Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử Toán học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử Toán học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

Giáo sư Hoàng Tụy được Giải thưởng Constantin Caratheodory

MATHVN vừa hay tin này trên blog của giáo sư Nguyễn Đăng Hưng. Xin trích bài đăng chúc mừng giáo sư Hoàng Tụy của GS Hưng:
Giáo sư Hoàng Tụy được Giải thưởng Constantin Caratheodory cho lĩnh vực Tối ưu toàn cục
Giáo sư Hoàng Tụy
Chúng tôi vừa được tin sáng nay là GS Hoàng Tụy đã được Giải thưởng Constantin Caratheodory. Đây chính là niềm vinh hạnh của giới khoa học Việt Nam, đặc biệt giới Toán học.
Lĩnh vực tối ưu toàn cục ngoài phần lý thuyết có phần ứng dụng có tác động rất lớn đến khoa học kỹ thuật hiện đại.
Riêng ứng dụng lý thuyết tối ưu vào lĩnh vực mô hình mô phỏng sẽ là cơ sở cho biết bao hướng phát triển trong tương lai trước mắt và lâu dài!
Đây thật là một tin vui, xác định chỗ đứng hàng đầu của GS Hoàng Tụy trong một hướng nghiên cứu mà tương sẽ rất là hoàng tráng.
Chúc GS Hoàng Tụy nhiều sức khỏe và tiếp tục là cây đại thụ của nền toán học Việt Nam, là chỗ tựa của trí thức Việt Nam

GS Nguyễn Đăng Hưng,
Sài gòn 22/9/2011

Đôi nét về giải thưởng Caratheodory
Nhà toán học Constantin Caratheodory

Giải thưởng Constantin Caratheodory do Tổ chức quốc tế Tối ưu toàn cục cứ hai năm một lần dành cho cá nhân hay tập thể xuất sắt có cống hiến căn bản cho lý thuyết, lập trình và ứng dụng trong lĩnh vực tối ưu toàn cục.

Giải có tên nhà toán học lừng danh Constantin Caratheodory người Hy Lạp (1873-1950), đặc biệt vinh danh những cống hiến đã qua được thử thách của thời gian. Tiêu chuẩn bao gồm tính xuất sắc, độc đáo, ý nghĩa, chiều sâu mà ảnh hưởng của cống hiến khoa học. Giải “Constantin Caratheodory Prize” vừa được Tổ chức quốc tế Tối ưu Toàn cục, đề xướng năm nay 2011. Việc bầu chọn đã xảy ra tại Hội nghị Tối ưu Toàn cục tổ chức tại CHANIA, Hy Lạp từ ngày 3 đến ngày 7 tháng bảy 2011, vừa qua.

GS Hoàng Tụy người được giải đầu tiên cũng chính là người đã có những công trình căn bản và khai sáng cho lĩnh vực Tối ưu Toàn cục.

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2011

Google kỷ niệm ngày sinh của Fermat với logo ấn tượng

Hôm nay, 17/8, các trang chủ Google đều đồng loạt đăng logo mới vẽ hình chiếc bảng với định lý nổi tiếng trong lịch sử toán học nhằm kỷ niệm 410 năm ngày sinh nhà Toán học vĩ đại Pierre de Fermat (17/08/1601 – 17/08/2011 ).
Logo Google ngày 17/8/2011
Chính Fermat là người sáng lập lý thuyết số hiện đại, trong đó có 2 định lý nổi bật: định lý nhỏ Fermat và định lý lớn Fermat (định lý cuối cùng của Fermat).
Định lý cuối của Fermat là một trong những định lý nổi tiếng trong lịch sử toán học. Định lý này phát biểu như sau:
Không tồn tại các nghiệm nguyên khác không x, y, và z thoả x^n + y^n = z^n trong đó n là một số nguyên lớn hơn 2.
Một con tem về Fermat
Gắn liền với định lý này là câu truyện rất hay, đó là Fermat cho rằng không thể tìm được nghiệm (nguyên) cho phương trình bậc ba. Điều lý thú ở đây là phỏng đoán này được Fermat ghi bên lề một cuốn sách mà không chứng minh, nhưng có kèm theo dòng chữ: “Tôi có một phương pháp rất hay để chứng minh cho trường hợp tổng quát, nhưng không thể viết ra đây vì lề sách quá hẹp.”

Định lý này đã thách thức các nhà toán học gần 4 thế kỷ, và cuối cùng nhà toán học Andrew Wiles (một người Anh, định cư ở Mỹ, sinh 1953) sau 7 năm làm việc trong cô độc và 1 năm giày vò trong cô đơn đã công bố lời giải độc nhất vô nhị vào mùa hè năm 1993 và sửa lại năm 1995, với lời giải dài 200 trang.

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

PI - một con số sai lầm

Khi nói đến việc tính toán với đường tròn người ta liên tưởng ngay đến số pi. Hằng năm có cả 2 ngày để vinh danh nó là 14.3 hoặc ngày 22.7 vì giá trị của pi là 3,14159… hoặc 22:7.
PI - một con số sai lầm
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia toán học cho rằng số lượng ngỡ như hằng số để tham chiếu khi tính toán từ chu vi đến diện tích đường tròn là sai và cần phải thay thế bằng một giá trị khác gọi là “tau” (τ - người Việt vẫn thường phát âm là "tô").

Các nhà toán học đã mở đợt vận động để các sách giáo khoa được viết lại để sử dụng tau mà giá trị vào khoảng 6,28, tức là gấp đôi số pi hiện có. Thậm chí nhiều người hăng hái tuyên bố cũng có ngày dành để tôn vinh giá trị tau là 28.6 hằng năm.

Giáo sư toán học Kevin Houston tại Đại học Leeds nói rằng, đã nhiều năm các nhà khoa học nhận ra rằng pi không phải là con số tự nhiên nhất khi chúng ta liên kết đến một đường tròn. Số lượng thích hợp hơn phải là 2pi, hay tau. Trên thực tế tau đã được ứng dụng tính toán trong các phương trình khoa học và kỹ thuật. Ông nhấn mạnh rằng các nhà toán học ngày nay không đo góc đường tròn bằng độ một cách thông thường mà đo góc bằng radian và có 2pi radian trong một đường tròn. Do vậy khi cần tính một phần tư đường tròn thì người ta phải dùng đến nửa pi hoặc một phần tư của 2pi radian.

Theo báo Daily Mail, tiến sĩ Houston đã sáng tác một đoạn video rồi đưa lên trang mạng YouTube để chứng minh dùng tau tối ưu hơn pi trong nhiều trường hợp nghiên cứu khoa học.

Quay trở lại lịch sử, được biết rằng pi có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “perimeter”, có nghĩa là đường tròn và nhà toán học William Jones đã tách chữ cái đầu tiên của từ này để đặt tên cho pi vào năm 1706. Xa hơn nữa thì người Ai Cập cổ đại và người Babylon cũng đã biết giá trị gần đúng của số pi, trong khi đó thì một phiên bản khác cũng xuất hiện trong Kinh thánh.

Xem đoạn video của Kevin Houston nói rằng pi là một con số sai lầm dưới đây:


MathVn.Com (Video: YouTube, Tin: Thanh Niên)

Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011

Vai trò của toán học trong sự hình thành thế giới quan duy vật

 Triết học là thành tựu nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo con người và loài người nói chung. Quá trình hình thành và phát triển của triết học diễn ra quanh co, phức tạp và lâu dài. Trong quá trình đó, toán học đã đóng góp một phần rất quan trọng. Trong phạm vi bài này, chúng tôi làm sáng tỏ vai trò của toán học trong việc hình thành và phát triển thế giới quan duy vật thông qua lịch sử toán học.

Triết học là thành tựu nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo con người và loài người nói chung. Quá trình hình thành và phát triển của triết học diễn ra quanh co, phức tạp và lâu dài. Trong quá trình đó, toán học đã đóng góp một phần rất quan trọng. Trong phạm vi bài này, chúng tôi làm sáng tỏ vai trò của toán học trong việc hình thành và phát triển thế giới quan duy vật thông qua lịch sử toán học.

Nhìn vào quá trình phát triển của toán học có thể chia lịch sử của nó làm ba thời kỳ lớn: Thời kỳ cổ đại hay toán học sơ cấp, toán học về các đại lượng bất biến (từ thế kỷ thứ V trước công nguyên đến thế kỷ XVII). Thời kỳ cổ điển hay toán học về các đại lượng biến đổi (từ thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX). Thời kỳ hiện đại hay toán học về các vấn đề cấu trúc (từ cuối thế kỷ XIX đến nay). Sự kế tiếp của mỗi thời kỳ tuân theo một logic nhất định phản ánh tiến trình phát triển nội tại của toán học và của những nhân tố bên ngoài, trong đó có các quan điểm thế giới quan khác nhau, tác động vào nó. Cũng như các tri thức khác, sự phát triển của tri thức toán học mang tính biện chứng sâu sắc. Nó là quá trình vừa kế thừa vừa đổi mới về chất giữa các thời kỳ. Vì vậy các tri thức toán học ở thời kỳ sau chung hơn, sâu sắc hơn, đa dạng hơn thời kỳ trước và bao quát nó như trường hợp riêng. Vậy trong từng thời kỳ, toán học đã góp phần hình thành luận chứng cho các thế giới quan duy vật nói chung và triết học biện chứng nói riêng như thế nào?

Thời kỳ đầu, thời kỳ của toán học về các đại lượng bất biến, tức là các đại lượng lấy những giá trị cố định. Trước hết, toán học đã đóng góp vào sự hình thành cơ sở của lôgic hình thức, nhờ vậy tư duy có lập luận chính xác, chặt chẽ. Điều đó góp phần hình thành nên các nguyên tắc của tư duy khoa học. Thí dụ từ quan hệ a=b, b=c suy ra a=c. Tuy nhiên, khái niệm bằng nhau ở đây là bất biến, bất động, cố định.

Đối với các lĩnh vực tri tứhc khác, ở thời kỳ này mới chỉ có cơ học và thiên văn học là tương đối phát triển. Toán học đã thông qua hai khoa học này góp phần vào cuộc cách mạng của Copecních thay hệ địa tâm bằng hệ nhật tâm. Sự phát triển của một thế giới quan mới gắn liền với cuộc cách mạng mà Copecních thực hiện đòi hỏi phải có một nền toán học mang những tư tưởng mới về chất ra đời (đó là toán học về các đại lượng biến đổi ở thời kỳ cổ điển). Tuy nhiên, ở thời kỳ này, các quan niệm của cơ học Niutơn chi phối hầu hết cách xem xét các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh. Do cơ học Niutơn lấy số lượng bất biến, cố định của toán học làm chuẩn mực để tính toán khối lượng của nó, nên quan điểm này tạo cơ sở cho hình thành chủ nghĩa duy vật siêu hình máy móc. Thế giới quan của chủ nghĩa duy vật siêu hình máy móc đã ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển của toán học và các lĩnh vực khác của khoa học tự nhiên. Mặt khác, những thành tựu trong sự phát triển của số học, hình học cũng đã tạo ra mối liên hệ đầu tiên với những quan niệm của phép biện chứng ngây thơ cổ đại. Chẳng hạn, vấn đề quan hệ giữa số thực và số ảo, giữa vô hạn và hữu hạn... Như vậy ở thời kỳ này, mặc dù toán học có đóng góp vào sự hình thành và phát triển một số yếu tố biện chứng, song nhìn chung nó chỉ dừng lại ở việc góp phần hình thành và củng cố thế giới quan chủ nghĩa duy vật siêu hình máy móc. Do sự phát triển của thực tiễn và nhận thức, tất yếu dẫn tới sự ra đời của toán học về các đại lượng biến đổi.

