việt Hiệp cho rằng không cần thiết tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT nữa, tốn kém mà không phản ánh được thực chất bởi tỉnh nào cũng gần 100%. Các tỉnh nếu tổ chức thi chắc tỉ lệ cũng như vậy, thế thì tổ chức kỳ thi quốc gia làm gì?

Một cựu giám đốc sở GD-ĐT khu vực miền Trung nhận xét: “Mấy năm nay, người trong ngành đã thấy chấm chéo không giải quyết vấn đề gì. Trước sau rồi Bộ GD-ĐT cũng phải bỏ, vì phiền phức, tốn kém. Một kỳ thi cồng kềnh nhưng không hiệu quả đến lúc phải tiếp tục thay đổi”. Theo vị lãnh đạo này, năm 2011 chỉ riêng kinh phí chi cho kỳ thi của một tỉnh đã đến trên 10 tỉ đồng. Tính chi phí của cả nước còn lớn đến đâu, nhưng điều toàn dân mong đợi là “kết quả thực chất” vẫn không giải quyết được.

Về điều này, GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: “Ngay từ đầu khi Bộ GD-ĐT tiến hành thi cụm, chấm chéo tôi đã nghĩ là không thể giải quyết được vấn nạn thi cử, chỉ tạo thêm tốn kém, phiền phức”. Còn GS Nguyễn Lân Dũng nhận xét: “Thi cụm, chấm chéo chỉ là giải pháp đối phó, tốn kém mà không đạt được mục đích là có một kết quả đánh giá thực chất”.

GS Văn Như Cương thẳng thắn bày tỏ: “Khi bộ có sáng kiến thi cụm, chấm chéo, tôi cũng chờ đợi hiệu quả của việc này nhưng khó có thể nói giải pháp này có hiệu quả khi đến trên 50 tỉnh thành có kết quả thi cao, nhiều nơi cao đột biến”.

Trao đổi với Tuổi Trẻ xung quanh việc nên hay không nên có kỳ thi tốt nghiệp THPT khi tỉ lệ tốt nghiệp đã đạt đến sát ngưỡng 100%, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho rằng kỳ thi tốt nghiệp không chỉ nhằm một việc là đánh giá học sinh mà còn để đánh giá mặt bằng chất lượng giáo dục của các địa phương. Kết quả thi tốt nghiệp là một trong những căn cứ quan trọng để soi rọi và tác động trở lại việc dạy học, việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông trên toàn quốc. Mục đích của kỳ thi không phải để chăm chăm đánh trượt học sinh mà là để các nhà trường, giáo viên, học sinh cố gắng.

Giao cho địa phương

Trước thực tế này, ông Trần Thanh Đức - giám đốc Sở GD-ĐT Tiền Giang - cho rằng không thể thấy kết quả quá cao mà bỏ thi tốt nghiệp THPT, việc bỏ thi khi chưa có những chuẩn bị cần thiết là không khoa học. “Theo quan điểm cá nhân tôi thì từ từ không cần tổ chức một kỳ thi cấp quốc gia nữa mà giao cho từng địa phương tổ chức. Để thực hiện việc này, cần phải có nhiều giải pháp song song, trong đó có việc cải tiến thi tuyển sinh ĐH-CĐ” - ông Đức đề nghị.

Ông Hồ Việt Hiệp cũng đề nghị bộ giao lại cho các địa phương tổ chức sát hạch để tập trung cho kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ nhằm giảm bớt sự nặng nề, tốn kém. Ông Hiệp cho rằng: “Chúng ta đã bỏ thi tốt nghiệp THCS và kết quả giáo dục vẫn đảm bảo. Việc đánh giá chất lượng giáo dục qua kết quả tốt nghiệp là không khách quan bởi chất lượng phải đánh giá trên nhiều yếu tố khác nữa”.

Đồng tình với việc “không nên bỏ thi” trong bối cảnh hiện tại, GS Nguyễn Minh Thuyết bình luận: “Nếu kết quả tốt nghiệp 98-99% kia là thực chất thì quá tốt và tôi nghĩ cũng không cần thiết phải tổ chức một kỳ thi quốc gia tốn kém làm gì. Nhưng vấn đề ở chỗ kết quả đó không thực chất. Vì vậy thay vào việc bàn chuyện bỏ thi thì nên tính phương án làm gì để kỳ thi gần với thực chất hơn. Kỳ thi nghiêm túc trong tình thế chất lượng giáo dục còn chưa ổn sẽ giúp ngành giáo dục có cơ sở điều chỉnh chương trình - sách giáo khoa, phương pháp dạy học, đánh giá, đầu tư vào những khâu còn yếu, thiếu...”. GS Thuyết đề nghị nên giao kỳ thi về cho các địa phương tự chịu trách nhiệm. Vì khi phải tự chịu trách nhiệm, người ta sẽ có trách nhiệm cao hơn. Bộ GD-ĐT nên lo các việc to lớn hơn là ôm quá nhiều việc như hiện nay.

GS Văn Như Cương cũng có quan điểm đồng nhất với GS Thuyết khi cho rằng “nên đưa kỳ thi về địa phương, để các sở GD-ĐT tổ chức thi, ra đề, chấm thi”. Và như vậy hoàn toàn có thể chấp nhận việc đề thi tốt nghiệp ở Hà Nội khó hơn Lai Châu do điều kiện, chất lượng giáo dục khác biệt. Nếu làm như thế, kết quả thi sẽ thực chất hơn bây giờ.

Vượt ngưỡng trước “hai không”

Trước tình trạng thiếu thực chất trong thi cử, với nhiều hiện tượng tiêu cực xảy ra trên cả nước khiến tỉ lệ tốt nghiệp từ năm 2006 trở về trước cao ngất ngưởng, năm 2007, lãnh đạo Bộ GD-ĐT đã phát động cuộc vận động “Nói không với bệnh thành tích và tiêu cực trong thi cử”, gọi tắt là “hai không". Nhiều người đã ví “hai không” như luồng gió mới làm lung lay tình trạng trì trệ của giáo dục nước nhà thời gian đó. Tỉ lệ tốt nghiệp THPT năm 2007 tụt thê thảm xuống còn 66,72%.

