Thứ Tư, 17 tháng 8, 2011

Chưa thể bằng lòng với chất lượng giáo dục

Nhiều ý kiến đồng tình cho rằng chất lượng giáo dục TP.HCM được nâng lên, song chưa thể bằng lòng với những gì có được, kể cả đầu tư cơ sở vật chất.

Dãy nhà kho trên đường Bến Bình Đông, P.11, Q.8, TP.HCM dự kiến xây Trường tiểu học Lý Thái Tổ tới nay vẫn chưa thấy xây dựng - Ảnh: NHƯ HÙNG



Đây là nội dung được các đại biểu HĐND TP bàn thảo tại hội nghị chuyên đề về kế hoạch năm học 2011-2012 do HĐND TP tổ chức sáng 16-8.

Trường lớp chạy đua với tăng dân số

"Vấn đề 1% giáo viên chưa đạt chuẩn là do thời gian trước đây khi TP thiếu giáo viên, ngành giáo dục phải tuyển những giáo viên chưa đạt chuẩn. Nay họ đã lớn tuổi, khó học nâng chuẩn nhưng không thể sa thải vì các giáo viên này cũng có đóng góp nhất định cho ngành. Thường thì các trường sẽ chuyển những giáo viên này làm việc ở vị trí khác trong trường, hạn chế tối đa việc bố trí họ đứng lớp dạy"

Ông Lê Hồng Sơn (giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM)

Ông Đặng Thanh Tuấn - trưởng Phòng GD-ĐT Q.Gò Vấp - cho biết: “Nếu tính theo quy định, hiện Gò Vấp còn thiếu 484 phòng học. Năm 2010, UBND TP đã bố trí kế hoạch vốn chuẩn bị đầu tư cho sáu dự án bồi thường, giải tỏa và 12 dự án xây dựng trường học. Đây là các dự án giải quyết bức xúc về trường lớp trên địa bàn quận nhưng đến năm 2011, UBND TP không tiếp tục bố trí vốn cho các dự án này, gây khó khăn cho quận trong việc triển khai thực hiện”.

Ông Trần Trọng Tuấn, chủ tịch UBND huyện Bình Chánh, kiến nghị Sở Kế hoạch - đầu tư xem xét và trình UBND TP, HĐND TP chấp thuận chủ trương tiếp tục bố trí vốn theo quy định để triển khai thực hiện các công trình. “Tốc độ tăng dân số cơ học rất cao, tính trung bình những năm gần đây mỗi năm Bình Chánh tăng 30.000 dân, tương đương một xã. Vì thế nhu cầu về trường lớp vẫn rất lớn, sĩ số học sinh tại một số điểm trường vẫn còn cao so với quy định” - ông Trần Trọng Tuấn cho biết.

Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác

Trong phát biểu của mình, đại biểu Võ Văn Sen - hiệu trưởng Trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG TP.HCM) - đã nhiều lần thốt lên hai từ “ngạc nhiên”. Ông ngạc nhiên chuyện các quận huyện không được bố trí vốn để xây dựng trường học: “Việc xây dựng trường để kéo giảm sĩ số xuống là vấn đề hết sức cấp bách mà tại sao Sở Kế hoạch - đầu tư lại không xếp vào “trường hợp cấp bách”? Việc phân bổ vốn đầu tư đợt 2 năm 2011 cho ngành GD-ĐT chỉ hơn 500 tỉ đồng mà còn lưỡng lự thì làm sao ngành GD-ĐT phát triển được?”.

Chuyện ngạc nhiên nữa là: “Vì sao đến nay định biên cho giáo dục TP vẫn chưa đủ, như quận Gò Vấp kêu thiếu hơn 1.000 định biên trong năm 2011? Giáo viên là “cái khung của bộ máy” mà chưa đủ thì tôi không hiểu chúng ta đầu tư cái gì cho giáo dục” - ông Sen bức xúc.

Phó chủ tịch UBND TP Hứa Ngọc Thuận nhấn mạnh đến năm 2015 mỗi quận huyện và mỗi cấp học đều có trường đạt chuẩn chất lượng cao, đồng thời không có trường học với cơ sở vật chất yếu kém. Ông khẳng định chủ trương nhất quán của TP là khi xây dựng các trường mới ở những quận ven, huyện ngoại thành, nhất định phải đạt chuẩn quốc gia và mật độ xây dựng bố trí 30% diện tích cho sân chơi, cây xanh bóng mát...

Về đầu tư cho giáo dục, ông Thuận cho biết đều tăng qua các năm, cụ thể năm 2009 khoản đầu tư này là 2.900 tỉ đồng, năm 2010 tăng lên 3.700 tỉ đồng và ghi vốn bố trí năm 2011 là 5.250 tỉ đồng. Ông khẳng định năm học mới này về cơ bản không quá tải trường lớp, song ông đồng tình với các ý kiến cho rằng ở một số quận ven, huyện ngoại thành do có những dự án chưa kịp đưa vào sử dụng nên còn bố trí sĩ số học sinh cao.

Chốt lại một số điểm cần lưu tâm, Chủ tịch HĐND TP Nguyễn Thị Quyết Tâm cho rằng mục tiêu giáo dục toàn diện đã được nêu rõ, chất lượng giáo dục có nâng lên nhưng chưa thể bằng lòng với chất lượng giáo dục như hiện nay.

Bà Tâm đề nghị UBND TP chỉ đạo quyết liệt hơn nhằm rà soát cơ sở vật chất, chuẩn bị tốt hơn cho các năm học tiếp theo. Bà chia sẻ với những bức xúc của các đại biểu, một dự án xây trường lớp chuẩn bị các thủ tục mất hai năm và xây mất hai năm, như vậy phải qua bốn năm mới hoàn thành công trình.

Theo đại biểu Thanh Thúy (ảnh), trung bình thu nhập của giáo viên mầm non chỉ 2 triệu đồng/tháng, chưa kể nhiều người ở Q.7, Nhà Bè đi lại từ nhà đến trường rất xa. Vất vả, lương lại thấp, liệu họ có thể trụ được với nghề hay không? Đại biểu Thanh Thúy cũng băn khoăn với thực trạng TP vẫn còn một số trường sĩ số học sinh cao, vượt quá số lớp học so với quy định, chưa kể một số địa phương chưa có trường tiểu học.

Ảnh: MINH ĐỨC

Q.THANH - H.HƯƠNG

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2011

Google kỷ niệm ngày sinh của Fermat với logo ấn tượng

Hôm nay, 17/8, các trang chủ Google đều đồng loạt đăng logo mới vẽ hình chiếc bảng với định lý nổi tiếng trong lịch sử toán học nhằm kỷ niệm 410 năm ngày sinh nhà Toán học vĩ đại Pierre de Fermat (17/08/1601 – 17/08/2011 ).
Logo Google ngày 17/8/2011
Chính Fermat là người sáng lập lý thuyết số hiện đại, trong đó có 2 định lý nổi bật: định lý nhỏ Fermat và định lý lớn Fermat (định lý cuối cùng của Fermat).
Định lý cuối của Fermat là một trong những định lý nổi tiếng trong lịch sử toán học. Định lý này phát biểu như sau:
Không tồn tại các nghiệm nguyên khác không x, y, và z thoả x^n + y^n = z^n trong đó n là một số nguyên lớn hơn 2.
Một con tem về Fermat
Gắn liền với định lý này là câu truyện rất hay, đó là Fermat cho rằng không thể tìm được nghiệm (nguyên) cho phương trình bậc ba. Điều lý thú ở đây là phỏng đoán này được Fermat ghi bên lề một cuốn sách mà không chứng minh, nhưng có kèm theo dòng chữ: “Tôi có một phương pháp rất hay để chứng minh cho trường hợp tổng quát, nhưng không thể viết ra đây vì lề sách quá hẹp.”

