Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2008

Sách Phương trình Đạo hàm riêng của Evans

Đây là cuốn sách dày 662 trang, bao gồm hầu hết các vấn đề của phường trình đạo hàm riêng. Từ đơn giản đến phức tạp, từ tuyến tính đến phi tuyến. Có thể xem đây là cuốn sách đầy đủ và đồ sộ nhất về Phương trình đạo hàm riêng. Hữu ích cho các bạn sinh viên và học viên Cao học chuyên ngành Giải tích.
Download cuốn sách này tại đây: Download

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2008

Tạp chí Mathematical Excalibur


Tạp chí Mathematical Excalibur là một tạp chí của khoa Toán - Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông (The Hong Kong University of Science and Technology - viết tắt là HKUST), mỗi năm chỉ ra khoảng 4 số, bắt đầu từ tháng 01/1995. Tạp chí đề cập một số chuyên đề hay về toán học, đặc biệt là toán sơ cấp trong các kì thi Olympic. Mỗi số thường có 4 trang gồm các chuyên mục: Olympiad Corner, Problem Corner, Solutions và một bài báo về một chuyên đề nào đó. Mọi người khắp thế giới có hiểu biết về toán đều được khuyến khích gửi bài cho tạp chí. Ở Việt Nam đã có hai người có bài đăng ở đây là Hà Duy Hưng Phạm Văn Thuận. Số mới nhất của tạp chí là http://www.math.ust.hk/excalibur/v13_n3.pdf
Toàn bộ các số của tạp chí đã được đóng gói và đặt ở đây. Tải về.

(Theo http://www.math.ust.hk/excalibur/)

PS: Nếu bạn muốn bài báo, đề bài hoặc lời giải các bài toán trong mục Problem Corner (bằng tiếng Anh) của mình xuất hiện trên tạp chí này thì gửi nó đến
Dr. Kin-Yin LI
Department of Mathematics
The Hong Kong University of Science and Technology
Clear Water Bay, Kowloon, Hong Kong
Fax: (852) 2358 1643
Email: makyli@ust.hk

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2008

Bài tập Giải tích và lời giải - Kaczor, Novak - Tập 2 - Bản dịch tiếng Việt của Đoàn Chi

Trong bài viết trước, tôi có giới thiệu cuốn Bài tập Giải tích - Tập 1 của dịch giả Đoàn Chi. Đây là bản dịch một trong những cuốn sách bài tập Giải tích nổi tiếng "Problem in mathematical Analysis" của Kaczor và Novak.
Hôm nay, xin giới thiệu tập 2 của bộ sách này. Tập này, dày 400 trang, là tài liệu tham khảo quý giá cho những người dạy Toán và học Toán ở Việt Nam.
Download tại đây: Download

Nếu bạn muốn download 3 tập nguyên bản (tiếng Anh) thì vào đây .


Xem thêm các cuốn sau:

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2008

Em mãi là ... hằng số vô biên

Trong mục comment của bài Nghiệm duy nhất là em, một bạn tên Danh đã post một bài thơ rất hay với nhan đề "Thơ tình Toán học". Tuy nhiên nhan đề này nghe có vẻ chung chung nên tôi tạm đặt lại như vậy. Nếu tôi nhớ không nhầm thì tác giả của bài thơ này là Lê Thống Nhất.


Ánh xạ cuộc đời đưa anh đến với em
Qua những lang thang trăm nghìn toạ độ
Em số ảo ẩn mình sau số mũ
Phép khai căn em biến hoá khôn lường
Ôi cuộc đời đâu như dạng toàn phương
Bao kỳ vọng cho khát khao tiến tới
Bao biến số cho một đời nông nổi
Phép nội suy từ chối mọi lối mòn
Có lúc gần còn chút Epsilon
Em bỗng xa như một hàm gián đoạn
Anh muốn thả hồn mình qua giới hạn
Lại chìm vơi cạn mãi giữa phương trình
Tình yêu là định lý khó chứng minh
Hai hệ tiên đề chênh vênh xa lạ
Bao lô gic như giận hờn dập xoá
Vẫn hiện lên một đáp số cuối cùng
Mẫu số niềm tin đâu dễ quy đồng
phép chiếu tình yêu nhiều khi đổi hướng
Lời giải đẹp đôi luc do lầm tưởng
Ôi khó thay khi cuộc sống đa chiều
Bao chu kỳ, bao đợt sóng tình yêu
Anh khắc khoải cơn thuỷ triều cực đại
Em vẫn đó bờ nguyên hàm khờ dại
Nơi trái tim anh,
em mãi mãi là hằng số vô biên

Đổi mới phương pháp giảng dạy: “Giáo viên bị ràng buộc quá nhiều”

TS Hồ Thiệu Hùng - Ảnh: N.C.T.