Bàng hoàng, nhưng nhiều người trong ngành GD-ĐT đã vui mừng vì hi vọng chất lượng giáo dục từ đó sẽ thay đổi. Năm 2008, tỉ lệ tốt nghiệp nhích lên 75,96%. Năm 2009, để củng cố kết quả của “hai không”, Bộ GD-ĐT áp dụng phương thức “thi cụm, chấm chéo”. Tỉ lệ tốt nghiệp năm đó vẫn tăng lên 83,8%. Năm 2010, tỉ lệ tốt nghiệp là 92,57%.

Theo thông tin chúng tôi nắm được, năm nay tỉ lệ tốt nghiệp THPT có khả năng sẽ vượt cả năm 2006! Năm năm đổi mới thi cử để quay lại tỉ lệ tốt nghiệp như trước, theo Bộ GD-ĐT, đó là nỗ lực của ngành GD-ĐT trong việc khắc phục tình trạng học sinh yếu, kém, nâng chất lượng dạy học. Nhưng nhiều người trong cuộc lại đang băn khoăn khi cho rằng đó là bằng chứng sự phá sản của “hai không”.

TR.V.HÀ - P.ĐIỀN - M.GIẢNG

Nguồn: tuoitre.vn

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

Điệp khúc: Năm sau cao hơn năm trước

Tuy chưa có thống kê chính thức từ phía Bộ GD-ĐT, nhưng các con số do các địa phương công bố đã cho thấy kết quả kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) năm học 2010-2011 là một “kỳ tích” đáng nể.

Điệp khúc: Năm sau cao hơn năm trước

Kết quả kỳ thi THPT năm 2011 rất "đáng nể" về tỉ lệ đậu tốt nghiệp.

Gọi là “kỳ tích” bởi vì, chỉ mới ba năm sau đỉnh cao của phong trào “hai không” (nói không với bệnh thành tích và tiêu cực trong thi cử) thì năm nay, thành tích học tập của thí sinh cả nước nói chung đã phát triển vượt bậc.

Ở một tỉnh vùng cao như tỉnh Cao Bằng, nếu tỷ lệ đậu tốt nghiệp THPT năm học 2006-2007 chỉ 27,78%, thì năm học 2010-2011, tỷ lệ này đã vọt lên 93,73%. Hệ giáo dục thường xuyên kết quả còn cao hơn, đạt 94,18%. Tỉnh Ninh Thuận, năm học 2006-2007 có 68,2% thí sinh đậu tốt nghiệp, thì năm nay con số đó là 91,85%.

Tại Hải Phòng, chánh văn phòng sở Giáo dục-đào tạo Đỗ Văn Lợi cho biết, tỷ lệ đậu tốt nghiệp THPT năm nay đạt 99,08%, vượt xa kỳ thi 2007 chỉ đạt 76,9%. Một tỉnh có điều kiện còn khó khăn như tỉnh Kon Tum cũng có tỷ lệ thí sinh đậu cao không kém gì thí sinh Hà Nội, tới 97,31% (Hà Nội là 97,79%) so với năm 2007 chỉ đạt 55,5%. Thậm chí địa phương này còn có tới 8 trường đạt tỷ lệ đậu tốt nghiệp 100%. Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2011 cũng được ghi nhận là kỳ thi có số hội đồng thi đạt tỷ lệ tốt nghiệp 100% nhiều nhất từ trước tới nay.

Nhiều nhà giáo cho biết, họ không tài nào tin được kết quả kỳ thi năm nay lại “ngất ngưỡng” như vậy, dù đó không phải là cái gì quá sức bất ngờ.

Không bất ngờ, vì kết quả trên đã được dự báo từ trước đó.

Ngay sau khi kỳ thi diễn ra, PGS Văn Như Cương đã khẳng khái nhận định gần như chắc chắn, “sẽ có cuộc họp báo của bộ để tổng kết một cuộc thi thắng lợi. Như thường lệ, điệp khúc năm nay tốt hơn năm ngoái sẽ được lặp lại. Nào là rất nghiêm túc, rất trật tự, phao thi không còn rải trắng sân trường; nào là số thí sinh bị kỷ luật giảm mạnh…”. Không cần đến những chi tiết mà báo chí cung cấp để tạo scandal như cái biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi của 11 tỉnh thành tại đồng bằng sông Cửu Long, hay động tác điều chỉnh đáp án chấm thi môn văn vào giờ chót của bộ, với động thái ra đề thi được các nhà giáo đánh giá là thoáng hơn nhiều so với các năm trước, và số thanh tra ủy quyền của bộ bất ngờ giảm mạnh, từ 9.000 người năm 2009 xuống còn 600 năm 2011, rõ ràng nhận định trên của PGS Cương là rất có cơ sở.

Theo GS.TS Nguyễn Xuân Hãn – đại học Quốc gia Hà Nội, hãy khoan đặt câu hỏi liệu kết quả kỳ thi năm nay có phản ánh đúng chất lượng giáo dục, khi hiện tại cái gọi là chất lượng giáo dục THPT của chúng ta vẫn còn rất mơ hồ. Theo ông, việc kết quả kỳ thi tú tài - hay tốt nghiệp THPT hàng năm có tỷ lệ đậu cao là phản ánh đúng thực chất và phù hợp quy luật trong tình trạng nền giáo dục hiện tại của nước nhà.

Cả nước đến giờ phút này đã có trên 400 trường đại học, cao đẳng. Trong số đó, hơn 300 trường đại học và cao đẳng của các địa phương mới được nâng cấp hoặc mới thành lập trong vòng 10 năm qua. Tuy áp lực lên các trường đại học có tên tuổi ở hai trung tâm lớn là Hà Nội và TP.HCM vẫn chưa giảm, nhưng không thể không nhận thấy hiện tượng là một bộ phận lớn thí sinh ở các tỉnh năm 2011 đã chọn cửa dự thi vào các trường đại học tại địa phương mình. Thống kê cho thấy, một số trường đại học địa phương được khá đông thí sinh chọn đăng ký dự thi, như đại học Hải Phòng có khoảng 10.000 hồ sơ của thí sinh Hải Phòng đăng ký dự thi; tại tỉnh Vĩnh Phúc, trường cao đẳng Vĩnh Phúc cũng đứng đầu bảng về lượng hồ sơ với gần 3.000 bộ; đại học Hồng Đức của tỉnh Thanh Hoá hút hơn 10.000 hồ sơ của các thí sinh thuộc tỉnh và lân cận. Số hồ sơ dự thi vào trường đại học An Giang chiếm gần phân nửa thí sinh của địa phương này: 11.000 bộ.