Định lý này đã thách thức các nhà toán học gần 4 thế kỷ, và cuối cùng nhà toán học Andrew Wiles (một người Anh, định cư ở Mỹ, sinh 1953) sau 7 năm làm việc trong cô độc và 1 năm giày vò trong cô đơn đã công bố lời giải độc nhất vô nhị vào mùa hè năm 1993 và sửa lại năm 1995, với lời giải dài 200 trang.

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2011

Hải quân VN có đủ sức đối đầu TQ?

Mới đây, Bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam nói rằng trong vòng 6 năm nữa Việt Nam sẽ có một hạm đội tàu ngầm để bảo vệ, Việt Nam cũng sẽ mua thêm máy bay tên lửa để nâng cao khả năng tự vệ của mình.

Danh sách vũ khí quân sự VN đặt mua tử Nga: 6 tàu ngầm Kilo và 12 máy bay SU 30 Sukhoi

Trước một Trung Quốc đang gia tăng hiện đại hóa quốc phòng ngày một nhiều và đặc biệt là lực lượng hải quân, liệu Việt Nam có đủ sức đương đầu với những tấn công từ Trung Quốc nếu có thể xảy ra, bảo vệ chủ quyền trên biển của mình?

Việt Hà phỏng vấn giáo sư Carl Thayer, chuyên gia Đông Nam Á, thuộc Học viện Quốc phòng Canberra, Úc về vấn đề này.

Điểm yếu của TQ

Trước hết đánh giá về thực lực của hải quân Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền trên biển và lãnh thổ của mình, giáo sư Carl Thayer nói:
Việt Nam đã lựa chọn khá thành công chiến lược ngăn chống xâm nhập lãnh hải. Tàu ngầm Kilo là loại tàu quy ước và là loại cực kỳ êm nhẹ, không gây tiếng động, mà Trung Quốc thì yếu kém trong chiến thuật chống tàu ngầm. Một khi các tàu này đi vào hoạt động, bất kỳ lúc nào Trung Quốc đưa tàu chiến xuống vùng đòi chủ quyền của Việt Nam thì họ cũng phải tính đến một thực tế là tàu ngầm của Việt Nam đang phục kích đâu đó và có thể ngăn cản được Trung Quốc. Trong trường hợp có những xung đột nhỏ thì Việt Nam có thể gây ra những tổn thất nặng nề cho Trung Quốc.

Việt Hà: Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam mới tuyên bố là trong vòng 6 năm nữa Việt Nam sẽ có một hạm đội tàu ngầm để bảo vệ chủ quyền của mình, ông đánh giá thế nào về khả năng này của Việt Nam trong vòng 6 năm tới trong tương quan lực lượng với hải quân Trung quốc?

Carl Thayer: 6 tàu ngầm mà Việt Nam mua sẽ không hoạt động ngay cùng lúc, nhìn chung thường là bạn sẽ có một tàu ngoài biển, 1 đang được trang bị thêm, 1 đang trên đường quay lại khu vực tuần tiễu. Nhưng bạn cũng phải tính đến hệ thống rada trên đất liền, hệ thống rà soát khu vực mà Việt Nam đang mua ngày càng nhiều. Đó là loại máy bay SU 30 Sukhoi nhiều chức năng. Bằng cách phát triển các khả năng để dò biết được Trung Quốc đang ở đâu thì Việt Nam có thể tập trung lực lượng của mình ở đó.

Tàu ngầm Kilo là loại tàu quy ước và không gây tiếng động, mà Trung Quốc thì yếu kém trong chiến thuật chống tàu ngầm. Trong trường hợp có những xung đột nhỏ thì Việt Nam có thể gây ra những tổn thất nặng nề cho Trung Quốc.

Carl Thayer

Các hệ thống này không thể ngăn chặn được hoàn toàn việc Trung quốc xâm lược ở tất cả mọi nơi nhưng khi chúng ta nói đến tương lai khai thác dầu của Việt Nam thì Việt Nam hoàn toàn có thể bảo vệ được họat động này của mình. Việc có vũ khí ngăn chặn sẽ giúp Việt Nam tránh khỏi bị Trung Quốc bắt nạt. Trung Quốc sẽ phải cân nhắc kỹ lưỡng những phát triển mới này ở Việt Nam.
Tuy nhiên 6 năm tới thì cũng mới chỉ là bắt đầu bởi Việt nam phải mất một thời gian dài để học cách phối hợp và điều khiển các lực lượng này của mình. Sau 6 năm thì Trung Quốc sẽ phải tính kỹ lưỡng hơn trước khi có bất cứ hành động gì.

Thực lực của VN

Việt Hà: Một số các website về quốc phòng của Trung Quốc gần đây có nhận định rằng Việt Nam dù có hạm đội tàu ngầm nguy hiểm nhưng lại có một số hạn chế về nhân lực điều khiển các thiết bị mới cũng như thiếu các thiết bị khác như hệ thống thông tin hay hệ thống chỉ thị mục tiêu và dẫn đường tàu ngầm. Điều này sẽ hạn chế khả năng tác chiến của tàu ngầm, ông đánh giá thế nào về nhận xét này?

000_Hkg464025-250.jpg
Một thủy thủ Pháp trò chuyện với bộ đội biên phòng VN tại cảng Hải Phòng hôm 05/7/2007. Ảnh minh họa. AFP

Carl Thayer: Tất cả những điều đó đều đúng, tuy nhiên chúng ta không thể so sánh toàn bộ hải quân của Trung Quốc với hải quânViệt Nam, mà chúng ta phải so sánh các lực lượng nào mà Trung quốc sẽ sử dụng trong một trường hợp cụ thể. Ví dụ đó là để trừng phạt Việt Nam hay đe dọa Việt Nam. Và lực lượng đó sẽ phải hoạt động ở một dải mở rộng. Tàu Trung Quốc phải đi một đoạn đường dài đến Việt Nam và tàu ngầm  có thể ở bất cứ đâu và có thể gây thiệt hại cho Việt Nam. Nhưng Việt Nam thì không phải quá chậm trong việc học và đưa các công nghệ mới vào.

Chúng ta cũng nhớ là họ đã dùng hệ thống đánh máy bay từ thời Liên Xô cũ như thế nào để chống lại Mỹ. Cho nên chúng ta có thể nói về sự chênh lệch nhưng để nói rõ ý của tôi thì hãy so sánh Anh và Achentina trong cuộc chiến hai nước trước kia trên biển. Chỉ có vài tên lửa Achentina đã làm chìm tàu chiến của Anh. Mặc dù Anh thống trị ở đảo Falkland  nhưng vấn đề là mỗi khi họ gửi tầu chiến đến thì họ phải lo lắng về lực lượng không quân của đối phương.