- Cụm từ “đổi mới phương pháp giảng dạy” đã xuất hiện cách đây 5-6 năm. Thế nhưng sau bài viết “Người thầy cảm động” (Tuổi Trẻ 25-10), nhiều giáo viên vẫn băn khoăn: “Để làm được như thầy Tuấn Anh sao khó quá!”. Còn phụ huynh thì than thở: “Phải chi thầy cô giáo của con tôi cũng đổi mới như thế”.



Về vấn đề này, TS Hồ Thiệu Hùng - nguyên giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM - nói:

- Xét ra, giáo viên Trần Tuấn Anh có nhiều thuận lợi để thực hiện những ý tưởng tốt đẹp của mình. Môn giáo dục công dân không phải là môn thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh nên người giáo viên không bị ràng buộc bởi yếu tố điểm cao và thi đậu. Thêm nữa, thầy Trần Tuấn Anh còn được ban giám hiệu và đồng nghiệp Trường THCS Bạch Đằng ủng hộ, khích lệ. Nếu thầy Trần Tuấn Anh dạy môn thi như văn hoặc toán, chưa chắc anh ấy đã làm được những điều mình muốn. Tôi thông cảm với những giáo viên giàu tâm huyết, nhìn nhận ra vấn đề, bức xúc với nhu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy nhưng họ không có điều kiện thuận lợi, khó lòng đổi mới phương pháp giảng dạy như thầy Trần Tuấn Anh.

* Là người gắn bó với ngành giáo dục và có những nghiên cứu liên quan đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy, ông đánh giá như thế nào về phong trào này?

- Tôi cho là hiệu quả của nó chưa đạt được như giới quản lý mong muốn, mặc dù cụm từ “đổi mới phương pháp giảng dạy” đã trở nên quen thuộc với cả phụ huynh học sinh. Nhiều người áp dụng nhưng đổi mới vẫn chưa đi sâu vào thực chất. Giáo viên ngày nay có phương tiện tuyệt vời là công nghệ thông tin - hỗ trợ đắc lực cho quá trình đổi mới. Nhưng họ lại bị lệ thuộc mục tiêu dạy làm sao để học sinh thi đậu, lên lớp với tỉ lệ thật cao. Vì vậy, họ chưa mạnh dạn làm theo cái mình nghĩ là tốt. Phương pháp đánh giá học sinh kiểu hiện nay đang chi phối mạnh mẽ phương pháp dạy học.

“Mỗi ngày đến trường là một niềm vui”. để thực hiện điều đó, ngành GD-ĐT còn phải làm rất nhiều việc - Ảnh: Như Hùng

* Thưa ông, ông nghĩ sao khi có ý kiến cho rằng một số giáo viên hiện nay chỉ đổi mới một cách nửa vời?

- Đúng là có nhiều giáo viên hiện nay quá chú trọng đến hình thức mà không hoặc ít quan tâm đến hiệu quả của tiết dạy. Có người nặng về phô diễn, trình bày một tiết dạy rất hay với giáo án điện tử, hình ảnh, âm thanh bắt mắt, sinh động nhưng học sinh không phối hợp được các giác quan nghe, đọc, viết; tốc độ truyền thụ quá nhanh nên nhiều em không theo kịp bài, không nắm được nội dung bài học.

Theo tôi, đổi mới phương pháp giảng dạy là phải lấy học trò làm trung tâm, cách dạy mới phải phù hợp với học sinh, làm cho học sinh yêu môn học. Một phương pháp giảng dạy cố định không thể là chìa khóa chung cho mọi giáo viên mà phải tùy thuộc từng hoàn cảnh lớp học, đối tượng học sinh, nội dung học, khả năng truyền cảm của giáo viên. Nếu ai đó cứ bê nguyên xi bài giảng của thầy Tuấn Anh áp dụng cho một lớp học khác ở một ngôi trường thuộc địa phương khác thì không chắc là thành công.

* Như vậy người giáo viên hiện nay cần những yếu tố gì đổi mới phương pháp giảng dạy?