Thậm chí, mang danh là đại học vùng như Đại học Cần Thơ, đến 80% số hồ sơ thí sinh tại Cần Thơ (gần 19.000 bộ) đăng ký dự thi vào đây...

Bất chấp thực tế rất khập khiễng giữa đội ngũ giảng viên, cùng cơ sở vật chất của các nhà trường, nhu cầu đào tạo đội ngũ lao động có bằng cấp tương đương đại học của các địa phương vẫn là một đòi hỏi chính đáng. Và, điều đó cho thấy, thành tích "đáng nể" của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2010-2011 vừa qua chẳng qua chỉ là kết quả của làn sóng đã bùng nổ trong khoảng mấy năm gần đây và vẫn đang còn tiếp diễn.

Theo NHƯ THUẦN, SGTT ONLINE

“Xì-căng-đan” chấm thi tốt nghiệp ở Đồng bằng Sông Cửu Long: Thỏa thuận để cho điểm vô tư!

Để điểm thi môn Ngữ văn đạt kết quả cao, các chuyên viên bộ môn Ngữ văn của 11 sở GD-ĐT các tỉnh ĐBSCL đã có cuộc họp vào ngày 5/6 tại TP Cần Thơ, ra “Biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2011 môn ngữ văn”.
Thực chất đây là thỏa thuận để “nâng cao chất lượng” bằng cách cho điểm “vô tư”, thoát ly hẳn hướng dẫn chấm thi môn này của Bộ GD-ĐT.

Đề thi tốt nghiệp THPT môn ngữ văn năm nay được dư luận nhận định là hay, phù hợp với phương pháp giảng dạy mới. Nhận được nhiều lời khen nhất chính là câu đầu tiên trong đề thi năm nay. Cụ thể, câu 1 (2,0 điểm) hỏi: “Trong đoạn cuối của truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kỹ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó nói lên điều gì?”. Tuy nhiên, với hướng dẫn chấm thi của Bộ GD-ĐT, nhiều học sinh đã bị mất điểm ở câu 1, mặc dù tổ chấm chúng tôi đã rất cố gắng “đọc hiểu” giùm cho học sinh cũng như vận dụng linh hoạt hướng dẫn chấm thi của bộ. Câu 2 và câu 3 kết quả đạt được cũng không khả quan vì kỹ năng vận dụng kiến thức của học sinh còn hạn chế.

Kết thúc đợt chấm thi, chúng tôi cảm thấy buồn và ray rứt vì kết quả đạt được không như mình mong đợi, nhưng vui vì mình đã đánh giá khách quan thực lực của người học.

 
“Biên bản thống nhất...” của lãnh đạo bộ môn ngữ văn được lập vào ngày 5-6 tại TP Cần Thơ.

Từ bàng hoàng và phẫn nộ...

Giữa lúc chúng tôi đang tự đánh giá, rút kinh nghiệm về cách dạy của mình, một người bạn đã cho chúng tôi “Biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2011 môn ngữ văn” (theo tinh thần cuộc họp triển khai đáp án của 11 tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ngày 5-6-2011 tại Cần Thơ). Đọc biên bản này, cảm xúc đầu tiên của chúng tôi là bàng hoàng và phẫn nộ. Làm sao không bàng hoàng và phẫn nộ khi cuộc họp triển khai đáp án thực chất là một cuộc gặp gỡ của các chuyên viên bộ môn ngữ văn với mục đích là thỏa thuận để “nâng cao chất lượng” bằng cách cho điểm “vô tư” bài làm của thí sinh - thoát ly hẳn hướng dẫn chấm thi của Bộ GD-ĐT! Làm sao không bàng hoàng và phẫn nộ khi thỏa thuận này lại là một văn bản phi khoa học đến vậy! Với cách triển khai và vận dụng hướng dẫn chấm thi như thế này, theo tôi, học sinh không cần phải nhớ các chi tiết nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm, không cần phải học cách đọc văn bản tác phẩm văn chương và cũng không cần phải học cách viết một bài văn nghị luận.

Bởi vì, theo biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi từ cuộc họp triển khai đáp án của 11 tỉnh khu vực ĐBSCL ngày 5-6-2011 tại Cần Thơ mà chúng tôi có được, để trả lời cho câu hỏi thứ nhất: “Trong đoạn cuối của truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kỹ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào?”, học sinh thay vì nhớ và tái hiện chính xác các chi tiết: màu hồng hồng của ánh sương mai (0,5 điểm); người đàn bà vùng biển (người đàn bà hàng chài) bước ra từ tấm ảnh (0,5 điểm) thì có thể trả lời đại khái, qua loa vẫn đạt điểm như hướng dẫn chấm của bộ. Cụ thể, biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi tại Cần Thơ triển khai đáp án như sau:

Câu 1:

Những hình ảnh thường hiện lên là :

Ý 1: Học sinh nêu được một trong các ý sau được 0,5 điểm:

- Màu hồng hồng - Ánh sương mai - Chiếc thuyền - Chiếc thuyền lưới vó ở ngoài khơi tiến vào… màu sương mờ…

Ý 2: Nêu được một trong các ý sau cho 0,5 điểm: - Hình ảnh người đàn bà - Người đàn bà hàng chài -lNgười đàn bà trong chiếc thuyền bước ra

Như vậy, học sinh dù trả lời không đầy đủ, không rõ ràng, thậm chí trả lời sai hoàn toàn vẫn đạt điểm tối đa (!) (Đáng lưu ý là các hình ảnh “- Chiếc thuyền” và “- Chiếc thuyền lưới vó ở ngoài khơi tiến vào… màu sương mờ…” là hoàn toàn không có trong đoạn cuối của truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu)!