Cho nên đối với trường hợp Trung Quốc, thì Trung Quốc phải lo lắng cả về tàu ngầm lẫn lực lượng không quân của Việt Nam, và đó là lực lượng đánh chặn. Tất nhiên là trong trận chiến hải quân một chọi một thì Trung Quốc có lực lượng hùng hậu hơn nhưng Việt Nam cũng không hẳn chỉ là phòng thủ, đó là ý tôi muốn nói.

Việt Hà: Trong một lần phỏng vấn trước ông có nói là quân đội Việt Nam bây giờ trang bị không bằng Thái lan, Malaysia, Singapore, mà chỉ hơn Cambuchia, Lào, liệu trong vòng 6 năm tới Việt nam với các trang bị quốc phòng mới, có thể hy vọng vượt lên ngang bằng các nước khác trong khu vực?

Tất nhiên là trong trận chiến hải quân một chọi một thì Trung Quốc có lực lượng hùng hậu hơn nhưng Việt Nam cũng không hẳn chỉ là phòng thủ, đó là ý tôi muốn nói.

Carl Thayer

Carl Thayer: Không có một ai trong khu vực có thể so sánh ngang hàng với Singapore được, đó là một cách biệt rất lớn về công nghệ. Việt Nam tất nhiên là hơn hẳn Lào, Cambuchia và thậm chí Philippines. Để so sánh được với Malaysia cũng rất khó vì kinh tế Malaysia phát triển hơn nhiều và có nhiều tàu chiến hơn. Theo tôi Việt Nam phải có một quyết định quan trọng ngay bây giờ. Việt Nam có lực lượng quân đội thường trực lớn, rất tốt trong tự vệ, nhưng phải tiêu tốn nhiều nguồn lợi, và lại muốn hiện đại hóa không quân, hải quân một lúc. Một quan chức quốc phòng Việt Nam đã viết về vấn đề này và có nói đến việc cắt giảm bộ binh để có tiền cho không quân và hải quân. Đây là một tiến triển tốt.

Tôi không nói là Việt Nam không thể hiện đại hóa quân đội và đạt đến mức độ đó, nhất là khi Việt Nam có quan hệ với nhiều cường quốc trên thế giới và khu vực, và học được kinh nghiệm từ đó. Cuối cùng chúng ta sẽ thấy Việt Nam có các cuộc diễn tập quân sự thật sự chứ không phải chỉ là những họat động đơn thuần như bây giờ, và bằng cách đó sẽ cải thiện khả năng của Việt Nam. Việt Nam sẽ theo dõi Trung Quốc đang làm gì và điều này sẽ thúc đẩy những gì Việt Nam đang làm.

Họ có liên hệ với 60 đến hơn 80 nước trên thế giới, trong khi đại hội đảng vừa rồi cũng có kêu gọi sự mở rộng quan hệ này. Theo tôi, chúng ta sẽ thấy Việt Nam sẽ chuyển theo hướng rất kiên quyết để hiện đại hóa quân đội. Việt Nam sẽ có thể vẫn chưa bằng Thái Lan, Malaysia nhưng có thể ở hạng 3 trong khu vực.

Kết hợp không quân và hải quân

Việt Hà: Với những trang bị quốc phòng mà Việt Nam đang gia tăng, liệu nếu một trận đụng độ với Trung Quốc tương tự như trận Trường Sa năm 1988 xảy ra thì Việt Nam có đủ sức đối đầu để bảo vệ các đảo của mình?

000_Hkg5203489-250.jpg
Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc mua lại của Liên Xô cũ, đang neo đậu tại cảng Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc hôm 04/8/2011. AFP photo.

Carl Thayer: Cuộc đụng độ năm 1988 là khi Trung Quốc có lực lượng hùng hậu hơn nhiều và họ đã sử dụng các lực lượng này để giết quân Việt Nam, những người lính bị cô lập tại các đảo đá. Đó là một ví dụ khủng khiếp về sự cực đoan dân tộc của Trung Quốc. Việt Nam đã thách thức Trung Quốc trong nhiều năm và nhiều nơi, và họ đã phải chịu tổn thất, tôi nghĩ là Việt Nam sẽ cẩn thận hơn, tất nhiên khó mà nói được điều gì.

Cho đến lúc này Việt Nam có nhiều đảo ở biển Đông hơn Trung Quốc, gấp 3 lần, và làm sao có thể biết được một khi họ phát triển quan hệ với Mỹ và các nước khác nữa thì sẽ ra sao. Một khi mà hệ thống thông tin tình báo trao đổi phát triển thì họ sẽ biết trước được Trung Quốc định làm gì. Khi đối đầu trực tiếp thì Trung Quốc có tàu chiến hiện đại hơn và đó là đối đầu mà Việt Nam tìm mọi cách tránh, và đó là lý do mà tàu ngầm là khó nhìn thấy bởi các tàu chiến lớn như tàu của Malaysia vốn có thể thành một mục tiêu dễ thấy.

Với sự kết hợp của tàu ngầm và máy bay Sukhoi và cả tên lửa chống tàu từ đất liền được phát triển khá nhanh trong thời gian qua thì Việt Nam có thể chặn Trung Quốc khỏi những khu vực ưu tiên hàng đầu ngoài khơi.

Carl Thayer

Việt Nam đang ở hạng 3 về trang bị quốc phòng, với sự kết hợp của tàu ngầm và máy bay Sukhoi và cả tên lửa chống tàu từ đất liền được phát triển khá nhanh trong thời gian qua thì Việt Nam có thể chặn Trung Quốc khỏi những khu vực ưu tiên hàng đầu ngoài khơi, không phải là mọi nơi nhưng những nơi trọng yếu nhất.

Việt Hà: Xin cảm ơn ông đã dành cho đài chúng tôi buổi phỏng vấn này.

Nguồn: RFA

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

Điểm chuẩn các trường Đại học thuộc ĐH Huế năm 2011

Ngày 8/8/2011, Đại học Huế đã công bố điểm trúng tuyển đợt 1 (nguyện vọng 1) và thông báo xét tuyển đợt 2 vào các ngành thuộc Đại học Huế kỳ thi tuyển sinh năm 2011.
diem chuan dai hoc 2011, diem chuan dai hoc hue 2011, dai hoc su pham hue, dai hoc kinh te hue, dai hoc y duoc hue, dai hoc khoa hoc hue, dai hoc ngoai ngu hue
Gồm có điểm chuẩn các trường sau:
1. Trường ĐH Y Dược - ĐH Huế
2. Trường ĐH Khoa học - ĐH Huế
3. Trường ĐH Sư phạm - ĐH Huế
4. Trường ĐH Nghệ thuật - ĐH Huế
5. Trường ĐH Nông lâm - ĐH Huế
6. Đại học Kinh tế - ĐH Huế
7. Trường ĐH Ngoại ngữ - ĐH Huế
8. Khoa Du lịch - ĐH Huế
9. Khoa Giáo dục thể chất - ĐH Huế
10. Khoa Luật - ĐH Huế
11. Phân hiệu ĐH Huế tại Quảng Trị

Nhìn chung, điểm chuẩn vào ĐH là khá thấp (trừ ĐH Y Dược), chỉ ngang hoặc hơn điểm sàn 0,5 - 2,0 điểm.
Tải về bản PDF để xem điểm chuẩn các trường Đại học thuộc ĐH Huế năm 2011 ở đây: Download (password: mathvn.com)

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

Đề tài: Đổi mới kiểm tra đánh giá là động lực để đổi mới phương pháp dạy học

PHẦN THỨ NHẤT:PHẦN MỞ ĐẦU

1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đại hội đã đưa đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đất nước ta đã không ngừng đổi mới và phát triển. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam quyết định đẩy mạnh CNH-HĐH. Nghị quyết TW 2 Khóa VIII xác định ”Muốn tiến hành CNH-HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục – đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”. Bởi vậy, “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” (Điều 35 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam).