Ở thời kỳ này, các nhà kinh điển chú ý đến toán học, trước hết vì những tư tưởng về vận động, về các mối liên hệ, được phát triển trong toán học sớm hơn ở các khoa học tự nhiên thực nghiệm khác. F. Enghen đã đánh giá: “Đại lượng biến đổi của Đềcác đã đánh dấu một bước ngoặt trong toán học. Nhờ đó mà vận động và biện chứng đã đi vào toán học và phép tính vi phân và tích phân lập tức trở thành cần thiết.” (1). Thật vậy, trong lập luận của giải tínc toán và phép tính vi phân, người ta đã dùng các khái niệm như hàm số, giới hạn, liên tục, gián đoạn vô hạn, hữu hạn... Rõ ràng, toán học đã nghiên cứu về sự vận động, về các mối liên hệ ở những khía cạnh rất quan trọng. Có thể nói rằng, tư tưởng vận động, về liên hệ của toán học đã góp phần thay đổi về chất tư duy khoa học. Ở thời kỳ trước cổ điển, lôgic hình thức và cơ học Niuton chịu sự chi phối của các khái niệm, phạm trù bất biến cố định của toán học sơ cấp. Với tư tưởng vận động, liên hệ của toán học, người ta có một quan niệm mềm dẻo hơn đối với các hình thức của tư duy nói chung và của các phạm trù bất biến trong logic hình thức nói riêng. Ví dụ, để đo được độ dài của đường cong, ta phải xem đường cong là giới hạn của những đường thẳng.... Vì vậy, tư tưởng vận động, liên hệ của toán học là một trong các nguồn gốc đẻ ra tư duy biện chứng. Nó góp phần hình thành bước đầu cơ sở khoa học của logic biện chứng. Còn đối với khoa học tự nhiên thì sao?

Vào thời kỳ trước đó, do những điều kiện lịch sử nhất định, thế giới quan siêu hình máy móc đang thống trị trong khoa học tự nhiên, sự ra đời và phát triển tư tưởng vận động, liên hệ của toán học đã giáng một đòn mạnh mẽ vào thế giới quan siêu hình “mà điểm trung tâm là quan niệm về tính bất di bất dịch tuyệt đối của tự nhiên” (2). Thật vậy, sự ra đời của phép tính vi phân, giải tích toán học đã tạo cho các nhà khoa học một phương tiện mới trong nhận thức về các hiện tượng, sự vật, quá trình trong tự nhiên. Nhờ đó, người ta mới phát hiện ra định luật vạn vật hấp dẫn ở thế kỷ XVII, quy luật truyền sóng và truyền nhiệt ở thế kỷ XVIII. Sự ra đời thuyết tương đối của Anhxtanh ở thế kỷ XIX chính là nhờ sự phát triển từ trước của hình học phi Ơclít. Như vậy, toán học đã thông qua vật lý học, đóng góp vào cuộc cách mạng thế giới quan, thay chủ nghĩa duy vật siêu hình máy móc dựa trên cơ học Niutơn (với đặc điểm là khối lượng bất biến, không gian và thời gian tách biệt nhau) bằng chủ nghĩa duy vật biện chứng mà sự ra đời của thuyết tương đối Anhxtanh và những lý thuyết khoa học hiện đại khác là ví dụ (với đặc điểm là khối lượng, không gian và thời gian không tách rời nhau).

Một thành tựu quan trọng khác của toán học thời kỳ này là sự ra đời của tưởng thống kê – xác suất. Tư tưởng thống kê – xác suất khẳng định sự tồn tại khách quan của cái ngẫu nhiên. Thế giới không chỉ có những cái tất nhiên mà có cả những cái ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên và tất nhiên liên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau. Tư tưởng thống kê- xác suất cho ta một quan niệm mới mềm dẻo và chính xác hơn về sự phụ thuộc lẫn nhau, giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình. Nó vượt hơn hẳn quan điểm quyết định luận chặt chẽ coi sự phụ thuộc liên hệ giữa các sự vật chỉ là đơn tại chặt chẽ và tính tất nhiên thống trị tuyệt đối trong giới tự nhiên. Sự tồn tại cái ngẫu nhiên bổ sung vào bức tranh khoa học chung về thế giới.

Như vậy, các tư tưởng vận động, liên hệ và thống kê – xác suất đã góp phần hình thành tư duy biện chứng và là cơ sở khoa học để luận chứng cho thế giới quan duy vật biện chứng. Tuy nhiên, toán học thời kỳ này cũng mang những hạn chế nhất định. Nó chưa đáp ứng được những nhu cầu của nền sản xuất từ cơ khí hoá chuyển sang nền sản xuất tự động hoá, của sự phát triển khoa học từ giai đoạn phân tích, thực nghiệm sang khoa học liên ngành tổng hợp ở trình độ lý thuyết. Những đòi hỏi ấy tất yếu dẫn toán học tới một thời kỳ phát triển mới – toán học nghiên cứu các cấu trúc và thuật toán.

Trong giai đoạn hiện đại, thành tựu nổi bật của toán học thời kỳ này là tư tưởng cấu trúc. Thực chất của tư tưởng này là cho phép ta tiếp cận một cách trừu tượng và khái quát các đối tượng có bản chất rất khác nhau để vạcg ra quy luật chung của chúng. Nói theo ngôn ngữ toán học, tức là có sự tương tự về cấu trúc hay sự đẳng cấu giữa các lĩnh vực có bản chất khác nhau. Có thể nói rằng tư tưởng cấu trúc là một trong những cơ sở lý luận cho sự ra đời của các khoa học tổng hợp như logic toán, điều khiển học, tin học, toán lý, toán sinh, toán kinh tế... Về phương diện thực tiễn, trên cơ sở sự tương tự về cấu trúc giữa các quá trình diễn ra trong giới tự nhiên vô sinh, sự sống và xã hội (tư duy) người ta đã chế tạo ra hệ thống máy tự động, hoạt động theo cơ chế tương tự bộ não và các giác quan con người.

Như vậy cả về phương diện lý luận và thực tiễn, toán học hiện đại đóng vai trò nền tảng trong quá trình nhất thể hoá các khoa học. Hơn nữa, tư tưởng cấu trúc của toánd học còn phản ánh sâu sắc sự thống nhất vật chất của thế giới. Sự thống nhất của toán học với thế giới quan triết học biểu hiện ở chỗ chúng xác nhận những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy vật: tư tưởng về sự thống nhất vật chất của thế giới và tính có thể nhận thức được của thế giới đó. Các khoa học khác như vật lý học, sinh học đã có những đóng góp quan trọng vào việc luận chứng cho sự thống nhất này. Có thể nói rằng cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn các lý thuyết toán học ngày càng có khả năng đi sâu vào việc luận chứng cho tư tưởng về sự thống nhất vật chất của thế giới. Chẳng hạn, cùng một phương trình có thể diễn tả sự phân huỷ chất phóng xạ, sự sinh sản của vi khuẩn, sự tăng trưởng của nền kinh tế... Như vậy, tư tưởng cấu trúc của toán học hiện đại góp phần quan trọng vào sự nhận thức những cơ sở nền tảng của sự tổng hợp tri thức vốn chứa đựng nội dung thế giới quan, phương pháp luận sâu sắc. Đồng thời nó là một trong những cơ sở khoa học để luận chứng cho thế giới quan duy vật biện chứng về sự thống nhất vật chất của thế giới.

Những kết quả trên đây được củng cố vững chắc hơn khi xem xét ảnh hưởng của toán học đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên hiện đại, đặc biệt đối với những ngành tiếp cận thế giới vi mô. Dựa vào sự tương tự về cấu trúc, người ta phát hiện ra mối liên hệ, quan hệ và sự thống nhất giữa các lý thuyết vật lý khác nhau. Đặc biệt, trên cơ sở những lý thuyết hình thức (trừu tượng) của toán học, người ta đã phát hiện ra những hạt mới trước khi chúng được phát hiện nhờ thực nghiệm. Điển hình là việc phát hiện ra pozitron trong cơ học lượng tử nhờ biểu diễn nó bằng một phương trình z căn bậc hai. Phương trình này lúc đầu cho ta căn cứ để dự đoán ngoài electron còn tồn tại một hạt khác có một số tính chất vừa giống điện tử nhưng lại vừa khác điện tử về dấu của điện tích. Đó là pozitron. Dự đoán này đã trở thành hiện thực. Về sau các phản hạt của phần lớn các hạt cũng được tìm ra bằng cách tương tự như pozitron. Khả năng vượt trước của toán học đã luận chứng, hoàn thiện, cụ thể hoá quan điểm của chủ nghĩa duy vật về điện tử là vô cùng vô tận. Các cuộc cách mạng trong hoá học (hoá học lượng tử), trong sinh học (lý thuyết di truyền), sinh học phân tử... đều dựa vào những thành tựu của toán học hiện đại. Đối với khoa học nhân văn, khả năng hình thành toán kinh tế, toán tâm lý, toán xã hội... sẽ góp phần củng cố thế giới quan duy vật biện chứng trong nhận thức nhân văn và xã hội.

Ở trên là ảnh hưởng của toán học dẫn đến hình thành và củng cố thế giới quan triết học. Ngược lại, triết học khoa học của toán học đã tác động tích cực đến sự phát triển của toán học, trước hết dẫn đến một số khuynh hướng nghiên cứu toán học. Ví dụ, khuynh hướng tìm kiếm các cấu trúc toán tương ứng với quan hệ không tuyển (vừa là... vừa là, chẳng hạn vừa là sóng, vừa là hạt) là một trong những đặc điểm nổi bật của các hệ thống phức tạp trong giới tự nhiên sống và xã hội. Quan điểm “tập hợp mờ” tức là tập hợp toán trong ranh giới giữa các phân tử không rõ ràng của lade, cho đến cái gọi là “toán học của sự phát triển” (khuynh hướng toán học về sự tiến hoá của sự sống). Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng chủ nghĩa duy tâm cũng đã lợi dụng những thành tựu của toán học hiện đại vì những mưu đồ đen tối của nó. Bên cạnh đó cũng có những sự giải thích lệch lạc của chủ nghĩa duy vật không biện chứng trong khi lĩnh hội, kiến giải và sử dụng các thành tựu toán học. Những sự giải thích như vậy chỉ nhằm mưu đồ phủ nhận triết học khoa học, xoá nhoà mối liên hệ, quan hệ giữa triết học khoa học với toán học hiện đại.

Từ toàn bộ sự phân tích trên chúng tôi đã rút ra một số kết luận:

Toán học các đại lượng bất biến là cơ sở cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình: Nó có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển của khoa học ở giai đoạn đầu tiên. Nó cũng góp phần khẳng định thế giới quan duy vật, chống lại thế giới quan tôn giáo – kinh viện.
Toán học các đại lượng biến đổi, trước hết là tư tưởng vận động, là một trong các nguồn gốc đẻ ta tư duy biện chứng và là cơ sở khoa học để hình thành và luận chứng cho thế giới quan duy vật biện chứng trong giới tự nhiên vô sinh.
Toán học hiện đại hoàn thiện một cách sâu sắc thế giới quan duy vật biện chứng trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó góp phần củng cố hoàn thiện và phát triển thế giới quan duy vật biện chứng.
Đồng thời cũng phải thấy rằng, mặc dù toán học mang tính độc lập tương đối của tư duy trừu tượng và hình thức, triết học duy vật biện chứng luôn luôn là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn cho sự phát triển của toán học.