Về ý nghĩa của hình ảnh, theo hướng dẫn chấm thi của bộ, những hình ảnh đó nói lên: chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn của cuộc sống (0,5 điểm); hiện thực về số phận lam lũ, khốn khó của con người (0,5 điểm). Sau này, trong văn bản số 3749/BGDĐT-KTKĐCLGD v/v hướng dẫn bổ sung chấm thi môn ngữ văn kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2011, ký ngày 8-6-2011, theo tinh thần đề mở và đáp án mở, để bảo đảm đúng nguyên tắc chấm thi, đồng thời khuyến khích những sáng tạo của thí sinh trong bài thi, ý 2 của câu 1 được bổ sung như sau:

a) Nếu thí sinh không trả lời trực tiếp, cụ thể như trong đáp án mà nêu được ý tưởng nghệ thuật của tác giả về mối quan hệ giữa nghệ sĩ với hiện thực, nghệ thuật với cuộc sống: có thể cho từ 0,5 điểm trở lên, với điều kiện tổng số điểm cho ý này không quá 1,0 điểm.

b) Nếu thí sinh phân tích kỹ và sâu sắc ý đã nêu: Có thể cho tới tối đa 1,0 điểm, với điều kiện tổng số điểm cho ý này không quá 1,0 điểm”.

Trong khi đó, biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi từ cuộc họp triển khai đáp án của 11 tỉnh khu vực ĐBSCL ngày 5-6-2011 tại Cần Thơ, thống nhất cho điểm ý 2 của câu 1 là:

Ý 3: Nêu được một trong các ý sau cho 0,5 điểm: - Chất thơ hoặc lãng mạn, vẻ đẹp nghệ thuật - Biểu tượng nghệ thuật…

Ý 4: Nêu được một trong các ý sau cho 0,5 điểm: - Hiện thực về số phận lam lũ hoặc khốn khó… - Bức tranh đời sống hoặc hiện thực…

Ngoài ra, với ý 3 và ý 4, học sinh có thể nêu một trong các ý sau cho 1,0 điểm: - Mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống - Cái nhìn đa chiều, toàn diện

Lưu ý:

- Không trừ điểm khi học sinh nêu dư ý trong bài làm - Không tính lỗi chính tả -lKhông yêu cầu viết thành đoạn văn”.

Mặt khác, một số chi tiết, theo thiển nghĩ của tôi, cũng chưa hẳn chính xác. Chẳng hạn, về ý nghĩa của hình ảnh “màu hồng hồng của ánh sương mai”, thay vì câu trả lời đúng là “chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn của cuộc sống” thì biên bản thống nhất hướng dẫn chấm của 11 tỉnh khu vực ĐBSCL lại nêu là “Chất thơ hoặc lãng mạn, vẻ đẹp nghệ thuật”.

Theo một giáo viên dạy môn ngữ văn ở tỉnh Tiền Giang, năm nay chỉ có 73% thí sinh  ở tỉnh này đạt điểm trung bình môn này. Nếu chấm theo “Biên bản thống nhất...” của 11 tỉnh ĐBSCL thì 100% thí sinh tỉnh Tiền Giang sẽ đạt điểm trung bình môn ngữ văn.

Phải chăng để có niềm vui trọn vẹn mà đối với câu 2 trong đề thi (3,0 điểm - tạo lập văn bản nghị luận xã hội), biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi của 11 tỉnh khu vực ĐBSCL cũng đã có những triển khai hết sức vô lý. Theo đó, câu 2, chỉ cần “Học sinh nắm vững kỹ năng làm văn, bố cục có 3 phần : MB - TB - KB (mở bài – thân bài – kết bài – ghi chú của  tòa soạn), nội dung dù có sơ sài cho tối thiểu: 1,5 điểm” hay “Học sinh trình bày theo hướng lập thân, lập nghiệp trong tương lai (hợp lý) thì tối đa: 2,0 điểm”. Từ hướng dẫn chấm này, việc giảng dạy của giáo viên sẽ rất nhẹ nhàng, bởi vì các em viết lạc đề vẫn đạt 2 điểm, hay nội dung bài viết có sơ sài đi nữa thì các em vẫn đạt hơn 1,5 điểm!

 
.... đến kinh hoàng!
 
Phần hướng dẫn chấm câu 3 (5,0 điểm - tạo lập văn bản nghị luận văn học) càng kinh  hoàng hơn. Về mặt lý thuyết, để viết được một bài văn nghị luận về một đoạn thơ, học sinh phải có năng lực cảm nhận, phải biết phương pháp phân tích một đoạn thơ. Học sinh phải biết cách phân tích một hình tượng nhân vật... Và, bài viết đạt điểm tốt, cần phải bảo đảm các yêu cầu về kỹ năng, kiến thức. Tuy nhiên, khi đọc biên bản thống nhất nêu trên, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng. So với hướng dẫn chấm của bộ thì hướng dẫn chấm của 11 tỉnh khu vực ĐBSCL đã “mở rộng đến vô cực”. Xin trích dẫn dưới đây:

Câu 3a: Thống nhất với hướng dẫn chấm, song giám khảo cần thống nhất các tình huống sau đây:

- Về kỹ năng, bài đủ 3 phần: MB - TB - KB, nội dung không đầy đủ → cho ít nhất: 2,0 điểm.

- Về nội dung: Bức tranh thiên nhiên nêu được ý hùng vĩ, thơ mộng → cho trọn: 1,5 điểm.

- Về nghệ thuật:

+ Nêu được một vài ý về nghệ thuật (không cần nêu triệt để): 1,0 điểm

+ Không nêu được nghệ thuật: trừ 1,0 điểm.

-  Phân tích nội dung và nêu được một vài ý nghệ thuật: vẫn được trọn 4,0 điểm.

- Phân tích nội dung trước rồi mới nêu nghệ thuật sau: chỉ cho tối đa 4,5 điểm.

- Diễn xuôi đoạn thơ: cho từ 2,5 - 3,0 điểm

- Đánh giá chung hoặc kết luận: vẫn cho 0,5 điểm…

Câu 3b: Thống nhất với hướng dẫn chấm, song giám khảo cần thống nhất các tình huống sau đây:

- Về kỹ năng, bài đủ 3 phần: MB - TB - KB, nội dung không đầy đủ → cho ít nhất: 2,0 điểm.