“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức tri thức, sức khỏe thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. (Điều 2 Luật Giáo dục của nước CHXHCN Việt Nam 2005).

Trong những năm qua, đất nước ta chuyển mình trong công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện: từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Chuyển từ chính sách ”đóng cửa” sang chính sách “mở cửa” làm bạn với các nước trong cộng đồng thế giới. Với công cuộc đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội,  trong đó giáo dục đã có một cuộc cách mạng thực sự.

Khác với những lần cải cách giáo dục trước đây ( năm 1950, 1956, 1980), lần này ngành giáo dục chỉ tập trung đổi mới chương trình giáo dục phổ thông    ( từ Tiểu học qua Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông). Tuy nhiên, cần hiểu chương trình theo nghĩa rộng như Luật định: “ Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông; phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông” ( Điều 29, mục II - Luật Giáo dục – 2005). Như vậy, đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải là quá trình đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến phương tiện giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục, kể cả việc đổi mới các xây dựng chương trình, từ quan niệm cho đến quy trình kỹ thuật và đổi mới hoạt động quản lý cả quá trình này. Trong đó, đổi mới kiểm tra đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy và học; là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục.

Tuy nhiên, trong nhiều năm thực hiện đổi mới giáo dục đã trôi qua, ngoài những kết quả đạt được về quy mô, về đa dạng hoá các loại hình đào tạo, về xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học…thì chất lượng giáo dục vẫn là một vấn đề làm cho chúng ta vẫn phải băn khoăn nhiều nhất. Hiệu quả của đổi mới phương pháp giáo dục ở nhiều nơi còn quá chênh lệch và không cao mà nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá còn chưa cập với đổi mới phương pháp giảng dạy “ thi thế nào thì học thế ấy”.

Hiện nay, do nhiều lí do mà việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của  học sinh trong các trường phổ thông, giáo viên chưa đề cao đến việc kiểm tra đánh giá ở lĩnh vực nhận thức của học sinh. Như giáo viên mới chỉ đánh giá để biết được mức độ tiếp thu kiến thức và kỹ năng của người học mà chưa chú ý đến yêu cầu thực hiện những công việc có ý nghĩa giống với những thách thức đời thường sẽ gặp sau này để xem người học hình thành kỹ năng đến mức nào. Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì cái quan trọng nhất trong việc đào tạo ở THPT là dạy cách học, do vậy việc nâng cao mức độ đánh giá cần được quán triệt khi chọn nội dung đánh giá cũng như hình thức đánh giá và đặc biệt cần phải bảo đảm nguyên tắc "Kiểm tra đánh giá của giáo viên phải kích thích được sự tự kiểm tra đánh giá của người học và kiểm định được chính xác, khách quan thành quả học tập và mức độ đạt được mục tiêu dạy học".

Trường THPT Bình Sơn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc  không đứng ngoài thực trạng đó. Hơn ai hết, là người làm công tác quản lý một trường THPT trên quê hương mà mình dã sinh ra và lớn lên, tôi nhận thức rõ trách nhiệm đặt lên vai của mình. Phải có biện pháp chỉ đạo thiết thực, phù hợp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, đổi mới kiểm tra đánh giá làm động lực để đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả. Vì vậy, chọn đề tài  tìm ra các giải pháp đánh giá toàn diện, chính xác kết quả học tập cần sử dụng đồng bộ, có hiệu quả các hình thức kiểm tra đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh từ đó đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên đáp ứng yêu của thực tế và đây cũng là hướng quy hoạch giáo dục trong tương lai. Xuất phát từ những lý do khách quan, chủ quan như đã phân tích, tôi đã nghiên cứu đề tài: “Đổi mới kiểm tra đánh giá là động lực để đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc “.

2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất và lý giải những biện pháp chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá ở trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh của n

3.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1- Xác định cơ sở khoa học của việc quản lý chỉ đổi mới kiểm tra đánh giá.

3.2- Phân tích thực trạng việc quản lý, chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá ở trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc

3.3- Đề  xuất và lý giải một số biện pháp đổi mới kiểm tra đánh giá ở trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay.

4.PHẠM VI NGHIÊN CỨU

          Vì thời gian nghiên cứu có hạn, nên đề tài này tôi  chỉ tiến hành nghiên cứu ở trường THPT Bình Sơn – Sông Lô- Vĩnh Phúc, nơi mà tôi đang công tác.

5.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đổi mới kiểm tra đánh giá là động lực để đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc.

6.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các Văn kiện Đại hội Đảng, Hiến pháp, Luật Giáo dục, Điều lệ trường trung học, Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục của Bộ Giáo dục, Sở GD - ĐT Vĩnh Phúc, trường THPT Bình Sơn.

- Giáo trình, sách của các nhà khoa học.

- Tài liệu, Tạp chí...

6.2- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Quan sát, đàm thoại, trao đổi, khảo sát...

- Tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục.

6.3- Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ

- Thống kê, toán học, biểu bảng, sơ đồ...

PHẦN THỨ HAI: PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I

NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC

CỦA ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ Ở TRƯỜNG THPT

1.1-CƠ SỞ LÝ LUẬN

Kiểm tra - đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh về tác động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để học sinh học tập ngày một tiến bộ hơn. Phương tiện và hình thức quan trọng của đánh giá là kiểm tra.

          Đánh giá với hai chức năng cơ bản là xác nhận và điều khiển. Xác nhận đòi hỏi độ tin cậy, điều khiển đòi hỏi tính hiệu lực. thực hiện tốt đồng thời cả hai chức năng sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Đánh giá chất lượng giáo dục gồm nhiều vấn đề, trong đó hai vấn đề cơ bản nhất là đánh giá chất lượng dạy của thầy và đánh giá chất lượng học của trò. Đánh giá thực chất sẽ tạo động lực nâng cao chất lượng dạy và học.

          Trong qúa trình hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình, mỗi học sinh được trải qua quá trình giáo dục bao gồm các mặt giáo dục trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mĩ. Đánh giá chất lượng học tập của các môn học của học sinh thực chất là xem xét mức độ hoàn thành mục tiêu giáo dục đã đặt ra cho quá trình giáo dục ở các môn học, trong đó chủ yếu là xem xét những năng lực về mặt trí tuệ mà học sinh đã đạt được sau một giai đoạn học tập.