Như vậy, lịch sử phát triển toán học chứng minh rằng sự phát triển của toán học góp phần vào sự hình thành, luận chứng, củng cố, hoàn thiện thế giới quan khoa học mà nền tảng của nó là triết học duy vật nói chung, triết học duy vật biện chứng nói riêng. Mối quan hệ giữa toán học và triết học duy vật biện chứng là mối quan hệ khách quan, hợp quy luật trong tiến trình phát triển nhận thức của con người.

Bài học thực tiễn mà chúng tôi muốn rút ra ở đây trong quá trình cải cách giáo dục ở phổ thông, đại học và các trường dạy nghề là hình thành thế giới quan duy vật biện chứng trong giảng dạy toán học. Điều đó giúp cho thế hệ trẻ có một cách nhìn, cách xem xét hiện thực, thực tiễn hơn về lĩnh vực chuyên môn của mình. Từ đó tạo ra hiệu quả cao nhât trong học tập và công tác.

VnTOanhoc

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

Hiệu ứng con bướm (Con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra cơn bão lớn ở Texas)

Hieu ung con buom
Bất chấp hàng loạt lý thuyết ra đời trong thế kỷ 20 dẫn tới những cuộc cách mạng đảo lộn vũ trụ quan cổ điển, đến nay tư tưởng chủ đạo của khoa học vẫn là chủ nghĩa tất định (determinism) – tư tưởng cho rằng vũ trụ vận hành theo những quy luật xác định và do đó, về nguyên tắc, khoa học phải dự báo được tương lai một cách chính xác. Nhưng thực ra Tự Nhiên phức tạp, hỗn độn (chaotic) và khó dự đoán hơn ta tưởng rất nhiều: Tính ngẫu nhiên và bất định không chỉ tác động trong thế giới lượng tử, mà ngay cả trong những hệ phức tạp (complex systems) của thế giới vĩ mô. Bản chất bất định và hỗn độn của Tự Nhiên đã được Lý thuyết hỗn độn (Theory of Chaos) mô tả một cách ẩn dụ bởi “Hiệu ứng con bướm” (Butterfly Effect): “Một con bướm vỗ cánh ở Tokyo có thể dẫn tới hậu quả là một cơn bão ở Florida một tháng sau đó(1).
Lý thuyết hỗn độn đang ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, bởi vì người ta khám phá ra rằng có rất nhiều hệ phức tạp trong tự nhiên và xã hội chịu sự tác động của “hiệu ứng con bướm”: Từ cơ học thiên thể cho tới các chương trình computers, vấn đề dự báo thời tiết, vấn đề môi trường toàn cầu, hệ thống mạch điện, hiện tượng bùng nổ dịch bệnh, bùng nổ dân số, khủng hoảng kinh tế, vấn đề hoạch định chính sách, v.v.
Tuy phải đợi tới những năm 1960 thì hiện tượng hỗn độn mới được nghiên cứu thành những lý thuyết hệ thống, nhưng thực ra nó đã được khám phá lần đầu tiên từ cuối thế kỷ 19 bởi nhà toán học lừng danh Henri Poincaré – người được gọi là “Mozart của toán học” và là một trong những nhà toán học vĩ đại nhất của mọi thời đại.
1* Henri Poincaré và “bài toán ba vật thể”:
“Bài toán ba vật thể” (Three body problem) do Isaac Newton nêu lên từ năm 1687 trong tác phẩm Principia (Nguyên lý) nhằm nghiên cứu chuyển đông của các thiên thể trong mối quan hệ tương tác hấp dẫn giữa chúng:
Hãy xác định vị trí của 3 vật thể chuyển động trong không gian nếu biết vị trí ban đầu của chúng.
Thoạt nghe, bài toán có vẻ khá đơn giản, nhưng thực ra lại phức tạp và khó đến mức thách thức những bộ óc siêu việt nhất của nhân loại.
Các nhà toán học vĩ đại như Euler, Lagrange, … đã từng lao vào giải, nhưng chỉ tìm được lời giải cho những trường hợp đặc biệt. Đến cuối thế kỷ 19 vẫn chưa có ai tìm được lời giải cho trường hợp tổng quát với n vật thể.
Năm 1887, nhà toán học Gosta Mittag Leffler đã kiến nghị với vua Thụy Điển và Na-uy lúc đó là Oscar II nên mở cuộc thi giải “bài toán ba vật thể” dưới dạng tổng quát để mừng sinh nhật lần thứ 60 của chính nhà vua vào năm 1889. Vua Oscar II chuẩn y và ban bố cuộc thi: Số tiền thưởng không lớn lắm (chỉ bằng khoảng một nửa tiền lương hàng năm của một viện sĩ hàn lâm), nhưng danh dự rất lớn – người thắng cuộc sẽ được coi là người giỏi nhất trong số những người giỏi nhất!
Nhà toán học Pháp Henri Poincaré, lúc ấy 33 tuổi, đang nổi lên như một trong những ngôi sao sáng nhất trên bầu trời toán học, đã mất tới 3 năm trời để giải bài toán, để rồi gửi tới hội đồng giám khảo một lời giải dài dòng và phức tạp đến nỗi hội đồng này không hiểu. Họ đề nghị ông giải thích. Poincaré liền gửi tới hội đồng một bản bình luận tiếp theo dài tới 100 trang để giải thích lời giải của ông. Sau khi hiểu được lời giải, hội đồng giám khảo quyết định trao tặng giải thưởng cho Poincaré. Đó là một sự kiện khoa học gây chấn động dư luận cuối thế kỷ 19.
Nhưng dư luận còn bị chấn động hơn nữa khi lời giải được công bố chính thức trên tạp chí Acta Mathematica (một trong những tạp chí uy tín nhất thời đó), bởi lẽ trong lời giải mới này, Poincaré đã chỉ ra sai lầm của chính ông trong lời giải đã đoạt giải thưởng trước đó:




Đó là một sai lầm về hình học – trong số các trường hợp hình học có thể xẩy ra, ông đã bỏ sót một trường hợp mà ông nghĩ rằng không quan trọng.
May mắn làm sao, và thú vị làm sao, khi nghiên cứu lại lời giải để gửi tới tạp chí, ông đã phát hiện ra trường hợp bị bỏ sót này. Càng nghiên cứu kỹ ông càng nhận thấy trường hợp bị bỏ sót này hoá ra lại quan trọng và thú vị hơn rất nhiều so với ông tưởng, bởi nó dẫn tới một kiểu chuyển động vô cùng phức tạp và kỳ lạ: Một trong các vật thể có xu hướng chuyển động hầu như ngẫu nhiên (không tuân theo một hướng xác định nào cả).
Đó là điều không thể tin được và cũng không thể hiểu được, vì hệ phương trình do ông thiết lập để giải bài toán là một hệ xác định, và do đó kết quả phải xác định, không thể là ngẫu nhiên. Nhưng trước một lời giải tự nó nói lên một sự thật khác thường, Poincaré nhận thấy một điều vô cùng quan trọng mà trước đó chưa ai nhận thấy: Nếu kết quả không phải là ngẫu nhiên thì ít nhất nó cũng không có một cấu trúc rõ ràng!
Poincaré dừng lại bài toán ở chỗ đó, rồi thốt lên: “Tôi không biết phải làm gì với kết quả này” (I don’t know what to do with this).
Lúc Poincaré dừng lại chính là lúc ông đã vô tình khép lại cánh cửa của Chủ nghĩa tất định và mở ra cánh cửa của Lý thuyết hỗn độn, mặc dù phải chờ tới năm 1963 thì Lý thuyết hỗn độn mới chính thức bước lên diễn đàn khoa học, nhờ khám phá ngẫu nhiên của nhà khí tượng học Edward Lorenz
2* Khám phá ngẫu nhiên của Edward Lorenz:
Năm 1961, nhà khí tượng học Edward Lorenz đã thiết lập một hệ phương trình toán học để mô tả một dòng không khí chuyển động, lúc dâng cao, lúc hạ thấp tuỳ theo mức độ bị đốt nóng bởi ánh nắng mặt trời.
Sau đó ông mã hoá hệ phương trình này để tạo ra một chương trình chạy trên computer, nhằm nghiên cứu một mô hình dự báo thời tiết.
Vì chương trình viết cho computer bao gồm những phương trình toán học và những mã lệnh hoàn toàn xác định nên Lorenz nghĩ rằng trong những lần chạy thử chương trình trên máy, nếu “input” (dữ liệu đầu vào của chương trình) hoàn toàn giống nhau thì đương nhiên “output” (kết quả ở đầu ra) cũng phải hoàn toàn giống nhau.
Nhưng một lần, sau khi nạp vào chương trình những dữ liệu ban đầu mà ông nghĩ rằng giống hệt như những lần trước, rồi sau đó cho chương trình chạy thử, ông sững sờ ngạc nhiên khi thấy kết quả ở đầu ra hoàn toàn khác biệt – khác một cách nghiêm trọng so với những lần chạy trước đó.
Kiểm tra lại toàn bộ hoạt động của computer một cách kỹ càng, từ phần cứng tới phần mềm, Lorenz không tìm thấy bất cứ một sai sót nào, ngoài một chi tiết mà trước đó ông tưởng là một sai lệch không đáng kể: Đó là một thay đổi vô cùng nhỏ trong một dữ liệu, số 0,506127 được làm tròn thành 0,506.
Theo quán tính tư duy khoa học trước đó, một sai lệch vô cùng nhỏ ở đầu vào sẽ không có ảnh hưởng gì đáng kể ở đầu ra. Quán tính tư duy này sẽ đúng nếu đối tượng khảo sát chưa đạt tới mức độ đủ phức tạp. Nhưng hệ thống dự báo thời tiết là một hệ thống phức tạp, nên quán tính tư duy nói trên không còn đúng nữa.
Thật vậy, trực giác đã mách bảo Lorenz rằng một sai lệch vô cùng nhỏ trong dữ liệu ở đầu vào của chương trình dự báo thời tiết của ông có thể dẫn tới một sai lệch khổng lồ ở kết quả đầu ra. Ông lập tức tiến hành nhiều thử nghiệm tương tự để đi tới khẳng định kết luận của mình, rồi công bố khám phá trên các tạp chí khoa học. Một loạt các nhà khoa học khác trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau lập tức tiến hành những thử nghiệm tương tự, và cuối cùng đều đi tới chỗ xác nhận quan điểm của Lorenz. Từ đó, Lý thuyết hỗn độn chính thức bước lên diễn đàn khoa học.
Năm 1975, Benoit Maldenbrot cho ra đời cuốn “The Fractal Geometry of Nature” (Hình học fractal của Tự Nhiên), được đánh giá là một lý thuyết kinh điển về hỗn độn.
Tháng 12 năm 1977, Viện hàn lâm khoa học New York (New York Academy of Sciences) lần đầu tiên tổ chức hội nghị về lý thuyết hỗn độn, tập hợp các nhà nghiên cứu lý thuyết hỗn độn xuất sắc nhất trên toàn thế giới, như:
-David Ruelle, nhà toán học-vật lý người Bỉ-Pháp, chuyên về vật lý thống kê và các hệ động học,
-Robert May, nguyên chủ tịch Hội hoàng gia Anh, giáo sư Đại học Sydney và Đại học Princeton, chuyên áp dụng lý thuyết hỗn độn để nghiên cứu bệnh dịch và tính đa dạng của các quần thể sinh học phức tạp,
-James York, chủ nhiệm khoa toán thuộc Đại học Marryland ở Mỹ là người đầu tiên gieo thuật ngữ “chaos” (hỗ độn) vào trong thế giới toán học và vật lý,
-Robert Shaw, nhà vật lý Mỹ đã áp dụng Lý thuyết hỗn độn để nghiên cứu các kết quả ở đầu ra của máy quay roulette tại các sòng bạc, ….
Chính trong bối cảnh khám phá ra hàng loạt hiện tượng hỗn độn trong các hệ phức tạp của Tự Nhiên và xã hội, các nhà khoa học mới nhận ra rằng ngay từ hơn 60 năm trước, chính Henri Poincaré đã là người đầu tiên khám phá ra bản chất hỗn độn của các hệ phức tạp khi ông giải “bài toán n vật thể”: Thay vì chứng minh tính ổn định động học của hệ n vật thể, ông đã khám phá ra tính bất ổn định của các hệ động lực học phức tạp. Ngay nay khoa học đã biết rằng tính bất ổn định này xuất phát từ tính bất định trong các phép đo dữ kiện ban đầu.
3* Tính bất định của các phép đo:
Một trong những nguyên lý cơ bản của khoa học thực nghiệm là ở chỗ không có một phép đo nào trong thực tế có thể đạt tới độ chính xác tuyệt đối. Điều đó có nghĩa là các phép đo phải chấp nhận một mức độ bất định nào đó. Dù cho công cụ đo lường có hoàn hảo đến mấy thì mức độ chính xác cũng chỉ đạt tới một giới hạn nhất định. Về lý thuyết, muốn đạt tới độ chính xác tuyệt đối thì công cụ đo lường phải đưa ra những con số có vô hạn chữ số. Điều này là bất khả.
Nhưng người ta cho rằng sử dụng những công cụ đo lường hoàn hảo hơn, có thể giảm thiểu tính bất định xuống tới một mức độ nào đó có thể chấp nhận được, tùy theo mục tiêu của bài toán, mặc dù về nguyên tắc, không bao giờ triệt tiêu được tính bất định đó.
Khi nghiên cứu chuyển động của các vật thể dựa trên các định luật của Newton, tính bất định trong các dữ kiện ban đầu được coi là khá nhỏ, không ảnh hưởng tới kết quả dự đoán xẩy ra trong tương lai hoặc quá khứ.
Quả thật, dựa trên các định luật của Newton, Urbain Le Verrier đã tiên đoán chính xác sự tồn tại của hành tinh Neptune (Hải vương tinh). Những sự kiện tương tự như thế đã làm nức lòng người, củng cố niềm tin vào Chủ nghĩa tất định: Vũ trụ vận hành giống như một “chiếc đồng hồ Newton” (Newtonian clock), và do đó có thể dự báo tương lai một cách chính xác.
Nếu xuất hiện kết quả bất định trong các hệ động học, thì chắc chắn nguyên nhân xuất phát từ tính bất định trong các phép đo dữ kiện ban đầu, thay vì các phương trình chuyển động, bởi vì các phương trình này là hoàn toàn xác định. Và từ lâu người ta đã cho rằng nếu giảm thiểu đến mức tối đa tính bất định trong các phép đo thì con người sẽ có thể đưa ra những dự báo chính xác đến mức tối đa.
Nhưng Chủ nghĩa tất định đã lầm: Những hệ động học phức tạp mang tính bất ổn định ngay từ trong bản chất của chúng.
4* Tính bất ổn định động lực học:
Trong “Bài toán n vật thể”, hệ phương trình chuyển động của các vật thể do Poincaré thiết lập hoàn toàn dựa trên các định luật Newton, và do đó là hoàn toàn xác định. Cụ thể, nếu biết vị trí, tốc độ của các vật thể tại một thời điểm cho trước, hoàn toàn có thể xác định được vị trí và tốc độ của các vật thể tại một thời điểm khác trong tương lai hoặc quá khứ.
Nhưng vì không thể xác định vị trí và tốc độ của các vật thể tại một thời điểm cho trước một cách chính xác tuyệt đối nên luôn luôn tồn tại một mức độ thiếu chính xác nào đó trong các dự báo thiên văn dựa trên các định luật Newton.
Tuy nhiên, trải qua hàng trăm năm kể từ khi các định luật Newton ra đời cho đến trước khi lời giải “Bài toán n vật thể” của Poincaré được công bố chính thức, trong giới vật lý và thiên văn đã tồn tại một “thoả thuận ngầm”: Sự thiếu chính xác tuyệt đối trong các dự báo thiên văn là một vấn đề nhỏ, bởi vì với tiến bộ không ngừng của công nghệ đo lường, sự thiếu chính xác này sẽ được giảm thiếu đến mức tối đa. Nói cách khác, người ta đã ngầm hiểu rằng giảm thiểu tính bất định của dữ kiện ban đầu thì cũng giảm thiểu tính bất định trong kết quả dự đoán. Tiến sĩ Matthew Trump tại Trung Tâm Ilya Prigorine tại Đại học Texas ở Austin gọi đó là quy luật “srhink-shrink” (giảm-giảm). Nhưng Poincaré đã tạo nên một cú shock khi chỉ ra rằng quy luật đó không còn đúng đối với những hệ thiên văn phức tạp!
Xin độc giả đọc kỹ ý kiến của Matthew Trump như sau:
Những hệ thiên văn điển hình không tuân thủ quy luật nói trên là hệ chứa ba hoặc nhiều hơn ba vật thể có quan hệ tương tác lẫn nhau. Poincaré chỉ ra rằng đối với những hệ loại này, một sai lệch vô cùng nhỏ trong dữ kiện ban đầu sẽ lớn dần lên theo thời gian với một tỷ lệ khổng lồ.
Do đó đối với cùng một hệ chuyển động, hai tập hợp dữ kiện ban đầu hầu như không phân biệt có thể dẫn tới hai dự đoán kết quả khác nhau một trời một vực.
Poincaré đã chứng minh một cách toán học rằng hiện tượng “bùng nổ” của những bất định vô cùng nhỏ trong dữ kiện ban đầu thành những bất định khổng lồ trong kết quả dự đoán sẽ vẫn tiếp tục xẩy ra ngay cả khi những bất định ban đầu được thu nhỏ tới kích thước nhỏ nhất có thể tưởng tượng được.
Nghĩa là, đối với những hệ này, dù cho bạn có thể thực hiện những phép đo dữ kiện ban đầu chính xác hơn tới hàng trăm hay hàng triệu lần hoặc hơn thế nữa, thì muộn hơn hay sớm hơn, tính bất định trong kết quả không hề giảm đi, mà vẫn vô cùng lớn.
Những phân tích toán học của Poincaré thực chất đã chứng minh rằng đối với những “hệ phức tạp”, muốn có một dự đoán kết quả chính xác ở bất kỳ cấp độ nào cũng đòi hỏi phải xác định được dữ kiện ban đầu với độ chính xác tuyệt đối.
Nhưng điều đó là BẤT KHẢ (impossible)!
Matthew Trump viết tiếp:
Tính chất cực kỳ nhậy cảm của dữ kiện ban đầu được trình bầy một cách toán học trong những hệ thống được nghiên cứu bởi Poincaré được gọi là tính bất ổn định động lực học (dynamical instability), hoặc đơn giản là “hỗn độn” (chaos).
Đó là lý do vì sao Henri Poincaré được coi là cha đẻ của Lý thuyết hỗn độn, mặc dù mãi đến những năm 1960, lý thuyết này mới thành hình.