- Phân tích nhân vật, đôi chỗ còn hạn chế (kể chuyện): tối thiểu 3,5 điểm.

- Bài làm sa vào kể lể, nặng về tóm tắt truyện hay hoàn toàn tóm tắt cốt truyện: tối đa 2 điểm…”.

Như vậy, cuộc họp triển khai đáp án của 11 tỉnh khu vực ĐBSCL ngày 5-6-2011 tại Cần Thơ đã gần như thoát ly hướng dẫn chấm của bộ. Nếu như tỉnh, thành nào cũng có những bước đi “đột biến” như vậy thì đâu cần hướng dẫn chấm thi thống nhất của bộ! Điều này cũng có nghĩa là học sinh không cần phải lo lắng khi đi thi môn ngữ văn vì chỉ cần các em “biết gì viết nấy”, đừng bỏ giấy trắng, cứ viết đầy trang thì thế nào cũng có điểm, thậm chí còn có điểm tốt, vì đã có thầy cô “đãi cát tìm văn” giúp các em. Vậy là với cách làm này, trò có điểm tốt, thầy có học sinh đỗ cao, trường đạt được thành tích đề ra!

 

Vì sao và tại sao?

Khi đọc hướng dẫn chấm này, chúng tôi không khỏi băn khoăn. Một biên bản thỏa thuận phi khoa học như thế này mà cũng được xem là “Biên bản thống nhất hướng dẫn chấm thi...” cho một kỳ thi cấp quốc gia sao?  Với một biên bản triển khai và thống nhất hướng dẫn chấm như thế, khi xem kết quả trên bảng điểm của thí sinh, những giáo viên giảng dạy môn ngữ văn sẽ nghĩ gì? Họ có vui và hạnh phúc trước những số điểm được “ban phát” từ tình thương và tấm lòng nhân hậu của các chuyên viên bộ môn ngữ văn của các tỉnh, của các giám khảo, trong đó có bản thân mình? Và các em học sinh, các em có vui vì đạt được kết quả tuyệt vời như thế này? 

Do đâu lại có cuộc họp triển khai đáp án của 11 tỉnh khu vực ĐBSCL ngày 5-6-2011 tại Cần Thơ? Và còn các khu vực khác, có hay không những cuộc họp “triển khai” đáp án giữa những tỉnh, TP được phân công chấm chéo lẫn nhau? Rõ ràng với cách tổ chức kiểm tra đánh giá như thế này, những trăn trở, ưu tư của giáo viên khi vận dụng hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng; vận dụng cách đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng; việc cập nhật kiến thức, cải tiến phương pháp dạy học sẽ chẳng còn ý nghĩa gì! 

 

Theo Đỗ Thị Lê (Giáo viên Trường THPT chuyên Tiền Giang)

Người Lao Động

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2011

Đề thi vừa sức với học sinh trung bình

Chỉ còn vài ngày nữa là kỳ thi tốt nghiệp THPT diễn ra. Trao đổi với Tuổi Trẻ xung quanh những băn khoăn của thí sinh về kỳ thi, những lưu ý để có thể đạt kết quả thi tốt, TS Trần Văn Nghĩa, phó cục trưởng Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục - Bộ GD-ĐT, cho biết:



Học sinh lớp 12 Trường THPT Hàn Thuyên, Q.Phú Nhuận, TP.HCM nhận giấy báo dự thi tốt nghiệp sáng 28-5 - Ảnh: Như Hùng

TS Trần Văn Nghĩa - Ảnh: V.H.

- Thời điểm này thí sinh không nên ôn tập lan man mà cần rà soát, hệ thống lại phần kiến thức đã ôn tập. Thời gian còn lại, thí sinh có thể tham khảo đề thi của các năm trước.

Về nguyên tắc, đề thi tốt nghiệp THPT các năm đều tương đương nhau về độ khó. Ôn tập theo cách làm đề thi cũ sẽ giúp thí sinh biết lượng sức mình và quan trọng là có kinh nghiệm trong việc phân bố thời gian để làm được nhiều nhất yêu cầu của đề thi trong phạm vi thời gian cho phép.

* Thí sinh cần lưu ý những gì để tránh bị mất điểm và vi phạm quy chế thi, nhất là trong các môn thi trắc nghiệm?

- Bộ GD-ĐT quy định rõ: bài thi chỉ được viết một thứ mực (không viết mực đỏ), chỉ được sử dụng bút chì để vẽ đường tròn, các hình vẽ khác (biểu đồ, đồ thị, đoạn thẳng) phải vẽ bằng bút mực.

Khi làm sai chỉ dùng bút gạch ngang, không dùng bút xóa, không được để lại dấu tích gì khác ngoài phần bài làm và phần điền thông tin thí sinh... Đây là những quy định mà thí sinh cần phải nắm rõ để tránh bị trừ điểm hoặc không được chấm điểm bài thi.

Thí sinh cũng cần nhớ chỉ được mang vào phòng thi bút mực, bút chì, compa, êke, thước đo độ, thước kẻ, tẩy, các loại máy tính cầm tay theo quy định của Bộ GD-ĐT, atlat địa lý (của NXB Giáo Dục và không được đánh dấu hoặc viết thêm nội dung gì). Thí sinh không được mang vào phòng thi bảng tuần hoàn (môn hóa học), không được sử dụng giấy nháp không có chữ ký của hai giám thị và của thí sinh.

Những vật dụng khác không có trong quy định đều không được mang vào phòng thi. Đối với cả môn thi tự luận và trắc nghiệm, khi nhận đề thi thí sinh phải xem xét kỹ đề thi có bị mờ, thiếu nét, thiếu trang không.

Thí sinh cần đặc biệt lưu ý với môn thi trắc nghiệm, ở trang đầu của đề thi ghi rõ số lượng trang của đề thi, mỗi trang đề đều ghi rõ mã đề thi. Nếu thí sinh phát hiện có vấn đề bất thường trong đề thi phải thông báo cho giám thị rõ ràng để kịp thời khắc phục.

