Hiển thị các bài đăng có nhãn Đại học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đại học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2011

Đầu vào tuyển sinh sư phạm: “Tuột dốc” không phanh

Chưa năm nào điểm chuẩn ngành sư phạm thấp như năm nay. Điểm chuẩn nhiều ngành, nhiều trường đã rơi xuống tận đáy khi chỉ bằng điểm sàn chung nhưng vẫn chưa thể tuyển đủ chỉ tiêu.



Thí sinh tìm hiểu thông tin trước ngày thi tại Trường ĐH Sư phạm TP.HCM trong kỳ tuyển sinh năm 2011 - Ảnh: Như Hùng

Mức điểm thấp nhất thuộc về các trường ĐH địa phương, ĐH vùng. Các ngành sư phạm vật lý, ngữ văn tại Trường ĐH Quảng Nam chỉ bằng điểm sàn nhưng vẫn phải xét tuyển hàng chục chỉ tiêu bằng nguyện vọng (NV) 2.

Tương tự, hầu như toàn bộ ngành sư phạm bậc ĐH của các trường ĐH An Giang, Thủ Dầu Một, Hồng Đức, Quảng Bình, Tây Bắc, Thái Nguyên chỉ bằng điểm sàn, kể cả các ngành sư phạm toán, hóa, sinh, ngữ văn và phải xét tuyển rất nhiều chỉ tiêu bằng NV2.

Không chỉ thế, tại Trường ĐH An Giang, ngành sư phạm tin học còn không có thí sinh nào trúng tuyển. Ngành nhiều nhất là sư phạm toán với 20 thí sinh, các ngành sư phạm còn lại chỉ có 5-10 thí sinh trúng tuyển NV1.

Thi sử 0,25 điểm, đậu ĐH Sư phạm lịch sử!

Ông Hoàng Xuân Quảng - phó hiệu trưởng Trường ĐH An Giang - than vãn: chưa năm nào điểm chuẩn ngành sư phạm tuột dốc đến tận đáy như năm nay. Điểm chuẩn chỉ bằng sàn mà cũng chỉ lèo tèo vài thí sinh trúng tuyển. Có thể nhiều ngành sẽ phải đóng cửa do quá ít thí sinh bởi xét NV2 cũng không hi vọng nhiều vì nguồn tuyển đã hết.

Ở những trường tốp giữa, ĐH vùng như Quy Nhơn, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ... tình hình điểm chuẩn ngành sư phạm khả quan hơn nhưng cũng có rất nhiều ngành sư phạm cơ bản có điểm chuẩn chỉ bằng sàn hoặc chỉ cao hơn từ 0,5-1 điểm.

Không chỉ thế, điểm chuẩn các trường chuyên đào tạo sư phạm như Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2 cũng rớt thê thảm. Đây là năm đầu tiên trong chục năm trở lại đây, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM lấy điểm chuẩn hai ngành sư phạm lịch sử và địa lý bằng điểm sàn.

Tương tự, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2 phải lấy điểm chuẩn bằng sàn cho các ngành sư phạm hóa, sinh trong khi ngành sư phạm vật lý cũng chỉ là 13,5.

Điểm đáng chú ý là ngành sư phạm lịch sử. Không chỉ điểm chuẩn bằng sàn, rất nhiều thí sinh trúng tuyển bậc ĐH ngành này nhưng điểm thi môn lịch sử chỉ từ 0,5-2 điểm. Trường ĐH Sư phạm (ĐH Đà Nẵng) tuy đã nhân hệ số môn lịch sử nhưng điểm chuẩn chỉ dừng lại ở mức 14,5 điểm! Trong số 42 thí sinh trúng tuyển ngành lịch sử, chỉ có ba thí sinh đạt điểm thi môn sử từ 5 trở lên, đa số thí sinh có điểm ở mức 2-3 điểm. Thậm chí có ba thí sinh chỉ được 1,25 điểm, một thí sinh 1 điểm môn sử.