          Tham gia vào quá trình học tập, học sinh có mục đích chiếm lĩnh những tri thức của môn học mà những tri thức này được mục tiêu của mỗi môn học đặt ra và yêu cầu học sinh phải đạt được. Mục tiêu  môn học đặt ra các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ thể hiện trong chương trình giáo dục phổ thông. Trong quá trình dạy học, giáo viên phải đặt ra những kế hoạch để kiểm tra mức độ đạt được yêu cầu so với mục tiêu đặt ra. Kiểm tra xem học sinh đạt được những yêu cầu về các mặt ở mức độ nào, so với mục tiêu môn học đề ra hoàn thành được đến đâu.

          Hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời nhằm tạo ra hiệu quả ở mức cao nhất thể hiện ở chất lượng học tập của học sinh. Dạy học căn cứ kết quả đầu ra cần thông tin phản hồi đa dạng. Về phương diện này chất lượng học tập được xem như chất lượng của một sản phẩm đang trong giai đoạn hình thành và hoàn thiện. Sự điều chỉnh, bổ sung những kiến thức, kỹ năng, thái độ còn chưa hoàn thiện giúp cho chất lượng học tập trở thành tri thức bền vững cho mỗi học sinh. Việc kiểm tra chất lượng học tập sẽ giúp cho các nhà quản lý giáo dục, các giáo viên và bản thân học sinh có những thông tin xác thực, tin cậy để có những tác động kịp thời nhằm điều chỉnh và bổ sung để hoàn thiện sản phẩm trong quá trình dạy học.

Qui trình kiểm tra - đánh giá kết quả học tập  quá trình tự sử dụng các hình thức kiểm tra - đánh giá khác nhau trong suốt quá trình dạy học môn học nhằm rèn luyện việc đạt các mục tiêu đã xác định trong đề cương môn học. Có 2 hình thức kiểm tra - đánh giá: 1) Kiểm tra - đánh giá thường xuyên; 2) Kiểm tra - đánh giá định kỳ. Kiểm tra - đánh giá thường xuyên là hoạt động của giáo viên sử dụng  các kĩ thuật đánh giá khác nhau trong các hình thức tổ chức thực hiện giờ dạy (lí thuyết, thảo luận, thực hành, thí nghiệm, hoạt động theo nhóm, tự học, tự nghiên cứu, ...) như một bộ phận của phương pháp dạy học nhằm rèn luyện và kiểm tra việc rèn luyện các kiến thức, kĩ năng đã được xác định trong mục tiêu của môn học. Kiểm tra - đánh giá định kì là hoạt động của giáo viên vào những thời điểm đã được qui định trong đề cương môn học, gắn các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn với những phương pháp kiểm tra - đánh giá tương ứng nhằm đánh giá, định hướng việc đạt mục tiêu môn học ở giai đoạn tương ứng của học sinh. Kết quả kiểm tra - đánh giá định kì được xem là kết quả học tập môn học của học sinh  và là cơ sở để đánh giá chất khi kết thúc môn học.

          Vị trí, vai trò của kiểm tra – đánh giá là không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong cả quá trình. Đánh giá ở mỗi thời điểm cuối mỗi giai đoạn sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục.

Đổi mới kiểm tra, đánh giá là hướng vào bám sát mục tiêu từng bài, từng chương và mục tiêu giáo dục của môn học ở từng lớp, từng cấp. Các câu hỏi, bài tập sẽ đo được mức độ thực hiện các mục tiêu đã được xác định. Đổi mới nội dung, phương pháp theo hướng tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo niềm tin, năng lực tự học cho học sinh thì đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển trí thông minh, sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của học sinh trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng. Chừng nào việc kiểm tra đánh giá chưa thoát khỏi quỹ đạo học tập thụ động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực.

Hướng tới kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan, kịp thời và không bỏ sót kết quả học tập của học sinh, phải có tác dụng giáo dục và động viên học sinh, giúp học sinh sửa chữa thiếu sót kịp thời. Bộ công cụ đánh giá sẽ được bổ sung các hình thức đánh giá khác như đưa thêm dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm; chú ý hơn tới đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, quan tâm tới mức độ hoạt động tích cực, chủ động của học sinh trong từng tiết học, cả tiết tiếp thu kiến thức mới và tiết thực hành, thí nghiệm. Điều này đòi hỏi giáo viên phải bỏ nhiều công sức hơn cũng như công tâm hơn trong việc kiểm tra đánh giá. Lãnh đạo nhà trường cần quan tâm và giám sát hoạt động này.

Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích học tập của học sinh mà còn bao gồm đánh giá quá trình dạy học nhằm cải tiến quá trình dạy học. Chú trọng kiểm tra, đánh giá hành động, tình cảm của học sinh: nghĩ và làm. Năng lực vận dụng vào thực tiễn của học sinh, thể hiện qua ứng xử, giao tiếp. Cần bồi dưỡng những phương pháp, kỹ thuật lấy thông tin phản hồi của học sinh để đánh giá quá trình dạy học.

Đánh giá kết quả học tập của học sinh, thành tích học tập của học sinh không chỉ đánh giá kết quả cuối cùng mà chú ý cả quá trình học tập. Trong đó cần chú ý: Không tập trung vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp. Căn cứ vào đặc điểm của từng môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi cấp học, cần có quy trình đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét của giáo viên cho từng môn học và hoạt động giáo dục.

Nội dung đánh giá có thể hơi “ cao” hơn so với trình độ học sinh ( đòi hỏi tư duy, suy luận), nhưng không được quá khó, để kích thích sự tìm tòi, sáng tạo, hứng thú. Chú trọng yêu cầu đòi hỏi học sinh phải hiểu nội dung, hiểu bản chất nội dung, không chỉ thuộc một cách máy móc. Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra đánh giá không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lập lại các kỹ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế. Hệ thống câu hỏi kiểm tra đánh giá cũng cần thể hiện sự phân hoá, đảm bảo 70% câu hỏi, bài tập đo được mức độ đạt chuẩn - mặt bằng về nội dung học vấn dành cho mọi học sinh THPT và 30% còn lại phản ánh mức độ nâng cao – dành cho học sinh có năng lực trí tuệ và thực hành cao hơn.

Đổi mới kiểm tra đánh giá bao gồm cả đổi mới hình thức đánh giá, phương thức đánh giá, phương tiện đánh giá, tiêu chí đánh giá, thiết kế đề kiểm tra để đánh giá học sinh. Đổi mới hình thức đánh giá là sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá khác nhau, kết hợp giữa trức nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan. Đổi mới phương thức đánh giá là tăng cường đánh giá trong giờ, ngoài giờ, chính thức và không chính thức. Đánh giá qua quan sát, trao đổi - thảo luận, qua tự học, chuẩn bị, tìm thêm tư liệu, sáng tạo, đồ dùng học tập. Tạo sự kết hợp linh hoạt giữa kiểm tra, lượng giá, đánh giá định tính và định lượng. Chú trọng hướng dẫn học sinh phát triển khả năng và thói quen tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau. Kết hợp giữa đánh giá của thầy với đánh giá của trò. Có được như vậy thì mới tự điều chỉnh được cách dạy và cách học. Đổi mới phương tiện đánh giá là tăng cường sử dụng công nghệ thông tin để giúp đánh giá khách quan, chính xác và kịp thời. Với ự giúp đỡ này thì kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học. Đổi mới các tiêu chí đánh giá là phải đánh giá được toàn diện các mặt của giáo dục của học sinh; đảm bảo sự tin cậy, chính xác, công bằng, khách quan, phản ánh chất lượng thực; đảm bảo khả thi, phù hợp với điều kiện của học sinh, cơ sở giáo dục, mục tiêu từng môn học; đảm bảo yêu cầu phân hoá; đảm bảo giá trị, hiệu quả cao. Đổi mới thiết kế đề kiểm tra để đánh giá học sinh là vừa kết hợp giữa tự luận và trắc nghiệm khách quan. Thiết kế đề phải xác định được mục đích, yêu cầu của đề; xác định mục tiêu dạy học; thiết lập ma trận hai chiều; thiết kế đáp án, biểu điểm.