Trong môn thi trắc nghiệm, thí sinh phải nhớ ghi đầy đủ và ghi đúng hướng dẫn mã đề, số báo danh (gồm phần ghi số và phần tô vào ô trống) trên phiếu trả lời trắc nghiệm. Nếu ghi sai mã đề, máy sẽ chấm sai thiệt thòi cho thí sinh. Khi tô vào ô trả lời trắc nghiệm thí sinh không tô hai đáp án, tô chì đậm ở ô đáp án được lựa chọn; nếu tô sai phải tẩy xóa kỹ. Những câu nào làm trái quy định, máy sẽ không chấm điểm câu đó.

Thí sinh khi nộp bài thi phải ký vào danh sách nộp bài và ghi rõ số trang đã nộp. Nếu quên việc này, xảy ra mất bài thi, thí sinh phải chịu trách nhiệm.

* Theo định hướng ra đề có 50% điểm số dành cho yêu cầu thông hiểu, vận dụng kiến thức. Như vậy, liệu những học sinh có lực học trung bình, học sinh quen học thuộc lòng thuần túy sẽ gặp khó khăn hơn?

- Đề thi năm nay sẽ có những câu hỏi không chỉ kiểm tra kiến thức thuộc lòng mà đòi hỏi thí sinh phải biết liên kết, chọn lọc các phần kiến thức đã học để trả lời câu hỏi. Tuy nhiên, nhìn chung đề thi tốt nghiệp sẽ được cân nhắc để vừa sức với học sinh trung bình. Học sinh ôn tập kỹ, bám sát kiến thức cơ bản sẽ có thể hoàn thành tốt bài thi.

Đề thi cũng sẽ có những câu hỏi mang tính phân hóa mà thường những học sinh có lực học khá, giỏi mới làm được. Tuy nhiên tỉ lệ câu hỏi này sẽ không nhiều, trong một câu hỏi khó cũng có những câu hỏi phụ vừa sức với học sinh trung bình.

Để đạt kết quả tốt, trong khi làm bài thi thí sinh cần bình tĩnh đọc kỹ đề, biểu điểm từng câu hỏi để nhận định đúng yêu cầu của đề thi, tránh lạc đề, phân bố thời gian hợp lý. Thí sinh không cần thiết làm theo thứ tự câu hỏi mà làm trước những câu hỏi mình chắc chắn, cố gắng làm trọn vẹn từng câu hỏi nhỏ để được tính điểm.

* Đề thi năm nay, đặc biệt là đề văn, sẽ vẫn có những câu hỏi mở. Vì vậy nhiều trường đã quá sa đà vào việc ôn tập cho học sinh theo hướng đề mở. Ý kiến của ông về việc này thế nào?

- Để tránh gây thiệt thòi cho thí sinh, barem chấm thi năm nay cũng sẽ chi tiết đến 0,25 điểm. Trong hướng dẫn chung, Bộ GD-ĐT chỉ đạo các hội đồng chấm thi phải phổ biến kỹ hướng dẫn chấm, trước khi chấm phải tổ chức chấm chung 15 bài và thảo luận để giúp các giám khảo nhất quán thực hiện hướng dẫn chấm.

Tinh thần chung, nếu làm trọn vẹn một ý trong bài (không nhất thiết phải làm hết bài) cũng sẽ được điểm của phần đó. Nếu vận dụng đúng hướng dẫn chấm sẽ đảm bảo tính chính xác, công bằng đối với thí sinh.

Đối với câu hỏi mở (nếu có), ban đề thi sẽ có hướng dẫn cụ thể cách cho điểm khi học sinh trả lời theo các phương án khác nhau. Nhìn vào kết quả chấm thi hai năm qua, nhất là kết quả chấm thẩm định, các câu hỏi mở đã được chấm khá tốt.

TRỊNH VĨNH HÀ thực hiện

Nguồn: tuoitre.vn

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011

Công bố 6 môn thi tốt nghiệp THPT 2011

Chiều nay 23/3, Bộ GD-ĐT chính thức công bố các môn thi của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2011.Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay sẽ được tổ chức vào các ngày 2, 3 và 4/6/2011.

Theo đó, 6 môn thi bắt buộc đối với giáo dục THPT là các môn: Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ, Vật lí, Sinh học, Địa lí. Trong đó, các môn: Ngoại ngữ, Vật lí, Sinh học thi theo hình thức trắc nghiệm.

Với môn Ngoại ngữ, thí sinh phải thi một trong các thứ tiếng: tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc, tiếng Đức, tiếng Nhật.
Thí sinh không theo học hết chương trình THPT hiện hành hoặc có khó khăn về điều kiện dạy-học thì được thi thay thế bằng môn Lịch sử (thi theo hình thức tự luận).
Đối với giáo dục thường xuyên sẽ thi 6 môn: Ngữ văn, Toán, Vật lí, Sinh học, Lịch sử, Địa lí. Trong đó, các môn: Vật lí, Sinh học thi theo hình thức trắc nghiệm.
Theo lãnh đạo Bộ GD-ĐT, nội dung đề thi tốt nghiệp THPT năm nay dựa theo yêu cầu chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình giáo dục cấp THPT, chủ yếu nằm trong chương trình lớp 12 và dành 50% điểm số cho yêu cầu thông hiểu, vận dụng kiến thức. Đối với phần tự chọn của đề thi (nếu có), Bộ GD&ĐT lưu ý, thí sinh chỉ được làm một trong hai phần tự chọn, nếu làm cả hai phần tự chọn thì bị coi là phạm quy và không được chấm điểm cả hai phần.

Hồng Hạnh - Theo Dân Trí

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2011

"Mẹo" học thuộc bài cho HS cuối cấp

Đối với học sinh cuối cấp, việc học thuộc lòng thật khó khăn hơn vì họ gặp nhiều áp lực, lại hạn chế về mặt thời gian. Các môn học thuộc lòng luôn là trở ngại với phần lớn các bạn có độ tập trung thấp.

Đối với học sinh cuối cấp, việc học thuộc lòng càng khó khăn hơn vì họ gặp nhiều áp lực, lại hạn chế về mặt thời gian. Vậy có cách nào mau chóng thuộc bài mà không khiến ta nhàm chán?

Bạn hãy cùng tham khảo một số phương pháp đơn giản sau đây nhé!