Tương tự, tại Trường ĐH Cần Thơ có ít nhất bốn thí sinh đậu ngành sư phạm lịch sử khi điểm thi môn này chỉ là 1 điểm, nhiều thí sinh 1,25-2 điểm. Đáng chú ý hơn là tại Trường ĐH Đà Lạt, một thí sinh trúng tuyển ngành sư phạm lịch sử với điểm thi sử 0,5. Cá biệt hơn, một thí sinh tại trường này trúng tuyển với tổng điểm 13 nhưng môn sử chỉ 0,25 điểm, tức chỉ vừa thoát khỏi ngưỡng điểm liệt (0 điểm)!

Báo động!

Nguyên nhân của sự sụt giảm đáng báo động này được nhiều cán bộ quản lý của các trường ĐH, sở GD-ĐT đưa ra là do chính sách tiền lương, chế độ cho giáo viên quá thấp. Điều quan trọng nữa là đầu ra ngành sư phạm cực kỳ khó khăn.

Theo ghi nhận tại nhiều sở GD-ĐT, bốn năm trở lại đây, nhu cầu giáo viên đã bão hòa, mỗi năm số sinh viên tốt nghiệp sư phạm chưa được phân công nhiệm sở lên đến hàng trăm người mỗi tỉnh.

Ông Nguyễn Thanh Bình - giám đốc Sở GD-ĐT An Giang - cũng cho biết năm nay sở nhận được khoảng 1.400 hồ sơ tuyển dụng giáo viên các cấp nhưng chỉ có thể giải quyết được 1.100 hồ sơ. Năm 2011, chỉ tính riêng bậc THPT, tỉnh Đồng Tháp nhận 890 hồ sơ tuyển dụng nhưng chỉ giải quyết được 90 hồ sơ. Khoảng 800 sinh viên tốt nghiệp ĐH sư phạm chưa biết đi đâu về đâu.

Ở khía cạnh đơn vị đào tạo, ông Hoàng Xuân Quảng chia sẻ: sinh viên sư phạm hiện nay ra trường khó tìm việc làm, tìm được thì thu nhập thấp. Hơn nữa, việc chuyển đổi nghề nghiệp cũng khó khăn hơn so với các ngành nghề khác. Chính sách miễn học phí hiện nay không còn đủ sức hút với người học bởi cái họ cần là nghề nghiệp để kiếm sống chứ học phí giờ đã quá thấp rồi.

Trong khi đó, PGS Văn Như Cương - hiệu trưởng Trường THPT Lương Thế Vinh (Hà Nội) - lo ngại: “Việc chất lượng đầu vào giảm là điều đáng báo động bởi nó sẽ ảnh hưởng đến cả hệ thống giáo dục và sự phát triển bền vững của xã hội. Giáo dục là nền tảng của các ngành khoa học, xã hội, nếu chỉ tuyển được những giáo viên có chất lượng không thật sự tốt, rõ ràng sẽ không có nền tảng tốt”.

Thiếu giáo viên dai dẳng

Tại TP.HCM, theo ông Lê Hồng Sơn - giám đốc Sở GD-ĐT TP, những năm gần đây TP luôn thiếu giáo viên do các trường sư phạm trên địa bàn TP đào tạo theo xu hướng đa ngành, chỉ tiêu đào tạo sư phạm giảm nên nguồn tuyển giáo viên các trường cũng giảm.

Trong khi đó, ông Huỳnh Công Minh - nguyên giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM - cho biết khi làm đề án nâng cấp Trường CĐ Sư phạm TP.HCM lên ĐH, sở tham mưu nâng cấp thành Trường ĐH Sư phạm Sài Gòn. Tuy nhiên Bộ GD-ĐT cho biết chỉ cho phép thành lập trường ĐH đa ngành chứ không thành lập trường chuyên ngành sư phạm. Nếu có trường chuyên đào tạo sư phạm thì nguồn cung cấp giáo viên cho TP sẽ dồi dào hơn, tình trạng thiếu giáo viên sẽ không dai dẳng như hiện nay.