1.2-CƠ SỞ PHÁP LÝ

Nghị quyết số 40/2000/QH10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khoá X về đổi mới chương trình phổ thông đã khẳng định: “ Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải thực hiện đồng bộ với việc nần cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử, chuẩn hoá trường sở, đào tạo, bời dưỡng giáo viên và công tác quản lý giáo dục”.

Mục 2 điều 11 Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục xác định: “ Việc đánh giá kết quả học  tập, công nhận người học hoàn thành chương trình môn học, cấp học hoặc trình độ đào tạo bằng hình thức kiểm tra, thi kết thúc môn học, thi tốt nghiệp hoặc xét tốt nghiệp; kết quả kiểm tra, thi là một căn cứ chủ yếu giúp nhà trường và các cấp quản lý giáo dục đánh giá chất lượng giáo dục”.

Điều lệ trường trung học ban hành theo quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi rõ: “Học sinh được kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo Quy chế đánh giá và xếp loại học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo”- ( Quy chế 40).

Hướng dẫn Bộ GD & ĐT về nhiệm vụ của toàn ngành trong năm học 2008 - 2009 trong nội dung nhiệm vụ thứ hai phần f nói về tiếp tục đổi mới công tác thi, kiểm tra và đánh giá: “Củng cố và hoàn thiện hệ thống khảo thí và đánh giá chất lượng giáo dục ở tất cả các tỉnh, thành phố. Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác khảo thí và đánh giá chất lượng giáo dục.Triển khai kế hoạch đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, trung cấp chuyên nghiệp.

Tiếp tục xây dựng ngân hàng câu hỏi thi, kiểm tra của các môn học để giáo viên tham khảo, học sinh luyện tập và vận dụng sáng tạo các nội dung đã học.
          Tiếp tục hoàn thiện Đề án đổi mới thi và tuyển sinh theo lộ trình đổi mới công tác thi và đánh giá chất lượng giáo dục. Phát huy sáng kiến và sự chịu trách nhiệm của các địa phương, đổi mới phương thức tổ chức thi, phấn đấu kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2008-2009 nghiêm túc và chính xác như thi tuyển sinh đại học, cao đẳng. Tăng cường thanh tra, kiểm tra tất cả các khâu của quy trình tổ chức thi, đảm bảo thi nghiêm túc, khách quan, công bằng, có biện pháp cụ thể để phòng ngừa, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực. Xây dựng ngân hàng đề thi, kiểm tra đạt yêu cầu về số lượng, chất lượng. nội dung phương pháp giáo dục đã nhấn mạnh: nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh”.

Như vậy vấn đề đổi mới kiểm tra đánh giá để nâng cao chất lượng giáo dục  học sinh đang là vấn đề cấp thiết trong hoạt động giáo dục của toàn ngành nói chung, của trường THPT nói riêng.

1.3-CƠ SỞ THỰC TIỄN

- Theo cách đào tạo kiểu biên chế theo năm học trong các trường THPT của ta hiện nay, kết quả học tập môn học  của học sinh được đánh giá bằng điểm thi kết thúc môn học – Quy chế, đánh giá xếp loại học sinh THCS và THPT ban hành theo Quyết định số: 40/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT.

- Tuy nhiên, do phải đối phó với áp lực thi cử nặng nề mà nhiều giáo viên vẫn chưa đổi mới phương pháp vẫn dạy học đọc chép và kiểm tra đánh giá theo lượng kiến thức máy móc mà học sinh ghi nhớ được. Giáo viên đánh giá kết quả học tập của học sinh dựa vào cách thi cử khi mà học sinh chỉ việc chép lại bài giảng ở trên lớp hoặc sách giáo khoa, rất ít khi được trình bày quan điểm của mình. Đề thi kiểm tra đánh giá ra theo hướng “học vẹt” dẫn tới khi thi học sinh có thể chép đáp án ngay từ trong sách mà không cần phải học gì. Đề thi trắc nghiệm, nhiều giáo viên có tâm lý ngại ra đề và trộn các mã đề nên chất lượng của các đề này không cao, không đánh giá đúng theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của học sinh.

- Theo Quy chế 40 thì số lần cho điểm kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ của từng môn tăng hơn so với trước nên nhiều giáo viên không kiểm tra đủ số lần điểm cho học sinh mà cấy điểm, hoặc không chấm, trả bài cho học sinh. Cũng theo Quy chế này, thì điểm kiểm tra học kỳ nhân hệ số 3, đặc biệt là học kỳ II lại nhân 2, cộng với học kỳ I và chia cho 3. Do vậy, thường là vào cuối năm, áp lực thi cử lại dồn lên học sinh hết sức nặng nề, thêm vào đó là yêu cầu báo cáo kết quả sớm đã làm cho giáo viên và học sinh căng ra mà chạy.

- Việc đổi mới kiểm tra đánh giá còn gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học, phương tiện và thiết bị dạy học. Trong những năm qua Nhà nước và Bộ giáo dục đã đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc về cho các trường nhưng chất lượng rất thấp chỉ dùng được thời gian là hỏng, hơn nữa đội ngũ bảo quản, sử dụng ở các trường đều không có ( kiêm nhiệm ) do vậy việc sử dụng hầu như không có hiệu quả. Đặc biệt là bộ phận khảo thí ở các trường đều yếu và không tách khỏi độc lập với giáo viên.

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC  ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ 

Ở TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN TỈNH VĨNH PHÚC

2.1- ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG

2.1.1- Đặc điểm chung của địa phương

Trường THPT Bình Sơn đóng trên địa của xã Nhân Đạo, một xã  miền núi nằm ở vùng xa nhất của huyện miền núi Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Vùng tuyển sinh của trường gồm 8 xã phía Bắc vùng sâu, vùng xa nhất của huyện Sông Lô. Điều kiện kinh tế, cơ sở hạ tầng, giao thông, thông tin, văn hoá chính trị xã hội... còn gặp rất nhiều khó khăn. Mọi thứ đều thiếu, không đồng bộ, lạc hậu, hạn chế... so với tất cả các huyện khác ở trong tỉnh. Đặc biệt là trình độ dân trí còn rất thấp, đại đa số là làm nghề nông nên có rất nhiều hạn chế trong nhận thức và phương pháp giáo dục trẻ.