Không gian và thời gian hợp lý

Việc thuộc bài nhanh hay chậm còn phụ thuộc rất nhiều vào địa điểm bạn chọn để học và thời điểm bắt đầu học.

Không gian: Tốt nhất nên chọn một nơi rộng, thoáng, tĩnh lặng, nhưng đừng quá im lặng vì có thể tạo sự căng thẳng và dễ gây buồn ngủ. Có thể là công viên, vườn cây, phòng riêng… Nơi học gọn gàng và trong lành cũng sẽ giúp bạn mau thuộc bài hơn. Có thể học thuộc trong khi đứng, ngồi, nằm, đi qua đi lại…, miễn là cách đó khiến bạn cảm thấy dễ chịu, nhưng tránh đổi tư thế liên tục (ví dụ đang ngồi thì lại nằm), việc này gây cảm giác mất tập trung và mệt mỏi, dễ mất hứng khi học và bị gián đoạn suy nghĩ.

Thời gian: Nhiều bạn cho rằng buổi sáng là thời điểm thích hợp nhất để học nên thường để “nước tới chân mới nhảy”, tức là nếu sáng mai có bài kiểm tra thì tối hôm nay ngủ sớm để sáng dậy sớm học bài… Đúng là đầu óc sẽ rất minh mẫn vào sáng sớm, thuộc bài rất dễ nhưng quên cũng rất mau. Có thể bạn thuộc ngay nhưng đến trưa hoặc chiều sẽ rất khó khăn khi nhớ lại. Còn học buổi tối mất thời gian hơn một chút nhưng sáng dậy bạn sẽ nhớ rất kĩ và thời gian nhớ kéo dài. Thời điểm thích hợp nhất để học là buổi tối (7h - 12h). Nên lưu ý chọn thời gian thoải mái (bạn không bị kẹt công việc hoặc lịch học khác), như thế mới dễ tập trung học hơn.

Không nên quan trọng độ dài nội dung

Nhiều bạn thường nhìn vào số lượng trang phải học, rồi lắc đầu ngán ngẩm: “Nhiều như thế thì làm sao mình có thể học hết được cơ chứ!”, thế rồi nản… Hoặc chỉ học được một vài trang rồi buông…

Đừng nhìn vào số trang mình phải học, hãy nhìn vào số trang mình đã học được. Hãy bắt đầu học với một tâm trạng thoải mái nhất có thể, và tự nhủ: “Mình sẽ thuộc ngay thôi ấy mà!”. Tâm lý có ảnh hưởng rất nhiều đấy nhé, do vậy, nếu bạn nghĩ rằng bạn sẽ học thuộc, thì thời gian sẽ rút ngắn hơn và bạn sẽ tập trung hơn.

Ngoài ra, phải biết cách lược bỏ những nội dung không cần thiết, chỉ nắm các ý chính theo các kiểu câu đơn giản, bỏ đi những từ không ảnh hưởng đến nội dung bài học, tô đậm các ý quan trọng. Và học theo kiểu liệt kê thành từng ý chính, tránh học theo kiểu cả đoạn văn, dễ gây nản và khó nuốt.

Hiểu, liên tưởng, kết hợp các giác quan

Nên nắm vững 5 quy tắc này. Chỉ cần nắm vững, bạn sẽ học thuộc bài một cách dễ dàng.

* Bạn chỉ có thể học thuộc khi bạn hiểu. Nếu không hiểu, bạn học thuộc đấy, nhưng rồi cũng quên ngay.

* Khi học phải biết liên tưởng và hình dung trong đầu.

* Suy nghĩ đến thứ khác thì chẳng bao giờ bạn thuộc bài được.

* Trước khi học phải có động lực (điểm cao, được giải trí sau khi học…)

* Sẽ rất tốt nếu bạn kết hợp nghe, đọc, ghi chép… Hiệu quả sẽ tăng lên gấp 3 lần.

Cách học thuộc sẽ theo trình tự sau:

* Bố trí không gian và thời gian thích hợp, đảm bảo rằng tư tưởng của bạn không vướng bận hoặc có cảm xúc mạnh. Bạn phải ở trong tâm trạng bình thường và đầu óc không suy nghĩ, không mệt mỏi.

* Đọc đi đọc lại 3 lần nội dung cần học, liên tưởng và bắt đầu thâu tóm nội dung quan trọng để nhớ. Việc này không mất quá nhiều thời gian.

* Bắt đầu học sơ sơ. Việc học lướt sẽ tạo cho bạn cảm giác rằng bạn đã nắm vững một số nội dung, nên sẽ kích thích bạn tập trung hơn, hăng hái hơn.

* Liên tưởng, lược bỏ, liệt kê… Bạn bắt đầu học kĩ và kết hợp ghi chép nếu muốn. Hãy diễn đạt theo cách của bạn, không nên thuộc từng chữ một trong sách.

* Nếu cảm thấy đau đầu hoặc “nhét” chữ không vào nữa thì bạn có thể dành thời gian để…đọc lại nội dung bài học. Việc đọc như thế cũng rất ích lợi.

* Nên dò lại 3 lần sau khi đã học xong.

Lưu ý, có thể không cần học theo thứ tự cũng được.

Chúc bạn học tốt!

Theo Mực Tím

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

Bộ 60 đề ôn thi tốt nghiệp THPT 2011 có đáp số

Bộ 60 đề ôn thi tốt nghiệp THPT 2011 có đáp số, được biên soạn và chia sẻ bởi thầy Trần Sĩ Tùng, THPT Trưng Vương - Qui Nhơn - Bình Định. Thầy Tùng là người đã biên soạn nhiều tài liệu quý cho giáo viên và học sinh tham khảo.

(Click Fullscreen để xem toàn màn hình)

Bộ đề này theo cấu trúc đề thi tốt nghiệp của Bộ, tất cả đều có đáp số.

Click http://www.mediafire.com/?165yl74jc24cs1b để tải tài liệu.

Thứ Ba, 18 tháng 1, 2011

Cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT và ĐH, CĐ môn Toán 2010

Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng (Bộ GD&ĐT) vừa công bố cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ môn Toán. Đề thi năm nay có phần thi chung và phần thi riêng để thí sinh lựa chọn.