MINH GIẢNG

Nguồn: tuoitre.vn

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2011

Bắc Giang: Sở GD-ĐT sai sót, thí sinh mất oan điểm ưu tiên

Do sai sót từ Sở GD-ĐT tỉnh Bắc Giang nên toàn bộ học sinh khối 12 Trường THPT Yên Dũng số 3 thuộc huyện Yên Dũng của địa phương này đã bị mất 0,5 điểm ưu tiên khu vực trong kì thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2011.

Thông tin này được thầy Nghiêm Xuân Cường, hiệu trưởng Trường THPT Yên Dũng số 3 xác nhận. Thầy Cường cho biết: “Những sai sót này được phát hiện và phản ánh lên Sở từ hồi tháng 3/2011 nhưng không hiểu sao lúc đó Sở lại không điều chỉnh ngay”.

Cũng theo thầy Cường thì trong kì thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2011 toàn trường có gần 600 em đăng ký dự thi rải rác ở nhiều trường khác nhau. Sau khi biết điểm chuẩn của các trường thì đã có 20 em viết đơn đề nghị chứng nhận khu vực ưu tiên vì đây là những em chỉ thiếu 0,5 điểm là đỗ. Còn đối với các em đã trúng tuyển hoặc có điểm quá thấp thì không ảnh hướng nhiều nên cũng không thắc mắc.

“Việc đảm bảo quyền lợi cho các em là điều cần biết bởi các em vẫn còn cơ hội tham gia xét tuyển NV2 hay NV3” - thầy Cường nhấn mạnh.

Để tìm hiểu thêm về vấn đề này, chúng tôi cũng đã trao đổi với ông Ngô Thanh Sơn - phó giám đốc Sở GD-ĐT Bắc Giang. Sau khi kiểm tra sự việc, ông Sơn cho biết: “Đúng là có sự nhầm lẫn xuất phát từ phía Sở. Trường THPT Yên Dũng số 3 đóng ở địa bàn xã Cảnh Thụy, huyện Yên Dũng. Trước kia xã này thuộc vùng ưu tiên KV2-NT. Tuy nhiên vào ngày 12/3/2009 UB Dân tộc đã ban hành quyết định số 61 công nhận các xã, huyện là miền núi, vùng cao do điều chỉnh địa giới hành chính và đã chính thức đưa xã Cảnh Thụy vào danh sách này. Do việc ban hành muộn nên những thí sinh dự thi ĐH, CĐ năm 2010 không được hưởng đối tượng ưu tiên khu vực KV1. Đối với năm 2011 thì các em được hưởng điểm ưu tiên KV1 nhưng do trong quá trình xử lý có thể cán bộ tuyển sinh của Sở không năm rõ thay đổi này nên đã nhầm lẫn”.

Cũng theo ông Sơn, sau khi phát hiện sự việc Sở GD-ĐT cũng đã báo cáo lên Bộ GD-ĐT. Theo hướng dẫn của Bộ thì Sở nên trực tiếp đến các trường mà các em dự thi để trình bày và tiến hành điều chỉnh. Cho đến nay phần lớn các trường đều đã đồng ý điều chỉnh điểm ưu tiên khu vực cho các em. Những em đủ điểm trúng tuyển sau khi điều chỉnh cũng đã được gửi giấy báo. Tuy nhiên một số trường đề nghị phải có công văn của Bộ mới đồng ý nên Sở cũng đã thông tin lại với Bộ để đảm bảo quyền lợi cho các em.