Trong vài năm gần đây, thực hiện cuộc vận động: “ Nói không với bệnh thành tích trong giáo dục, nói không với tiêu cực trong thi “ do Bộ Giáo dục phát động và thực hiện đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá nhưng chủ yếu vẫn là đối phó với thi cử ( thi tốt nghiệp lớp 12, thi vào đại học – Cao đẳng ), vì đó là các tiêu chí để đánh giá, xếp loại thi đua hằng năm. Do vậy, thực tế thì hầu như vẫn dậm chân tại chỗ mà chẳng đổi mới được bao nhiêu.

2.1.2- Đặc điểm  của trường

Trường THPT Bình Sơn được thành lập vào ngày 03 tháng 12 năm 2003, là một trường có vùng tuyển sinh và nằm ở nơi vùng sâu, vùng xa nhất của huyện miền núi Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau 7 năm liên tục phấn đấu và trưởng thành đến nay trường đã có một cơ sở trường lớp tương đối khang trang, khuôn viên rộng và thoáng. Hiện nay trường có 31 lớp với 1389 học sinh.

Những năm đầu mới thành lập, qui mô các năm đều tăng hơn năm trước. Tuy nhiên, hai năm trở lại đây sĩ số học sinh trên một lớp tương đối ổn định có chiều hướng giảm xuống theo sĩ số qui định của chuẩn.

Dưới đây là bảng tổng hợp số lớp và sĩ số các năm ( Nguồn nhà trường)

Năm học

Số lớp công lập

Số lớp bán công

Tổng số lớp

Tổng số học sinh

Sĩ số HS trên 1 lớp

2003 - 2004

5

4

9

471

>52

2004 - 2005

11

7

18

917

>50

2005 – 2006

18

11

29

1464

>50

2006 – 2007

22

10

32

1559

>48

2007 – 2008

25

10

35

1613

> 46

2008 - 2009

29

5

34

1534

> 45

2009 - 2010

29

2

32

1405

=44

2010 - 2011

31

0

31

1395

=45

 

Hiện nay trường có 66 cán bộ, giáo viên, nhân viên với 55 giáo viên đứng lớp (5 giáo viên đi học và nghỉ chế độ). Lãnh đạo nhà trường có 01 đồng chí Hiệu trưởng, 01 đồng chí Phó hiệu trưởng. Trường có một Chi bộ Đảng gồm 14 đảng viên, với 11 đồng chí đang ở tuổi Đoàn. Những năm qua Chi bộ liên tục đạt “Chi bộ trong sạch, vững mạnh”. Công đoàn nhà trường liên tục được nhận bằng khen của công đoàn ngành. Chi đoàn giáo viên gồm 58 đồng chí. Đoàn trường liên tục đạt danh hiệu “Đoàn trường có công tác đoàn và phong trào thanh niên xuất sắc”  được Tỉnh Đoàn và Trung Ương Đoàn tặng bằng khen. Mấy năm qua trường giữ vững danh hiệu “Trường tiên tiến cấp tỉnh”, năm học 2008 – 2009 và 2009 – 2010 đạt danh hiệu “ Trường tiên tiến xuất sắc”.

Đội ngũ giáo viên đã được chuẩn hóa và không ngừng phát triển. Tập thể sư phạm thực sự là tổ ấm, đoàn kết, thống nhất.

Dưới đây là bảng tổng hợp cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường các năm ( Nguồn nhà trường).

Năm học

Tổng số lớp

Số cán bộ QL

Số giáo viên

Số nhân viên

Trình độ Thạc sỹ

Tỷ lệ giáo viên/lớp

2003 - 2004

9

1

8

1

1

0.89

2004 - 2005

18

2

19

1

1

1.06

2005 – 2006

29

2

35

1

2

1.21

2006 – 2007

32

1

41

1

2

1.28

2007 – 2008

35

3

43

2

3

1.23

2008 - 2009

34

3

51

3

5

1.50

2009 - 2010

32

2

56

2

6

1.75

2010 - 2011

31

2

60

4

8

1.94

Chất lượng giáo dục toàn diện ngày càng tăng với tỷ lệ học sinh lên lớp và đỗ tốt nghiệp hàng năm đạt 90 - 98%. Học sinh lớp 12 đỗ vào Đại học, Cao đẳng ngày càng tăng.

Dưới đây là bảng tổng hợp học sinh đỗ tốt nghiệp lớp 12 và thi đỗ CĐ-ĐH các năm ( Nguồn nhà trường).

Năm học

 

Số lớp 12

 

Số học sinh

Số HS thi đỗ tốt nghiệp

Tỷ lệ %

Số HS thi đỗ CĐ-ĐH

Tỷ lệ %

2003 - 2004

0

0

0

Chưa có

Chưa có

 

2004 - 2005

0

0

0

Chưa có

Chưa có

 

2005 – 2006

9

459

451

98.3

46

10.02

2006 – 2007

9

464

419

90.4

118

25.43

2007 – 2008

11

532

508

95.6

256

48.12

2008 - 2009

11

484

435

89.9

297

61.36

2009 - 2010

11

508

499

98.29

323

63.58

Chất lượng mũi nhọn là học sinh giỏi cấp tỉnh hàng năm đều được nhà trường chú trọng đã không ngừng tăng lên về cả số lượng và chất lượng.

Dưới đây là bảng tổng hợp học sinh đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh các năm ( Nguồn nhà trường).

Năm học

Số học sinh dự thi

Số học sinh đạt giải

 

Giải nhất

 

Giải nhì

 

Giải ba

 

Giải KK

2003 - 2004

38

14

0

1

3

10

2004 - 2005

98

57

0

2

16

39

2005 – 2006

112

71

0

6

20

45

2006 – 2007

119

90

1

6

23

60

2007 – 2008

258

119

4

5

39

71

2008 - 2009

201

97

1

9

32

55

2009 - 2010

198

134

1

20

54

68

2.2-MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG CÔNG TÁC ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ Ở TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN TỈNH VĨNH PHÚC

+ Ngay từ đầu năm chi bộ Đảng đã có nghị quyết về đổi mới kiểm tra đánh giá, kiện toàn lại bộ phận khảo thí độc lập kiểm tra đánh giá do một đồng chí Phó Hiệu trưởng trực tiếp phụ trách. Lãnh đạo nhà trường đã có kế hoạch, tổ chức chỉ đạo bằng những biện pháp sát thực, cụ thể: nâng cao nhận thức, vị trí vai trò công tác kiểm tra đánh giá trong tập thể sư phạm, là căn cứ trực tiếp để đánh giá chất lượng giáo viên và chất lượng học tập của học sinh; mua sắm thêm trang thiết bị, máy móc để phục vụ cho việc kiểm tra đánh giá được khách quan  ( máy chấm trắc nghiệm, phần mềm kiểm tra đánh giá ITBM, bảng thông minh ACTIVEBOARD)

+ Công tác đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy và học nói chung và đổi mới kiểm tra đánh giá nói riêng luôn được nhà trường coi trọng hàng đầu. Bởi vì, Đổi mới kiểm tra đánh giá chính là động lực để đổi mới phương pháp dạy học. Trong nghị quyết giáo dục đầu năm học cũng đã nêu cụ thể về:

- Yêu cầu đánh giá: Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng của từng môn học ở từng lớp; Phối hợp tốt giữa đánh giá thường xuyên với đánh giá định kỳ, giữa đánh giá của giáo viên, của học sinh, của gia đình và của cộng đồng; Không chỉ đánh giá kết quả cuối cùng mà đánh giá trong suốt qua trình học tập.