Theo Matthew Trump:
Mặc dù công trình của Poincaré được một số nhà vật lý nhìn xa trông rộng đương thời đánh giá là vô cùng quan trọng, nhiều thế kỷ đã trôi qua trước khi những ẩn ý trong các khám phá của ông được toàn thể cộng đồng khoa học hiểu rõ. Một trong các lý do của sự chậm trễ này là vì phần lớn các nhà vật lý thời đó đang lao vào một lĩnh vực mới mẻ của vật lý, đó là Cơ học lượng tử – lĩnh vực vật lý thâm nhập vào vương quốc hạ nguyên tử.
Nhưng hiện nay, chính các nhà vật lý đang quan tâm tới Lý thuyết hỗn độn hơn ai hết.
5* Biểu hiện của hỗn độn trong Tự nhiên:
Hệ thống thời tiết là một hệ phức tạp điển hình, ở đó bộc lộ rất rõ đặc trưng hỗn độn, như độc giả đã thấy phần nào qua câu chuyện về khám phá của Edward Lorenz năm 1961.
Matthew Trump cho biết:
Thuật ngữ “Hiệu ứng con bướm” ra đời chính từ khoa học dự báo thời tiết: Một cái vỗ cánh của một con bướm ở một nơi nào đó trên trái đất có thể dẫn tới một cơn bão ở một nơi nào khác trên thế giới một năm sau đó.
Với hiệu ứng đó, hiện nay người ta buộc phải chấp nhận rằng việc dự báo thời tiết chỉ đạt được mức độ chính xác tương đối và ngắn hạn. Dù cho được trang bị những computer thông minh bậc nhất, khoa học dự báo thời tiết vẫn luôn luôn không tốt gì hơn những phỏng đoán.
Vậy nếu chúng ta thấy những dự báo thời tiết thiếu chính xác hoặc thậm chí sai hoàn toàn với thực tế, có lẽ cũng không nên dễ dàng trách móc các nhà khoa học làm dự báo, mà hãy “đổ tội” cho cái bản chất hỗn độn của những hệ phức tạp trong Tự nhiên.
Robert May (đã nhắc tới ở mục 2*), cho biết:
Trong lĩnh vực nghiên cứu quần thể sinh học còn có những thí dụ phức tạp rắm rối hơn rất nhiều. Chẳng hạn tôi có thể chỉ ra những thí dụ về quần thể ruồi dấm hoặc quần thể bọ chét dưới nước mà tôi nuôi dưỡng chúng trong phòng thí nghiệm. Bạn không thể nào tiên đoán được mức độ  tăng trưởng của chúng trong một số tình huống nhất định. Dưới điều kiện nhiệt độ và sinh trưởng nào đó, chúng phát triển đều đặn và hoàn toàn có thể tiên đoán được, giống như động học Newton cổ điển vậy. Nhưng dưới điều kiện nhiệt độ và/hoặc môi trường khác, chúng trở nên vô cùng hỗn độn, và mặc dù những phương trình dùng để mô tả sự tăng trưởng của chúng rất đơn giản, mức tăng trưởng của chúng là không thể dự đoán được. Sự sinh trưởng của chúng tăng hay giảm thất thường tuỳ theo từng nơi chốn.
Có thể chỉ ra rất nhiều hệ phức tạp khác nhau mà ở đó tính hỗn độn biểu lộ. Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia:
Lý thuyết hỗn độn đã sử dụng để nghiên cứu tính hỗn độn trong các mạch điện, chùm lasers, các hiện tượng dao động, các phản ứng hoá học, động học chất lỏng, các máy móc cơ học và máy cơ-học-từ-tính.
Khoa học cũng đã quan sát những ứng xử hỗn độn trong chuyển động của vệ tinh trong hệ mặt trời, sự “tiến hoá của thời gian” (time evolution) trong từ trường của các thiên thể, sự tăng trưởng số lượng của các quần thể sinh học, “tiềm năng tác động” (action potentials) trong các neurons thần kinh, và các dao động của phân tử.
Hàng ngày chúng ta có thể chứng kiến tính hỗn độn của thời tiết và khí hậu. Và hiện người ta đang tranh luận về tính hỗn độn trong hiện tượng “kiến tạo bề mặt trái đất” (plate tectonics) cũng như trong hệ thống kinh tế.
Tóm lại, Lý thuyết hỗn độn đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực: toán học, sinh học, khoa học computer, kinh tế học, công nghệ học, hệ thống tài chính, triết học, vật lý, chính trị, động học về mức tăng trưởng của các quần thể, tâm lý học và khoa học robots. Một trong những ứng dụng thành công nhất của Lý thuyết hỗn độn là trong sinh thái học, trong đó mô hình của Ricker đã được sử dụng để chỉ rõ các quần thể sinh học tăng trưởng như thế nào. Lý thuyết hỗn độn cũng được áp dụng trong y khoa để nghiên cứu bệnh động kinh, … và vô số ứng dụng khác nữa.
6* Vài vấn đáp trên chủ đề “hiệu ứng con bướm” và hỗn độn:
1/ Có người thắc mắc, xét cho cùng thì Poincaré vẫn chưa giải xong “Bài toán ba vật thể”, vậy tại sao ông vẫn đoạt Giải Oscar II?
Þ Một trong các thành viên hội đồng giám khảo là nhà toán học kiệt xuất Karl Weierstrass đánh giá: “Công trình này chưa thật sự được xem như đưa ra một lời giải đầy đủ của vấn đề đã được đặt ra, nhưng điều vô cùng quan trọng là nó sẽ mở đầu cho một kỷ nguyên mới trong lịch sử của cơ học thiên thể”.
Þ Và dưới ánh sáng khoa học hiện đại, nhà toán học Ian Stewart, giáo sư Đại học Warwick ở Anh, nhận định: “Đúng là ông chưa giải xong bài toán, nhưng ông đã tạo ra một tiến bộ đáng kinh ngạc tiến về phía trước. Ông đã sáng tạo ra một lĩnh vực hoàn toàn mới, một cách tư duy hoàn toàn mới”.
2/ Nếu chuyển động của n vật thể là hỗn độn thì tại sao hệ mặt trời lại ổn định?
Þ Câu trả lời thuộc về các nhà vật lý thiên văn, tuy nhiên chúng ta có thể cho rằng hệ mặt trời thoả mãn những điều kiện xác định, làm cho nó trở thành một hệ đơn giản, thay vì một hệ phức tạp như các đối tượng nghiên cứu của Lý thuyết hỗn độn.
3/ Phải chăng giống như Định lý bất toàn, Lý thuyết hỗn độn chứa đựng yếu tố “chống khoa học”, bởi vì khoa học không thể là cái gì khác ngoài những định luật phản ánh tính quy luật của Tự nhiên? Bản thân khái niệm hỗn độn đã là một cái gì đó phản lại tính quy luật, tức là phản lại khoa học?
Þ Có lẽ cần phải nhận thức lại khái niệm khoa học là gì. Khoa học không đơn giản chỉ là những định luật phản ánh tính quy luật của Tự nhiên, mà còn là tập hợp mọi nhận thức phản ánh trung thực bức tranh hiện thực. Định lý bất toàn và Lý thuyết hỗn độn là khoa học, bởi nó phản ánh bức tranh hiện thực chính xác hơn, đầy đủ hơn, trung thực hơn.
4/ Phải chăng toàn bộ vũ trụ là hỗn độn? Phải chăng tính bất định và hỗn độn tồn tại xen kẽ trong Tự nhiên, hoặc cái này bao trùm lên cái kia?
Þ Câu trả lời vẫn bỏ ngỏ. Hiện nay chúng ta chỉ mới biết một phần nào đó của vũ trụ. Không ai có thể đưa ra một phán quyết rằng toàn bộ vũ trụ là tất định hay hỗn độn. Có những hệ đơn giản thể hiện tính tất định, nhưng cũng có rất nhiều hệ phức tạp mang bản chất bất định và hỗn độn. Có người cho rằng tính hỗn độn chỉ là một biểu hiện tương tác vật chất trong một phạm vi hẹp của một trật tự lớn hơn bao trùm, có nghĩa là quy luật tất định vẫn chiếm ưu thế.
Phải nói rằng phần lớn các nhà vật lý hiện nay vẫn là những môn đệ nhiệt thành của Chủ nghĩa tất định, trong đó Albert Einstein có lẽ là môn đệ nhiệt thành nhất, vì ông từng tuyên bố “Tôi muốn biết được ý Chúa”. Đó là lý do để ông quyết tâm xây dựng Lý thuyết trường thống nhất (Theory of Unified Field), và hậu duệ của ông đã tiếp tục sự nghiệp này dưới ngọn cờ  Lý thuyết về mọi thứ (TOE – Theory of Everything).
Nhưng những nghiên cứu của Gregory Chaitin trong toán học lại ủng hộ tư tưởng bất định và hỗn độn nhiều hơn là tất định:
Chaitin đã chứng minh rằng có một số vô hạn những sự kiện toán học nhưng phần lớn những sự kiện đó không liên hệ với nhau và không thể trói buộc chúng với nhau bằng những định lý thống nhất. Nếu các nhà toán học tìm thấy bất kỳ liên hệ nào giữa những sự kiện này thì đó chỉ là may mắn tình cờ. Phần lớn toán học đúng mà chẳng có lý do đặc biệt nào cả, toán học đúng bởi những lý do ngẫu nhiên … Chaitin nhận ra rằng số Omega đã nhiễm độc toàn bộ toán học, đặt ra giới hạn căn bản đối với cái chúng ta có thể biết. Hơn thế nữa, Omega mới chỉ là sự khởi đầu, thậm chí còn có nhiều con số phiền toái khác mà Chaitin gọi là những số Siêu-Omega – những con số thách thức mọi tính toán ngay cả khi chúng ta cố gắng mọi cách để hiểu được Omega. Dòng giống Omega – dòng giống những con số không thể tính được – đã để lộ ra rằng toán học không chỉ bị nhậy cắn thủng lỗ chỗ, mà hầu như đã bị thủng bởi những lỗ hổng toang hoác: Tình trạng hỗn độn, phi trật tự hoá ra là bản chất cốt lõi của Vũ Trụ(2).
Ý kiến của Robert May (đã dẫn) có lẽ là công bằng nhất:
Tôi muốn nói rằng chúng ta vẫn đang ở trong tình trạng mà hầu hết những gì được dạy trong trường phổ thông và đại học vẫn tuân theo cách nhìn kiểu Newton – phần lớn những điều chúng ta được dạy là thế giới vẫn tuân theo một trật tự … thế giới ấy có thể dự đoán được, còn ở đâu có chuyện rắm rối phức tạp và không thể dự đoán được, chẳng hạn như tại chiếc bàn quay roulette trong các sòng bạc, thì chẳng qua đó chỉ là một đống lộn xộn. Nhưng tình hình đã hoàn toàn thay đổi. Hiện nay chúng ta đã biết rằng khi quy luật đủ đơn giản thì hiện tượng xẩy ra cũng đơn giản, nhưng mặt khác, chúng ta không thể tạo ra “chiếc đồng hồ đơn giản kiểu Newton”. Với những phương trình mô tả chiếc đồng hồ Newton, quả lắc đồng hồ đôi khi có thể dao động bình thường như bạn dự đoán, nhưng nhiều lúc khác nó lại gây nên tình trạng hoàn toàn hỗn độn và không thể dự đoán được.
5/ Liệu có thể “Tây phương hoá”, tức là logic hoá và toán học hoá những lý thuyết có khả năng tiên tri của khoa học Đông phương cổ truyền, như Kinh Dịch hoặc Tử vi, … để bổ sung cho khả năng tiên tri của khoa học Tây phương hay không?
Þ Có hai lý do để tham vọng này khó biến thành hiện thực:
Một, khoa học Đông phương không dựa trên logic suy diễn và chứng minh, mà chủ yếu dựa trên cảm nghiệm trực giác, mặc dù nó có những nguyên lý cơ bản vô cùng cô đọng đã được hình thức hoá. Vì thế, tham vọng logic hoá các khoa học cổ truyền Đông phương là đi ngược lại phương pháp tiếp cận chân lý của chính Đông phương cổ truyền. Phương pháp suy diễn logic và chứng minh của khoa học Tây phương tự bản thân nó đã không đủ để chứng minh mọi chân lý. Định lý bất toàn gợi ý rằng thế giới nhận thức của con người lớn hơn thế giới logic chứng minh rất nhiều. Chỗ hơn hẳn của con người so với tư duy logic máy móc chính là trực giác: Khả năng cảm nhận chân lý một cách trực tiếp không cần suy luận. Vậy logic hoá và toán học hoá Kinh Dịch e rằng chỉ làm giảm giá trị của Kinh Dịch, thay vì nâng nó lên một tầm cao hơn của nhận thức. Đã có một giáo sư vật lý Việt Nam thực hiện một công trình toán học hoá Kinh Dịch rất công phu(3), nhưng công trình này không để lại một ấn tượng nào đủ lớn trong cộng đồng khoa học Việt nam cũng như thế giới. Có lẽ vì nó không đủ sức thuyết phục.
Hai, giả sử toán học hoá và logic hoá Kinh Dịch hoặc Tử vi thành công, tôi e rằng hệ thống dữ kiện ban đầu của nó không đủ để khắc phục được “Hiệu ứng con bướm” – hiện tượng bất định và hỗn độn của các hệ thống phức tạp trong Tự nhiên và xã hội.
Chẳng hạn, có trường hợp hai chị em sinh đôi cùng trứng, và tất nhiên là cùng năm cùng tháng cùng ngày cùng giờ và cùng nơi sinh. Vậy mà số phận lại khác nhau một trời một vực. Một người thì liên tục gặp may mắn, một người thì gặp hết rủi ro này đến rủi ro khác. Phải chăng sự khác biệt vô cùng lớn này xuất phát từ một khác biệt vô cùng nhỏ nào đó trong dữ kiện ban đầu (lúc sinh ra đời) của hai chị em này? Nếu nhận định này đúng thì có nghĩa là “hiệu ứng con bướm” và bản chất hỗn độn cũng tác động ngay cả trong khoa học chiêm tinh! Vì thế khoa học chiêm tinh cũng chỉ đúng với những “hệ” đơn giản và ngắn hạn, và sẽ “hỗn độn” với những “hệ” phức tạp và lâu dài! Vậy có cách nào bổ sung cho hệ thống dữ kiện ban đầu của các khoa học Đông phương cổ truyền hay không? Nhưng dù có bổ sung đến mấy đi chăng nữa, như đã nói ở các phần trên, sẽ chẳng bao giờ có một hệ thống dữ kiện ban đầu tuyệt đối chính xác – bản chất bất định của các phép đo dữ kiện ban đầu. Điều đó có nghĩa là “hiệu ứng con bướm” và bản chất hỗn độn là không thể khắc phục được đối với bất kỳ hệ phức tạp nào, dù là Tây phương hay Đông phương!
Nhưng tại sao vẫn có những tiên tri đúng đến mức làm mọi người phải kinh ngạc, như tiên tri của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nostra Damus, hay gần đây hơn là Nicolas Tesla, …?
Có lẽ các nhà tiên tri này chỉ dựa một phần nào vào những mô hình logic tất định (Tây phương hoặc Đông phương) để đưa ra những tiên tri kỳ lạ của họ, mà chủ yếu dựa trên trực giác đặc biệt – một thứ “Don de Dieu” (một ân huệ của Trời). Sự thật có đúng như vậy không? Điều này vẫn là một ẩn số lớn của chiêm tinh học mà khoa học ngày nay chưa thể giải mã, và cũng vượt quá phạm vi thảo luận của bài viết này.
7* Kết:
Xét cho cùng thì “Hiệu ứng con bướm” và bản chất hỗn độn của Tự nhiên cũng đã được kinh nghiệm dân gian truyền tụng từ lâu. Đó là câu ngạn ngữ “Sai một ly đi một dặm”!