- Chúng ta đang lún quá sâu vào việc đánh giá giáo viên qua tỉ lệ học sinh lên lớp, thi đậu. Thế mới có tình trạng giáo viên ngại nhận những lớp đông học sinh yếu mặc dù sứ mạng của giáo dục là khai sáng. Cần một cuộc cải tổ mạnh mẽ về phương pháp đánh giá giáo viên, dựa vào quá trình tiến bộ của học sinh từ đầu năm học đến cuối năm học chẳng hạn. Tôi từng đề nghị trên tạp chí chuyên ngành là đầu năm học xếp loại trường, lớp và cuối năm đánh giá lại. Như thế sẽ công bằng hơn, căn cứ vào đoạn đường đã vượt qua mà đánh giá giáo viên. Đổi mới phương pháp giáo dục như thế nào đó để cuối năm học sinh tiến bộ hơn hồi đầu năm chứ không chỉ chăm chăm vào tỉ lệ lên lớp, thi đậu là những tỉ lệ dễ bị phù phép ở những nơi chịu chung sống với tiêu cực.

Ngoài ra, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục cần nhận thức đúng đắn về đổi mới phương pháp giảng dạy và định hướng, giúp đỡ giáo viên. Các công ty sách, thiết bị trường học nên làm chiếc cầu nối giúp giáo viên xây dựng kho cơ sở dữ liệu phong phú cho từng bài giảng bằng cách tập hợp những tư liệu hay, từ nhiều nguồn của các giáo viên tâm huyết như thầy Tuấn Anh. Lựa chọn tư liệu nào để đưa vào bài giảng là quyền của mỗi giáo viên. Ngành GD-ĐT cũng nên tạo cơ hội để các thầy cô trao đổi kinh nghiệm, học tập lẫn nhau. Có thế, phong trào đổi mới sẽ đi sâu hơn và rộng hơn.

Dạy học sinh tự nhận ra bài toán cuộc đời

Thời tôi đi dạy (những năm 1960-1970) chưa có phong trào đổi mới như bây giờ nhưng chúng tôi tự xác định trách nhiệm của mình: dạy làm sao để học sinh hiểu bài, để học sinh tiến bộ. Dạy không chỉ truyền đạt kiến thức mà phải làm các em thích môn học đó, cao hơn nữa là để các em áp dụng vào cuộc sống, để làm người. Tôi lấy ví dụ như môn toán của tôi: cho một phương trình mà học sinh giải được, tìm được đáp số đúng có nghĩa các em đã hiểu bài. Nhưng thế vẫn chưa đủ bởi sau này khi các em ra đời, không ai đưa sẵn phương trình cho các em giải cả. Người thầy giáo phải dạy các em biết tự phát hiện bài toán cần giải, để sau này các em tự nhận ra bài toán của cuộc đời mình và biết cách giải bài toán đó. Như thế các em mới thấy toán học có thể áp dụng vào cuộc sống, không phải là thứ “trên trời rơi xuống”.

TS Hồ Thiệu Hùng 

HOÀNG HƯƠNG thực hiện

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2008

Giải bài tập Phạm trù và Hàm tử

Phạm trù và Hàm tử là môn học cơ sở ở Cao học Toán. Đây là một môn học trừu tượng và khó. Hai cuốn bài tập (có lời giải chi tiết) dưới đây (của những người đi trước: Huỳnh Kỳ Anh - K13 và Phạm Đình Đồng - K16) sẽ giúp bạn vượt qua một số khó khăn khi học môn này.
Download hai tập tài liệu nhỏ này tại đây: Download (edited)

Bài liên quan: Một số sách Phạm trù và hàm tử

Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2008

Chuyện toán - Phần 4: "Cần một người thầy tâm huyết và một cách học hợp lý"