A) Môn Toán (tốt nghiệp THPT)

* Phần chung dành cho tất cả thí sinh: (7 điểm)

Câu I (3 điểm):
- Khảo sát, vẽ đồ thị của hàm số.
- Các bài toán liên quan đến ứng dụng của đạo hàm và đồ thị của hàm số: chiều biến thiên của hàm số, cực trị, tiếp tuyến, tiệm cận (đứng và ngang) của đồ thị hàm số; tìm trên đồ thị những điểm có tính chất cho trước, tương giao giữa hai đồ thị (một trong hai đồ thị là đường thẳng)…

Câu II (3 điểm):- Hàm số, phương trình, bất phương trình mũ và lôgarit.
- Giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của hàm số.
- Tìm nguyên hàm, tính tích phân.
- Bài toán tổng hợp.

Câu III (1 điểm):
Hình học không gian (tổng hợp): Diện tích xung quanh của hình nón tròn xoay, hình trụ tròn xoay; tính thể tích khối lăng trụ, khối chóp, khối nón tròn xoay, khối trụ tròn xoay; diện tích mặt cầu và thể tích khối cầu.

* Phần riêng (3 điểm):

Thí sinh học chỉ được làm một trong hai phần (phần 1 hoặc 2):

Theo chương trình Chuẩn:

Câu IV.a (2 điểm):
Phương pháp tọa độ trong không gian:
- Xác định tọa độ của điểm, vectơ.
- Mặt cầu.
- Viết phương trình mặt phẳng, đường thẳng.
- Tính góc, tính khoảng cách từ điểm đến mặt phẳng. Vị trí tương đối của đường thẳng, mặt phẳng và mặt cầu.

Câu V.a (1 điểm):- Số phức: môđun của số phức, các phép toán trên số phức; căn bậc hai của số thực âm; phương trình bậc hai hệ số thực có biệt thức D âm.
- Ứng dụng của tích phân: tính diện tích hình phẳng, thể tích khối tròn xoay.

Theo chương trình nâng cao:

Câu IV.b (2 điểm): Phương pháp tọa độ trong không gian:
- Xác định tọa độ của điểm, vectơ.
- Mặt cầu.
- Viết phương trình mặt phẳng, đường thẳng.
- Tính góc; tính khoảng cách từ điểm đến đường thẳng, mặt phẳng; khoảng cách giữa hai đường thẳng; vị trí tương đối của đường thẳng, mặt phẳng và mặt cầu.

Câu V.b (1 điểm):- Số phức: Môđun của số phức, các phép toán trên số phức; căn bậc hai của số phức; phương trình bậc hai với hệ số phức; dạng lượng giác của số phức.
- Đồì thị hàm phân thức hữu tỉ dạng y = (ax2 + bx +c) /(px+q ) và một số yếu tố liên quan.
- Sự tiếp xúc của hai đường cong.
- Hệ phương trình mũ và lôgarit.
- Ứng dụng của tích phân: tính diện tích hình phẳng, thể tích khối tròn xoay.

B) Môn Toán (tuyển sinh ĐH, CĐ)

I. Phần chung cho tất cả thí sinh: (7 điểm)

Câu I (2 điểm): - Khảo sát sự biến thiên và vẽ đồ thị của hàm số.
- Các bài toán liên quan đến ứng dụng của đạo hàm và đồ thị của hàm số: chiều biến thiên của hàm số; cực trị; giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của hàm số; tiếp tuyến, tiệm cận (đứng và ngang) của đồ thị hàm số; tìm trên đồ thị những điểm có tính chất cho trước, tương giao giữa hai đồ thị (một trong hai đồ thị là đường thẳng)…

Câu II (2 điểm): -Phương trình, bất phương trình; hệ phương trình đại số.
- Công thức lượng giác, phương trình lượng giác.

Câu III (1 điểm): -Tìm giới hạn.
- Tìm nguyên hàm, tính tích phân.
- Ứng dụng của tích phân: tính diện tích hình phẳng, thể tích khối tròn xoay.

Câu IV (1 điểm): Hình học không gian (tổng hợp): quan hệ song song, quan hệ vuông góc của đường thẳng, mặt phẳng; diện tích xung quanh của hình nón tròn xoay, hình trụ tròn xoay; thể tích khối lăng trụ, khối chóp, khối nón tròn xoay, khối trụ tròn xoay; tính diện tích mặt cầu và thể tích khối cầu.

Câu V. (1 điểm): Bài toán tổng hợp

II. Phần riêng (3 điểm)

Thí sinh chỉ được làm một trong hai phần (phần 1 hoặc phần 2).

Theo chương trình chuẩn:

Câu VI.a (2 điểm): Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng và trong không gian:
- Xác định tọa độ của điểm, vectơ.
- Đường tròn, elip, mặt cầu.
- Viết phương trình mặt phẳng, đường thẳng.
- Tính góc, tính khoảng cách từ điểm đến mặt phẳng; vị trí tương đối của đường thẳng, mặt phẳng và mặt cầu.

Câu VII.a (1 điểm): -Số phức.
- Tổ hợp, xác suất, thống kê.
- Bất đẳng thức; cực trị của biểu thức đại số.

Theo chương trình nâng cao:

Câu VI.b (2 điểm) Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng và trong không gian:
- Xác định tọa độ của điểm, vectơ.
- Đường tròn, ba đường conic, mặt cầu.
- Viết phương trình mặt phẳng, đường thẳng.
- Tính góc; tính khoảng cách từ điểm đến đường thẳng, mặt phẳng; khoảng cách giữa hai đường thẳng; vị trí tương đối của đường thẳng, mặt phẳng và mặt cầu.

Câu VII.b (1 điểm): - Số phức.
- Đồ thị hàm phân thức hữu tỉ dạng y = (ax2 + bx + c) / (px + q) và một số yếu tố liên quan.
- Sự tiếp xúc của hai đường cong.
- Hệ phương trình mũ và lôgarit.
- Tổ hợp, xác suất, thống kê.
- Bất đẳng thức. Cực trị của biểu thức đại số.

Nguồn: Bộ GD&ĐT

Bài đăng phổ biến