Theo Phạm Việt Hưng & Wikipedia

Thứ Hai, 11 tháng 10, 2010

Viện Toán học Việt Nam tròn 40 tuổi

Ngày 12/10, Viện Toán học kỷ niệm 40 năm ngày thành lập (1970-2010). Từ 15 năm nay, được Viện Hàn lâm Thế giới thứ ba công nhận là một trong những "Trung tâm xuất sắc" (Institute of excellence) ở các nước đang phát triển.
Viện Toán học Việt Nam tròn 40 tuổi
Viện Toán học được khởi đầu với sự đóng góp quan trọng của nhà Toán học Lê Văn Thiêm. Ảnh: Tú Uyên
 Viện trưởng  từng về quê chăn bò và kỷ lục xây trụ sở mới
"Quyết định thành lập Viện Toán học là cực kỳ dũng cảm. Năm 1970, chiến tranh ở Việt Nam diễn ra rất ác liệt, đang rất cần nhân lực tài giỏi phục vụ chiến tranh, thế nhưng những người lãnh đạo bấy giờ dám để những người giỏi vào ngành toán trong thời điểm có nhiều việc phải làm" - GS. Hà Huy Khoái, nguyên viện trưởng, người gắn bó cả cuộc đời với viện, nhớ lại.
"Nếu đầu óc những người bấy giờ đòi hỏi người làm nghiên cứu toán phải "ra ngô, ra khoai" ngay thì rất khó. Tầm nhìn của nhà lãnh đạo như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc ấy chính là sự đầu tư rất lớn cho toán học Việt Nam".
Viện trưởng lâu đời nhất, GS Hoàng Tụy thì vẫn chưa quên tiền thân của viện là một phòng nghiên cứu toán học, với một nhóm 5, 6 sinh viên giỏi được đưa đi đào tạo ở  Ủy ban khoa học. Sau này, phòng toán học tăng lên hơn chục người. 
"Tôi nghĩ, trên thế giới chưa có viện toán nào hoạt động khó khăn như viện Toán thời ấy. Anh Lê Văn Thiêm, Viện trưởng đầu tiên, thần tượng của chúng tôi thời trẻ, là nhà toán học đầu tiên của chúng ta, đã có lúc phải về quê chăn bò, do có những chính sách đối xử với khoa học không được đúng đắn, khi có quan niệm, khoa học phải đi vào thực tế. Tuy vậy, nhìn chung con người lúc đó rất trong sáng, người như anh Thiêm không lấy chuyện đó làm buồn, vẫn tin tưởng rồi đất nước sẽ phát triển".  
40 năm thành lập viện Toán học Việt Nam
GS Hoàng Tụy. Cuốn chuyên khảo gồm phần lớn những thành tựu nghiên cứu của GS. Hoàng Tụy và học trò của ông mang tên "Global Optimization - Deterministic Approches" (Tối ưu toàn cục - tiếp cận tất định) được Springer (nhà xuất bản khoa học lớn nhất thế giới) in lại ba lần từ năm 1990 đến năm 1996, được coi là kinh điển trong lĩnh vực Tối ưu toàn cục. Có thể nói, Hà Nội thời GS Tụy là một trung tâm của toán tối ưu toàn cục.
Tập thể Viện Toán thời GS Tụy trở thành Viện trưởng (1980 - 1990) có khoảng 30 người, làm việc trong phòng làm việc có vài chục thước, ở 39 Trần Hưng Đạo, "sau chuyển đến một cái nhà tranh rách nát ở 208D Đội Cấn". "Chúng tôi vẫn thường đùa rằng ngồi làm việc nhưng có thể ngắm mây trời bất kỳ lúc nào". 
Mãi tới năm 1981, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới thăm, thấy điều kiện làm việc thảm hại nên về bàn với Bộ trưởng Bộ Xây dựng thời ấy là ông Đồng Sĩ Nguyên xây cơ sở mới cho Viện Tính toán và điều khiển, trong đó có Viện Toán học.  Ông Đồng Sĩ Nguyên sau này cho biết chưa bao giờ thấy Thủ tướng giao một công việc cụ thể như vậy nên ông rất tích cực làm, chỉ trong một năm, một thời gian rất kỷ lục, Viện toán đã có cơ sở làm việc mới, chính là ở trên khu đất của Viện Toán học ngày nay. 
Nhìn lại nền toán học Việt Nam trong 40 năm, theo đánh giá của thế hệ sau, người được coi là nổi bật nhất, đại diện cho nền toán học là GS. Hoàng Tụy. GS. Hoàng Tụy là tác giả của gần 150 công trình khoa học đăng trên các tạp chí quốc tế có uy tín về nhiều lĩnh vực.
Cho tới nay, có ba nhà toán học được viện Hàn lâm khoa học thế giới thứ ba công nhận là Viện sĩ: GS Hà Huy Khoái, GS Ngô Việt Trung và GS Lê Dũng Tráng (lúc đó vẫn còn làm việc ở Việt Nam). Gần đây nhất, viện này đã công nhận nhà toán học Phùng Hồ Hải (thuộc Viện Toán học) là thành viên trẻ của mình. Yêu cầu được công nhận là tuổi dưới 40, có thành tích xuất sắc. Thông thường, chỉ có khoảng 8 người ở 4 vùng được công nhận điều này.
GS. Hoàng Tụy cho biết: Sau 20 năm kể từ ngày thành lập, Viện Toán học đã trở thành một viện nghiên cứu tương đối đàng hoàng, là một trong những trung tâm toán học xuất sắc trong vùng Đông Nam Á thời bấy giờ.
Từ sau năm 1975 đến hết 1990, kinh tế bị kiệt quệ, khoa học nói chung bị trì trệ thì viện lại nổi lên. Tuy nhiên, 15 năm trước đây, có những lúc đã rơi vào khủng hoảng vì thiếu đội ngũ kế cận. 
 Công trình khoa học quốc tế chiếm 57%
Viện Toán học Việt Nam tròn 40 tuổi
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm Viện Toán học năm 1981
GS Hà Huy Khoái cho biết, sở dĩ thời kỳ "khủng hoảng của toán học" sau đổi mới, bắt đầu vào nền kinh tế thị trường, chút nữa thì ngành toán biến mất lại có thể qua đi và vượt lên được là bởi vẫn có những người ham mê toán thực sự, "khổ nhưng vẫn làm".
Một may mắn nữa là trong giai đoạn ấy, viện có rất nhiều người xin được học bổng nước ngoài từ các nước Đức, Pháp, Nhật. Viện gần như là cơ sở nghiên cứu khoa học đầu tiên đi tìm được học bổng bên ngoài, không thuộc nhà nước.
Trong gần 10 năm trở lại đây, theo GS. Ngô Việt Trung, Viện trưởng Viện Toán học, chỉ với số lượng cán bộ là 70 người, viện đã có số lượng công trình khoa học quốc tế chiếm tới 57% tổng các số công trình toán học cả nước từ trước đến nay.
Nếu tính riêng các bài báo chất lượng cao, viện có  2/3 tổng số công trình cả nước đăng trong các tạp chí thuộc danh mục ISI (danh mục các tạp chí khoa học có chất lượng của Mỹ). So với thời kỳ trước năm 2000, số lượng bài báo trong danh mục ISI đã tăng gấp đôi.
Đóng góp lớn nhất của Viện Toán cho đất nước trong 40 năm qua, theo đánh giá của các GS Hà Huy Khoái "là nâng cao kiến thức chung về toán cho cả xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục."  Còn theo GS Ngô Việt Trung, là "giữ cho trình độ khoa học của đất nước ở một tầm nhất định, đào tạo ra những người làm toán, các giảng viên toán cho các trường đại học".
GS Lê Dũng Tráng: ’Kính tặng nhân dân tôi’
 Toán học Việt Nam nhờ đó đã không còn bị cô lập so với thế giới, nhất là các nước Mỹ, Nhật và ở Châu Âu. Nhờ luồng gió mới mẻ ấy mà những người làm việc ở các nhóm nghiên cứu Toán học khác cũng "lây" tinh thần phấn chấn và được khích lệ để ganh đua"... Những đồng nghiệp của GS.TSKH Việt kiều Lê Dũng Tráng đã nói như vậy về tác động của ông, người âm thầm làm cầu nối đưa Toán học Việt Nam ra thế giới.
Trong những năm 1970, không thể không nhắc tới những trí thức Việt kiều trở về đóng góp cho khoa học nước nhà, trong đó có Toán học. GS Lê Dũng Tráng thời ấy đã về nước ngay sau khi bảo vệ xong luận án tiến sĩ. Sự phát triển toán học trong nước lúc ấy đã bị bỏ xa so với thế giới nên sự trở về của những người như GS Tráng rất có ý nghĩa.