Cần một người thầy tâm huyết và một cách học hợp lý!
Lêôna Ơle, có lẽ sẽ không thể trở thành nhà toán học lỗi lạc đến thế nếu thiếu thời ông không gặp được người thầy tâm huyết. Khi còn đang học phổ thông tại trường trung học Baden, Ơle đã dành toàn bộ thời gian rỗi cho toán. Ông tham dự tất cả các bài giảng của giáo sư toán nổi tiếng Giôhan Bécnuli tại trường Đại học Baden. Giáo sư tức khắc nhận ra tài năng đặc biệt của Ơle và mời cậu đến nhà mình học thêm. Cách dạy thêm của Bécnuli cũng đặc biệt.
Ông không dạy trực tiếp mà hướng dẫn cậu học trò tự học. Và cứ mỗi tuần, vào ngày thứ 7, Ơle lại đến thầy để hỏi về những chỗ chưa hiểu trong các phần đã đọc. Ơle say mê và sung sướng với cách học như thế: “Cách học này giúp tôi mau chóng đạt được mục đích mong muốn. Mỗi lần giáo sư giúp tôi loại bỏ một vướng mắc, thì lập tức tôi vượt qua được hàng chục chướng ngại khác. Tất nhiên đó là phương pháp tốt nhất để đạt được những thành tựu khả quan trong toán học”. Bản thân Ơle về sau, ở nhiều bản thảo của mình, ngoài nội dung chính ông còn ghi chép tỉ mỉ quá trình làm việc, mày mò, suy nghĩ, vượt qua những khó khăn để đi tới kết quả. Đây chính là những tư liệu quý giá để người đi sau có thể nghiên cứu, học hỏi, rút kinh nghiệm. Điđơrô, nhà triết học nổi tiếng người Pháp, chủ biên bộ Bách khoa toàn thư đồ sộ từng phát biểu: “Tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả những gì mà tôi đã viết để chỉ lấy một trang trong các tác phẩm của ngài Ơle”.
Toán học dành cho người thân
Bledơ Paxcan (1623-1662) nhà toán học người Pháp, thời còn sinh viên, một lần đi chơi về rất khuya, Paxcan thấy bố mình vẫn chong đèn, cặm cụi đánh vật với phép cộng trừ của hàng nghìn con số. Paxcan nảy sinh ý tưởng và chỉ một thời gian sau cậu mang tặng bố một món quà đặc biệt. Cậu đã dồn bao tâm huyết vào món quà này và hy vọng nó sẽ giúp bố đỡ nhức đầu khi tính toán. Chiếc máy tính đầu tiên đã ra đời như thế, ra đời trong sự trìu mến và tình thương của người con dành cho người cha. Đừng bao giờ đánh mất niềm tin Lôbasépxki N. I. (1792-1856) nhà toán học người Nga, người đã sáng lập ra môn hình học Phi Ơclít, mở ra một kỷ nguyên mới cho toán học hiện đại. Thế nhưng, lúc sinh thời, lý thuyết này của ông không được người đời chấp nhận. Không một ai ủng hộ, chung quanh toàn là sự chế giễu, thờ ơ lãnh đạm, mà không chỉ một ngày, một thời mà kéo dài suốt cả cuộc đời của ông. Đặc biệt là vào cuối đời khi nhiều bất hạnh giáng xuống dồn dập: Con trai cả chết, ông bị bãi chức ở Đại học Kazan, tình hình kinh tế túng quẫn, nhưng ông không hề nao núng, vẫn tin tưởng ở khoa học. Trước khi từ giã cõi trần, ông bị mù nhưng vẫn không thôi nghiên cứu để hoàn thiện môn hình học Phi Ơclít của mình. Ông đã đọc cho học trò ghi một công trình mới “Siêu hình học”, trong đó ông chỉ rõ hình học Ơclít chỉ là mộ trường hợp riêng của hình học Phi Ơclít. Ông qua đời năm 1856 và phải hàng chục năm sau người ta mới thật sự công nhận đóng góp vỹ đại của ông cho toán học. Chính niềm tin đã khắc tên Lôbasépxki vào trang vàng của lịch sử toán học thế giới.
... Và lời nhắn gửi cuối cùng
Poaxông X. Đ. (1781-1840), nhà toán học người Pháp, là một người có nhiều phát minh quan trọng trong lĩnh vực cơ học thiên thể và cơ học lý thuyết, toán học lý thuyết và toán lý. Năm 59 tuổi, Poaxông ốm nặng, khó có thể qua khỏi. Gia đình và bạn bè tập trung bên giường bệnh hỏi ông có muốn nhắn lại điều gì không? Poaxông, người đã dành trọn cả cuộc đời cho toán học, chỉ nhắc lại: “Giá như tôi được sống thêm một cuộc đời nữa thì tôi cũng sẽ làm toán như tôi đã làm!”. Lời nhắn gửi của Poaxông cũng chính là điều mà chúng tôi tâm đắc. Mỗi người đều có một duyên phận. Nếu bạn được xe duyên với toán thì hãy dũng cảm đón nhận, sống hết mình, yêu hết mình và khi gặp khó khăn hãy nhớ lời khuyên của Giăng Đalămbe (1717-1783): “Hãy tiến lên, hãy tiến lên phía trước, rồi bạn sẽ có được niềm tin!”.
(Theo Nguyễn Như Mai, Lê Nguyên Long, Phạm Ngọc Toàn, Kể chuyện các nhà toán học, NXB Kim Đồng, 2007.)

Bài đăng phổ biến