Trao đổi với Dân trí chiều ngày 26/8, ông Ngô Kim Khôi - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học cho biết: “Bộ GD-ĐT đã tiếp nhận thông tin báo cáo của Sở Bắc Giang. Trong ngày hôm nay Bộ sẽ có công văn gửi các trường ĐH, CĐ để đảm bảo quyền lợi của các em”.

Nguyễn Hùng
Nguồn tin:
Dân trí

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2011

Đề thi thử Đại học môn TOán năm 2011 - TRần Phương

Để phục vụ cho các Em học sinh vững tin chuẩn bị bước vào kì thi. Tôi giới thiệu 2 đề thi thử Đại học năm 2011 do thầy Trần Phương soạn. Hy vọng 2 đề này và những tài liệu khác đăng tại etoanhoc.blogspot.com sẽ đóng góp một phần nhỏ cho các Em trong quá trình luyện thi

Xem trực tuyến

Download tài liệu tại: http://www.mediafire.com/?wgnwkodp7rv4ahp

en.thpt@

Thứ Bảy, 26 tháng 2, 2011

Đề thi Khảo sát chất lượng lần I năm học 2010 - 2011

Đề thi (kèm đáp án) Khảo sát chất lượng lần I năm học 2010 - 2011

(Click Fullscreen để xem toàn màn hình)

Click http://www.mediafire.com/?uahywrlvum7r0x6 để tải tài liệu

Mr.Le - etoanhoc.tk

Thứ Ba, 18 tháng 1, 2011

Cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT và ĐH, CĐ môn Toán 2010

Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng (Bộ GD&ĐT) vừa công bố cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ môn Toán. Đề thi năm nay có phần thi chung và phần thi riêng để thí sinh lựa chọn.

A) Môn Toán (tốt nghiệp THPT)

* Phần chung dành cho tất cả thí sinh: (7 điểm)

Câu I (3 điểm):
- Khảo sát, vẽ đồ thị của hàm số.
- Các bài toán liên quan đến ứng dụng của đạo hàm và đồ thị của hàm số: chiều biến thiên của hàm số, cực trị, tiếp tuyến, tiệm cận (đứng và ngang) của đồ thị hàm số; tìm trên đồ thị những điểm có tính chất cho trước, tương giao giữa hai đồ thị (một trong hai đồ thị là đường thẳng)…

Câu II (3 điểm):- Hàm số, phương trình, bất phương trình mũ và lôgarit.
- Giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của hàm số.
- Tìm nguyên hàm, tính tích phân.
- Bài toán tổng hợp.

Câu III (1 điểm):
Hình học không gian (tổng hợp): Diện tích xung quanh của hình nón tròn xoay, hình trụ tròn xoay; tính thể tích khối lăng trụ, khối chóp, khối nón tròn xoay, khối trụ tròn xoay; diện tích mặt cầu và thể tích khối cầu.

* Phần riêng (3 điểm):

Thí sinh học chỉ được làm một trong hai phần (phần 1 hoặc 2):

Theo chương trình Chuẩn:

Câu IV.a (2 điểm):
Phương pháp tọa độ trong không gian:
- Xác định tọa độ của điểm, vectơ.
- Mặt cầu.
- Viết phương trình mặt phẳng, đường thẳng.
- Tính góc, tính khoảng cách từ điểm đến mặt phẳng. Vị trí tương đối của đường thẳng, mặt phẳng và mặt cầu.

Câu V.a (1 điểm):- Số phức: môđun của số phức, các phép toán trên số phức; căn bậc hai của số thực âm; phương trình bậc hai hệ số thực có biệt thức D âm.
- Ứng dụng của tích phân: tính diện tích hình phẳng, thể tích khối tròn xoay.

Theo chương trình nâng cao:

Câu IV.b (2 điểm): Phương pháp tọa độ trong không gian:
- Xác định tọa độ của điểm, vectơ.
- Mặt cầu.
- Viết phương trình mặt phẳng, đường thẳng.
- Tính góc; tính khoảng cách từ điểm đến đường thẳng, mặt phẳng; khoảng cách giữa hai đường thẳng; vị trí tương đối của đường thẳng, mặt phẳng và mặt cầu.