Sau những nỗ lực bắc những nhịp cầu thông với thế giới của GS Tráng, lần lượt, đã có thêm nhiều nhà Toán học nổi tiếng thế giới tìm đến Việt Nam, giảng bài cho sinh viên ở cả những vùng đã đi sơ tán, thông qua lời giới thiệu: "Ở Việt Nam, hiện đang có một nhóm làm Toán đi theo xu hướng hiện đại". Toán học Việt Nam nhờ đó đã không còn bị cô lập so với thế giới, nhất là các nước Mỹ, Nhật và ở Châu Âu.
Tại Mỹ năm 1974 , trong một hội thảo Toán học quốc tế (tổ chức 4 năm một lần và Việt Nam khi đó chưa có đại diện sang dự), TS Lê Dũng Tráng (từ Pháp sang với tư cách cá nhân) đã tự hào ghi tên Việt Nam lên một tấm bảng nhỏ, đặt giữa những tấm biển khác, sánh vai cùng các nước có nền Toán học phát triển. 
Toán học Việt Nam đi về đâu?
Mô tả ảnh.
GS Ngô Việt Trung: Định hướng lớn nhất hiện nay là thu hút giới trẻ vào Viện toán học.
"Khi hơn một nửa số người giỏi về toán đang ở nước ngoài", GS Khoái nói. "Nếu không có chính sách thu hút họ về mà để họ vĩnh viễn làm việc ở nước ngoài thì đó là một tai họa".
Tuy nhiên, thu hút họ về không chỉ là vấn đề tiền mà còn là không khí làm việc, người làm toán cũng cần có sự tự do tuyệt đối như Ngô Bảo Châu đã nói. Tuy nhiên, muốn thu hút họ về thì trước tiên phải đối xử khác với người làm việc ở trong nước. Nếu ưu tiên cho họ về mức lương mà người trong nước vẫn bị đối xử về lương kém hơn thì họ cũng không muốn. 
Đó là chưa kể, môi trường nghiên cứu ở Việt Nam vẫn thua ở các nước phát triển ở một điểm, chẳng hạn như ở Mỹ, các hãng lớn ủng hộ khoa học rất nhiều tiền nghiên cứu mà không đòi hỏi ngay một cái gì đó. Sở dĩ họ đầu tư mà không cần thu lợi ngay trước mắt là bởi họ hiểu về lâu dài, họ sẽ có nguồn nhân lực tốt. 
GS Hà Huy Khoái: Phải phiêu lưu một chút
Con người nên thay đổi và dám thay đổi. Phải phiêu lưu một chút. Và, những người ít bị trói buộc bởi các hệ tư tưởng đã được "đóng đinh", đã được công nhận... là những người dễ thích ứng và thành công. Những nhân tố ấy thường mang lại động lực cho sự phát triển xã hội
GS Ngô Việt Trung cho biết: Định hướng lớn nhất ở viện hiện nay là thu hút giới trẻ vào làm việc. Mỗi năm Viện giúp một hai em đi nghiên cứu ở nước ngoài và hy vọng các em trở về, tuy nhiên, sau đó có về hay không thì không ai dám chắc.
Đội ngũ người làm toán giỏi đã già mất rồi, chẳng hạn ngành toán tối ưu của GS Tụy, giờ người trẻ nhất ở đây đã gần 50 tuổi! Những ngành như xác xuất thống kê, toán ứng dụng không có người kế cận, chỉ có những người sắp đến tuổi về hưu.
Theo GS Trung, lực lượng người làm toán ở VN hiện nay chỉ bằng một khoa toán của một trường ĐH cỡ trung bình ở châu Âu. Nếu tính số lượng số công trình được công bố thì còn ít hơn. Hằng năm, viện công bố khoảng 70 công trình nghiên cứu. 
Nhà toán học trẻ Phùng Hồ Hải. Ảnh: Tú Uyên
Nhà toán học trẻ Phùng Hồ Hải. Ảnh: Tú Uyên
Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng, mức lương của một nhà toán học chỉ khoảng trên dưới 35 triệu/năm, trong khi đó, mức lương trung bình của một nhà toán học tại Mỹ là 100 ngàn đô la/năm.
 Nhà toán học trẻ Phùng Hồ Hải có thể nói là một trong những người hiếm hoi quyết định trở về Việt Nam và nhận mức lương khiêm tốn, mặc dù anh có thể tìm kiếm một công việc tốt, thu nhập cao và ổn định tại nước ngoài.
"Sự chọn lựa này hoàn toàn là ý thích cá nhân. Giảng dạy toán cho giảng viên và sinh viên, học sinh trong nước thú vị hơn giảng cho SV nước ngoài" - anh giải thích.
Theo anh, về nước làm việc, không thể nói là bị hoàn toàn cô lập với các hoạt động nghiên cứu ở nước ngoài. 
GS Ngô Bảo Châu: "Tinh thần thương yêu, đoàn kết của cộng đồng toán học Việt Nam rất hiếm hoi, đáng quí"
Khoa học của nước ta nói chung, và toán học nói riêng, chưa có một vị trí xuất sắc trên thế giới, nhưng nếu không có tinh thần đoàn kết, thương yêu nhau, cùng với tinh thần nghiêm khắc, không bao che cho những yếu kém về học thuật, thì toán học Việt Nam cũng như các ngành khoa học khác, sẽ không có bất kỳ một cơ hội nào để tiến bộ.
Trong máy tính của anh là một kho sách về toán tải miễn phí từ trên mạng. Anh vẫn có liên hệ với các trường ĐH nơi mình từng làm việc để tìm được những công bố mới nhất. Nhưng quả thật , có bị hạn chế vì chỉ có thể trao đổi qua e-mail mà không gặp gỡ trực tiếp được.
Ở nước ngoài, các nhà toán học được tập trung vào công việc của mình nhiều hơn, trong khi ở Việt Nam, các nhà toán học phải đi làm thêm mới đủ sống.
Theo GS Phùng Hồ Hải, muốn phát triển ngành toán thì phải quan tâm từ thế hệ HS nhỏ tuổi.
Ở Việt Nam, học sinh vẫn là những "thợ giải bài tập". Đó là bởi thông thường các bài toán cao cấp được thay đổi để trở thành bài toán sơ cấp, HS giải bài toán ấy dựa trên sự thông minh chứ không dựa trên kiến thức cao hơn để giải, ngược lại hoàn toàn với các nước phát triển.
Những nước có nền toán học phát triển mạnh đào tạo được đội ngũ kế cận rất tốt. Chẳng hạn như Hà Lan, đất nước chỉ có 10 triệu dân nhưng có lực lượng toán học mạnh hơn VN rất nhiều lần, họ không có thành tích gì nổi bật trong các kỳ thi Olympic toán quốc tế, nhưng họ chính là người ra nhiều đề hay nhất cho các kỳ thi này.
"Ở Việt Nam, hãy bắt đầu từ việc nhỏ, đó là cần phải kết nối những nhà làm toán, nghiên cứu về toán với HS phổ thông, tạo cho họ sự đam mê vì hiện HS Việt Nam chỉ học để đi thi cho tốt chứ không phải học để biết", Phùng Hồ Hải nhấn mạnh.
  • MathVn.Com (Theo VNN)
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Viện đã ứng dụng các phương pháp toán học để lập phương án đảm bảo giao thông thời chiến, giải tỏa ách tắc xe cộ ở những nơi trọng điểm hay bị địch oanh tạc, để nổ mìn định hướng xây dựng các tuyến giao thông.
Trong thời kỳ kiến thiết và xây dựng đất nước, Viện đã tham gia:
- Giải quyết các bài toán về quy hoạch và sử dụng hợp lý tài nguyên nước, về tính thấm trên công trình thủy điện sông Đà, Trị An và một số công trình khác.
- Tính toán và giải quyết một số bài toán về ô nhiễm dầu trên mặt biển, bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác dầu khí ở biển Đông.
- Cài đặt và áp dụng nhiều bộ chương trình thống kê để phân tích, xử lý số liệu.
- Xây dựng hệ mật mã khóa công khai và ứng dụng trong việc bảo mật thông tin trong truyền tin.
- Xây dựng phần mềm sản xuất tin dự báo sớm bão để phát trên truyền thình, Internet....  

Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2010

Shigeru Kondo - người tính được 5 nghìn tỉ chữ số của PI

Shigeru Kondo, kỹ sư hệ thống cho một công ty thực phẩm có trụ sở ở miền bắc Nhật Bản, đã dễ dàng vượt qua kỷ lục tính số Pi được 2,7 nghìn tỉ chữ số trước đây, do một kỹ sư Pháp lập hồi năm ngoái.

Theo thông tấn xã Kyodo, Giáo sư Kondo đã tính tỉ lệ chu vi hình tròn với đường kính của nó  (thường được rút gọn thành 3,14) mất 90 ngày và 7 giờ.
Shigeru Kondo - người tính được 5 nghìn tỉ chữ số của PI
Giáo sư Shigeru Kondo - người đã tính được 5 nghìn tỉ chữ số của PI 
Việc tính toán công phu này sém bị uổng công bởi có lần con gái ông ngắt điện máy tính để cắm phích máy sấy tóc. Rất may, công trình được cứu vãn khi cắm vào nguồn khẩn cấp hỗ trợ 10 phút.
Giáo sư Kondo cũng buộc phải tháo vỏ máy tính và mở quạt làm mát máy (trị giá khoảng 17.750 USD và máy có một đĩa cứng dung lượng 32 terabyte) nhiều lần vì nhiệt độ trong nhà ông lên đến 40 độ C trong mùa hè nóng nhất kể từ năm 1946.
Giáo sư Kondo dự định thử tính toán giá trị của Pi tới 10 nghìn tỉ chữ số nhưng do giới hạn của máy tính nên chưa thể hoàn thành.
Bà Yukiko, vợ của Kondo, than phiền rằng máy vi tính dử dụng nhiều năng lượng trong dự án kéo dài ba tháng và đẩy tiền điện lên đến 236 USD/tháng.

3.
1415926535 8979323846 2643383279 5028841971 6939937510 : 50
5820974944 5923078164 0628620899 8628034825 3421170679 : 100
2962457053 9070959679 6673211870 6342459769 2128529850 : 999,999,999,950
2976735807 0882130902 2460461146 5810642210 6680122702 : 1,000,000,000,000
9354516713 6069123212 1286195062 3408400370 1793492657 : 1,999,999,999,950
8386341797 9368318191 5708299469 1313121384 3887908330 : 2,000,000,000,000
3840840269 5893047555 2627475826 8598006396 3215856883 : 2,699,999,989,950
9256371619 3901058063 3448436720 6294374587 7597230153 : 2,699,999,990,000
8012497961 5892988915 6174704230 3863302264 3931687863 : 2,699,999,990,050
3126006397 8582637253 6739664083 9716870851 0983536511 : 2,699,999,990,100
5628334110 5221005309 8638608325 4364661745 5833914321 : 2,999,999,999,950
9150024270 6285788691 0228572752 8179710957 7137931530 : 3,000,000,000,000
5209957313 0955102183 1080456596 1489168093 0578494464 : 3,999,999,999,950
3638467628 3610607856 5071920145 5255995193 8577295739 : 4,000,000,000,000
2597691971 6538537682 7963082950 0909387733 3987211875 : 4,999,999,999,950
6399906735 0873400641 7497120374 4023826421 9484283852 : 5,000,000,000,000
MathVn.Com (TTO)

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010

Ngô Bảo Châu giành giải thưởng Fields 2010 - CHÚC MỪNG

Ngô Bảo Châu giành giải thưởng Fields 2010 huy chương Fields 2010
Giáo sư Ngô Bảo Châu nhận huy chương Fields từ Tổng thống Ấn Độ Pratibha Patil.
Cả khán phòng ở Hyderabad, Ấn Độ, rộn ràng tiếng vỗ tay khi tên của giáo sư Ngô Bảo Châu được xướng lên là một trong 4 nhà toán học giành giải Fields hôm nay.

Tổng thống Ấn Độ Pratibha Patil trao huy chương Fields - giải thưởng toán học cao quý nhất thế giới - lúc 12:55 hôm nay (giờ Hà Nội). Ngô Bảo Châu là nhà toán học đầu tiên của Việt Nam giành được giải thưởng danh giá này.
Lễ khai mạc diễn ra trong buổi sáng nay (19/8/2010 từ 9h30-12h30, giờ Ấn Độ) tại thành phố Hyderabad. Ngồi trên hàng ghế ngay gần đầu trong hội trường có gia đình giáo sư Bảo Châu. Mẹ anh, phó giáo sư Trần Lưu Vân Hiền tươi tắn trong bộ áo dài truyền thống Việt Nam. Người cha - giáo sư Ngô Huy Cẩn - trang nghiêm trong bộ vest tối màu.
Cùng với GS Ngô Bảo Châu, đoạt giải Fields lần này còn có các nhà Toán học: Elon Lindenstrauss (Israel), Stanislav Smirnov (Nga) và Cedric Villani (Pháp). Trái với dự đoán trước đó của nhiều người.


Tường thuật từ Đại hội Toán học Thế giới 2010 (ICM 2010):

Đúng 12h55 giờ Việt Nam, GS Ngô Bảo Châu đã bước lên bục nhận giải thưởng "Nobel Toán học" Fields. Đây là thời khắc lịch sử của Khoa học Việt Nam. Ông đã làm rạng danh đất nước.


13h08: Những người chiến thắng trong cuộc bầu chọn các giải thưởng Nevanlinna, Gauss, Chern nhận phần thưởng từ Tổng thống Shrimati Pratibha Patil.


Chủ nhân giải thưởng giải thưởng Nevanlinna. 

13h00:
Cùng với GS Ngô Bảo Châu, 3 nhà Toán học trẻ khác cũng được trao tặng giải thưởng Fields.


Giáo sư Ngô Bảo Châu bên cạnh 2 người đạt giải khác.

Hình ảnh 3 chủ nhân giải thưởng Fields.







12h55: Giáo sư Ngô Bảo Châu chính thức được xướng tên tại HICC. Ngô Bảo Châu xếp thứ 2 trong danh sách 4 người đoạt giải Fields 2010.


GS Ngô Bảo Châu nhận giải từ Tổng thống Ấn Độ. 

12h50: Một Giáo sư trong Ủy ban bầu chọn giải Fields công bố danh sách những người đoạt giải thưởng danh giá này.

12h45: Chủ tịch Ủy ban bầu chọn giải Fields - Giáo sư László Lovász, Chủ tịch Hội Toán học thế giới phát biểu.


Giáo sư László Lovász đánh giá cao vai trò của Toán học Ấn Độ đối với Toán học thế giới. 


GS Ngô Bảo Châu ngồi ở hàng ghế đầu trong Trung tâm hội nghị HICC. (GS Châu là người ngồi thứ hai từ trái sang)

12h35: Tổng thống Patil và Ủy ban bầu chọn các giải thưởng IMU Awards lên sân khấu chào các đại biểu, chuẩn bị cho màn trao giải Fields,...


Lễ chào cờ trước khi công bố giải Fields.


Hai thành viên Ủy ban bầu chọn giải Fields.


Tổng thống Patil công bố các Giáo sư trong Ủy ban bầu chọn giải.


Các thành viên Ủy ban bầu chọn giải thưởng.
12h25: Các đại biểu yên lặng lắng nghe giai điệu nhạc dân gian Ấn Độ. Sân khấu Trung tâm HICC sẽ là nơi vinh danh những nhà Toán học nào trong phần trao giải Fields?
12h20: Bài phát biểu dài 20 phút của bà Patil đã kết thúc. Các đại biểu được nghe một giai điệu nhạc dân gian truyền thống của Ấn Độ.

12h10:
Máy quay lia tới khu vực gia đình những người nhận giải thưởng IMU Awards. Chúng ta chưa thấy hình ảnh thân phụ và thân mẫu GS Ngô Bảo Châu. GS Châu có nhận được giải Fields hay không vẫn còn là một bí mật.


Gia đình những người nhận giải thưởng IMU Awards. Chúng ta chưa thấy hình ảnh thân phụ và thân mẫu GS Ngô Bảo Châu. GS Châu có nhận được giải Fields hay không vẫn còn là một bí mật.

12h00: Phiên họp toàn thể khai mạc ICM 2010 bắt đầu.

Mở đầu Đại hội, bà Shrimati Pratibha Patil, Tổng thống  Cộng hòa Ấn Độ có bài phát biểu khai mạc, chào đón các nhà Toán học đến Ấn Độ dự ICM 2010. Theo bà Pratibha Patil, Ấn Độ tự hào được trở thành chủ nhà của sự kiện Toán học trọng đại 4 năm mới có một lần này.


Tổng thống Pratibha Patil phát biểu khai mạc Đại hội. 
11h30: Trước ngày khai mạc ICM 2010, Ban tổ chức quyết định lùi lịch làm việc lại 1 giờ. Do đó, buổi họp báo công bố chủ nhân các giải IMU Awards sẽ được lùi lại tới 15h30 (giờ Việt Nam), trong khi Lễ khai mạc ICM 2010 bắt đầu từ lúc 12h.

11h30, các đại biểu tham dự ICM 2010 đã có mặt đông đủ tại hội trường HICC. Hơn 3000 nhà Toán học được thưởng thức các điệu nhạc truyền thống của nước chủ nhà Ấn Độ.


Các nhà Toán học tranh thủ trao đổi trước giờ khai mạc. 


Hội trường HICC được lấp đầy bởi hơn 3000 nhà Toán học.

11h00: Có hơn 3.000 nhà Toán học trên khắp thế giới đã có mặt ở HICC, Ấn Độ để tham dự sự kiện được tổ chức với chu kỳ 4 năm một lần này. Đại hội Toán học thế giới (2010) là kỳ Đại hội thứ 3 được tổ chức tại châu Á.


GS Ngô Bảo Châu ngồi ở hàng ghế đầu trong Trung tâm hội nghị HICC.

Ngô Bảo Châu đoạt huy chương Fields 2010 - Ngo Bao Chau gianh giai thuong Fields 2010 - Ngo Bao Chau Fields Medallist 2010.

Thứ Năm, 15 tháng 7, 2010

Giải thưởng Fields - Phần 3: Fields Medal và ICM 2010

Đại hội Toán học Thế giới (ICM 2010) năm nay dự kiến sẽ có 3.500 đại biểu đến từ 65 quốc gia trên thế giới tham gia. Nước chủ nhà đăng cai Ấn Độ có 3 đại diện ứng cử viên có khả năng giành huy chương Fields 2010.
Sơ lược lịch sử giải thưởng Fields

Fields Medal là giải thưởng toán học được trao tối đa cho 4 nhà toán học không quá 40 tuổi. Giải được trao tại Đại hội Toán học Quốc tế (ICM) của Hiệp hội Toán học Quốc tế (IMU) diễn ra 4 năm một lần. Đây được coi là giải thưởng toán học uy tín hàng đầu thế giới. Giải thưởng gồm huy chương Fields và tiền thưởng. Năm 2006, số tiền thưởng mà mỗi nhà toán học giành giải Fields Medal nhận được là 15.000 đô la Canada (15.000 USD hay 10.000 Bảng Anh).
Nhà toán học người Canada John Charles  Fields
Nhà toán học người Canada John Charles Fields
Fields Medal do nhà toán học người Canada John Charles Fields sáng lập và được trao lần đầu tiên năm 1936 cho 2 nhà toán học Lars Ahlfors người Phần Lan và Jesse Douglas người Mỹ. Từ năm 1966, Fields Medal bắt đầu được trao cho 4 nhà toán học trong một đợt.
Tính đến năm 2006, tổng cộng đã có 48 nhà toán học trên toàn thế giới nhận được giải Fields Medal. Trong đó, Mỹ dẫn đầu với 13 nhà toán học nhận giải, xếp thứ hai là Pháp với 9 giải, Liên Xô cũ và Nga với 8 nhà toán học được vinh danh. Thứ tự tiếp theo lần lượt là: Anh (6), Nhật Bản (3), Bỉ (2), Australia (1), Đức (1), Italia (1), Na Uy (1), New Zealand (1), Phần Lan (1), Thụy Điển (1).
Nhà  toán học Phần Lan Lars Ahlfors - người đầu tiên giành giải  Fields Medal năm 1936. Ông sinh ngày 18/4/1907
Nhà toán học Phần Lan Lars Ahlfors - người đầu tiên giành giải Fields Medal năm 1936. Ông sinh ngày 18/4/1907
 Fields Medal vẫn luôn được ví là giải “Nobel của toán học”. Tuy nhiên, số tiền thưởng kèm theo của Fields Medal không thể so sánh với con số 1,5 triệu USD mà mỗi nhà khoa học giành giải Nobel nhận được. Bên cạnh đó, Fields Medal có điều kiện trao giải nghiêm ngặt hơn Nobel vì có giới hạn độ tuổi, đồng thời Fields Medal thường được trao cho các nhà toán học có nhiều công trình nghiên cứu, trong khi giải Nobel thường được trao cho một công trình đơn lẻ.

Cho đến nay, nhà toán học trẻ tuối nhất từng giành giải Fields Medal là nhà toán học Jean-Pierre Serre người Pháp. Ông giành giải năm 1954 khi mới 28 tuổi. Năm 2006, lần đầu tiên giải Fields Medal bị từ chối. Nhà toán học người Nga Grigori Perelman khi đó đã không đến dự lễ trao giải diễn ra tại Madrid, Tây Ban Nha.
Grigori Perelman, nhà toán học người Nga đã từ chối giải  thưởng Fields Medal 2006
Grigori Perelman, nhà toán học người Nga đã từ chối giải thưởng Fields Medal 2006

Cơ hội lớn cho toán học Việt Nam

Trong lịch sử hơn 70 năm tồn tại của Fields Medal, châu Á mới có duy nhất một đại diện từng giành được giải này là Nhật Bản vào các năm 1954, 1970 và 1990. Giải thưởng Fields Medal 2010 có thể sẽ được lần đầu tiên được trao cho một đại diện của Đông Nam Á và là đại diện thứ 2 của châu Á: Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu của Việt Nam.

Trong thời gian qua, thông tin về vị giáo sư toán học trẻ tuổi người Việt Nam Ngô Bảo Châu đã được nhắc đến rất nhiều. Công trình toán học chứng minh cho bổ đề cơ bản trong chương trình Langlands năm 2009 của Ngô Bảo Châu đã được tờ The Time của Mỹ bình chọn là 1 trong 10 sự kiện khoa học năm 2009.
Đây là công trình được đánh giá mang tính đột phá vì kết nối được hai lĩnh vực của toán học là số học và hình học, đồng thời đã chứng minh được điều mà nhiều nhà toán học nổi tiếng trên thế giới không thể giải quyết được trong suốt 30 năm qua.
Năm 2004, Ngô Bảo Châu và thầy của mình là GS Laumon đã giành giải thưởng toán học Clay sau khi "giải quyết" được một trường hợp đặc biệt của Bổ đề cơ bản chương trình Langland. Và Ngô Bảo Châu là người Việt Nam đầu tiên nhận giải thưởng này. Ngô Bảo Châu từng giành giải toán học Clay năm 2004, giải thưởng danh giá về toán học trên thế giới mỗi năm chỉ trao cho 1 – 2 người, và giải Oberwolfach dành cho các nhà toán học trẻ châu Âu năm 2007.
Năm 2008, Ngô Bảo Châu tiếp tục giành giải thưởng của Viện Hàn lâm khoa học Pháp. Hiện Ngô Bảo Châu đã nhận lời mời làm giáo sư Đại học Chicago, Mỹ. Anh sẽ chính thức về làm việc tại Khoa Toán của trường đại học này vào ngày 1/9/2010.

Ngô Bảo Châu là một trong số 20 nhà toán học được mời đọc báo cáo tại phiên họp toàn thể của Đại hội Toán học thế giới (sẽ họp tại Ấn Độ vào 8/2010). Nhiều nhà toán học có uy tín dự đoán tại đại hội này Châu có thể được tặng Huy chương Fields.
Một  mặt huy chương Fields với hình Archimedes được dập nổi
Một mặt huy chương Fields với hình Archimedes được dập nổi
Giải Fields Medal sẽ được trao tại Đại hội Toán học Quốc tế (ICM - International Congress of Mathematicians) 2010 được tổ chức tại Hyderabad, Ấn Độ từ ngày 19-27/8/2010. Đây cũng là dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Hiệp hội Toán học Ấn Độ và 50 năm thành lập Hiệp hội Toán học Rumania. Đây là lần đầu tiên IMC được tổ chức tại Ấn Độ và là lần thứ 3 được tổ chức tại một nước Châu Á (lần đầu tiên là tại Tokyo, Nhật Bản năm 1990, lần thứ hai tại Bắc Kinh, Trung Quốc năm 2002).
Hyderabad, Ấn Độ - Nơi sẽ diễn ra ICM 2010 và lễ trao giải Fields  Medal 2010
Hyderabad, Ấn Độ - nơi sẽ diễn ra ICM 2010 và lễ trao giải Fields Medal
Giải thưởng Fields Medal được trao lần đầu tiên năm 1936, nhưng ICM tồn tại trước đó 40 năm. ICM lần đầu tiên được tổ chức tại Zurich, Thụy Sĩ năm 1897. ICM năm nay dự kiến sẽ có 3.500 đại biểu đến từ 65 quốc gia trên thế giới tham gia. Nước chủ nhà đăng cai Ấn Độ có 3 đại diện ứng cử viên có khả năng giành giải Fields Medal 2010.
(BEE-KH&ĐS).

Bài đăng phổ biến