Câu V.b (1 điểm):- Số phức: Môđun của số phức, các phép toán trên số phức; căn bậc hai của số phức; phương trình bậc hai với hệ số phức; dạng lượng giác của số phức.
- Đồì thị hàm phân thức hữu tỉ dạng y = (ax2 + bx +c) /(px+q ) và một số yếu tố liên quan.
- Sự tiếp xúc của hai đường cong.
- Hệ phương trình mũ và lôgarit.
- Ứng dụng của tích phân: tính diện tích hình phẳng, thể tích khối tròn xoay.

B) Môn Toán (tuyển sinh ĐH, CĐ)

I. Phần chung cho tất cả thí sinh: (7 điểm)

Câu I (2 điểm): - Khảo sát sự biến thiên và vẽ đồ thị của hàm số.
- Các bài toán liên quan đến ứng dụng của đạo hàm và đồ thị của hàm số: chiều biến thiên của hàm số; cực trị; giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của hàm số; tiếp tuyến, tiệm cận (đứng và ngang) của đồ thị hàm số; tìm trên đồ thị những điểm có tính chất cho trước, tương giao giữa hai đồ thị (một trong hai đồ thị là đường thẳng)…

Câu II (2 điểm): -Phương trình, bất phương trình; hệ phương trình đại số.
- Công thức lượng giác, phương trình lượng giác.

Câu III (1 điểm): -Tìm giới hạn.
- Tìm nguyên hàm, tính tích phân.
- Ứng dụng của tích phân: tính diện tích hình phẳng, thể tích khối tròn xoay.

Câu IV (1 điểm): Hình học không gian (tổng hợp): quan hệ song song, quan hệ vuông góc của đường thẳng, mặt phẳng; diện tích xung quanh của hình nón tròn xoay, hình trụ tròn xoay; thể tích khối lăng trụ, khối chóp, khối nón tròn xoay, khối trụ tròn xoay; tính diện tích mặt cầu và thể tích khối cầu.

Câu V. (1 điểm): Bài toán tổng hợp

II. Phần riêng (3 điểm)

Thí sinh chỉ được làm một trong hai phần (phần 1 hoặc phần 2).

Theo chương trình chuẩn:

Câu VI.a (2 điểm): Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng và trong không gian:
- Xác định tọa độ của điểm, vectơ.
- Đường tròn, elip, mặt cầu.
- Viết phương trình mặt phẳng, đường thẳng.
- Tính góc, tính khoảng cách từ điểm đến mặt phẳng; vị trí tương đối của đường thẳng, mặt phẳng và mặt cầu.

Câu VII.a (1 điểm): -Số phức.
- Tổ hợp, xác suất, thống kê.
- Bất đẳng thức; cực trị của biểu thức đại số.

Theo chương trình nâng cao:

Câu VI.b (2 điểm) Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng và trong không gian:
- Xác định tọa độ của điểm, vectơ.
- Đường tròn, ba đường conic, mặt cầu.
- Viết phương trình mặt phẳng, đường thẳng.
- Tính góc; tính khoảng cách từ điểm đến đường thẳng, mặt phẳng; khoảng cách giữa hai đường thẳng; vị trí tương đối của đường thẳng, mặt phẳng và mặt cầu.

Câu VII.b (1 điểm): - Số phức.
- Đồ thị hàm phân thức hữu tỉ dạng y = (ax2 + bx + c) / (px + q) và một số yếu tố liên quan.
- Sự tiếp xúc của hai đường cong.
- Hệ phương trình mũ và lôgarit.
- Tổ hợp, xác suất, thống kê.
- Bất đẳng thức. Cực trị của biểu thức đại số.

Nguồn: Bộ GD&ĐT

Bài đăng phổ biến