- Hình thức đánh giá: Sử dụng phối hợp các hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau, kết hợp giữa tự luận và trắc nghiệm khách quan.

- Phương tiện đánh giá: Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin, máy chấm trắc nghiệm khách quan.

- Các tiêu chí đánh giá: đánh giá toàn diện kiến thức, kỹ năng, năng lực, thái độ, hành vi của học sinh; đảm bảo độ tin cậy, chính xác, khách quan, công bằng; đảm bảo tính khả thi; đảm bảo yêu cầu phân hoá; đảm bảo giá trị và hiệu quả cao.

+ Nhà trường cúng đã cho giáo viên đi tập huấn và mời các chuyên gia về tập huấn cách thiết kế đề kiểm tra theo hướng đổi mới, cụ thể:

-         Xác định mục đích, yêu cầu của đề kiểm tra.

-         Xác định mục tiêu dạy học.

-         Thiết lập ma trận hai chiều.

-         Thiết kế câu hỏi, bài tập theo ma trận.

-         Thiết kế đáp án, biểu điểm.

+ Lãnh đạo nhà trường yêu cầu giáo viên sau mỗi tiết dạy đều phải có 5 câu hỏi trắc nghiệm và 2 câu hỏi tự luận căn cứ vào chuẩn kỹ năng của môn học và bài học đó, sau đó bộ phận khảo thí sẽ nạp các câu hỏi đó vào phần mềm        ( ITBM) xây dựng thành ngân hàng đề, kết hợp với ngân hàng đề của các trường khác và của Sở. Lãnh đạo nhà trường cùng với bộ phận khảo thí sẽ đi kiểm tra bất cứ giờ của giáo viên nào bằng cách là vào phần mềm ngân hàng đề in câu hỏi của bài học đó và kiểm tra trực tiếp học sinh vào 5 phút cuối của giờ học để đánh giá chất lượng giảng dạy và nhận thức của học sinh trong tiết học học đó sau đó có các biện pháp rút kinh nghiệm và điều chỉnh kịp thời.

+ Đối với các đề kiểm tra thường xuyên ( hệ số 1), trường giao cho các giáo viên dạy tự ra đề và chấm. Đối với các đề kiểm tra định kỳ ( hệ số 2 ), giáo viên nào có giờ kiểm tra ở lớp nào báo với bộ phận khảo thí trước 01 ngày, bộ phận khảo thí sẽ lấy ngẫu nhiên từ ngân hàng đề theo chuẩn kiến thức kỹ năng của các phần được kiểm tra in và phô tô cho giáo viên kiểm tra, sau đó thu bài và giao cho giáo viên khác chấm nếu là tự luận, còn nếu là trắc nghiệm thì bộ phận khảo thí chấm bằng máy. Như vậy thì giáo viên dạy cũng không biết đề kiểm tra sẽ như thế nào, và mỗi lớp đều có các đề khác nhau. Đối với kiểm tra học kỳ, bộ phận khảo thí sẽ ra đề chung cho toàn khối và kiểm tra chung trong toàn trường vào các ngày được quy địng cụ thể và sau đó giao bài cho các giáo viên và bộ phận khảo thí sẽ chấm, trên cơ sở quản lý chặt chẽ quá trình coi thi và chấm thi.

+ Mỗi học kỳ, nhà trường đều tổ chức lấy phiếu học sinh về quy chế chuyên môn, công tác giảng dạy, công tác chủ nhiệm và công tác kiểm tra đánh giá, phát hiện đồng chí giáo viên nào không coi chấm, trả bài nghiêm túc nhà trường đều có những hình thức xử lý đích đáng. Qua đó cũng đã động viên được gương các giáo viên tốt và kịp thời uốn nắn các giáo viên còn vi phạm.

+ Bằng các biện pháp nói trên công tác đổi mới kiểm tra đánh giá của trường đã có nhiều tiến bộ rõ rệt, cụ thể:

- Ban khảo thí đã đi kiểm tra đình kỳ và kiểm tra đột suất 48 giáo viên, trong đó đánh giá giờ dạy đạt: 42% loại tốt, 47% loại Khá, 8% loại TB, 3 % loại yếu.

- Tất cả các giáo viên đều biết cách ra đề theo hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá để nạp vào phần mềm ngân hàng đề và không có giáo viên nào vi phạm không chấm trả bài cho học sinh.

Kết quả xếp loại học lực trong những năm gần đây:

 

Năm học

Tổng số HS

Xếp loại học lực

Số HS phải thi lại

Số HS bị đúp

Giỏi (%)

Khá (%)

Trung bình (%)

Yếu, kém (%)

2005 - 2006

1457

0,06

22

67

11

42

24

2006 - 2007

1568

0,2

27

64

9

39

21

2007 - 2008

1632

1

31

60

8

28

19

2008 - 2009

1555

1,6

34,5

57

7

24

15

2009 - 2010

1405

2.0

41.4

53.5

3.1

26

12

2.3-MỘT SỐ TỒN TẠI

- Vẫn còn một số ít  giáo viên chưa tập trung đầu tư vào đổi mới kiểm tra đánh giá cho nên ra đề nhiều khi còn chiếu lệ, chưa có chất lượng.

- Các em học sinh vẫn chưa thực sự hoà nhập vào đổi mới kiểm tra đánh giá mà vẫn còn có tư tưởng học tủ, học vẹt.

- Sự phối hợp giữa ban khảo thí và cá giáo viên nhiều khi vẫn chưa được thông suốt, đối phó với sự kiểm tra của lãnh đạo nhà trường.

2.4- MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG TỔ CHỨC, CHỈ ĐẠO ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ Ở TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN, TỈNH VĨNH PHÚC

Qua phân tích những kết quả đã đạt được những tồn tại, thách thức trong công tác đổi mới kiểm tra đánh giá ở trường THPT Bình Sơn - Sông Lô - Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay chúng tôi thấy cần làm tốt những vấn đề sau:

- Tiếp tục nâng cao nhận thức, vai trò trách nhiệm cho mọi thành viên, tổ chức trong nhà trường về công tác đổi mới kiểm tra đánh giá.

- Tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện của chi bộ Đảng ở trường học (đặc biệt là lãnh đạo tư tưởng chính trị).

- Nâng cao vai trò, trách nhiệm của cán bộ quản lý, ban khảo thí trong công tác chỉ đạo công tác đổi mới kiểm tra đánh giá.

- Tuyên truyền tốt tư tưởng tới học sinh và cha mẹ học sinh trong đổi mới kiểm tra đánh giá.

- Kết hợp chặt chẽ các lực lượng xã hội khác tham gia hoạt động giáo dục: Hội cha mẹ  học sinh – Uỷ ban nhân dân các xã ... Những nội dung trên được cụ thể bằng một số biện pháp chỉ đạo được trình bày ở Chương III.

CHƯƠNG III

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ Ở TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN, TỈNH VĨNH PHÚC

3.1- Nâng cao nhận thức, vai trò trách nhiệm của các thành viên, tổ chức nhà trường trong công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá

3.1.1- Tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện của chi bộ Đảng

Chi bộ Đảng là trung tâm chính trị, tập hợp lực lượng quần chúng nhằm thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong nhà trường, chi bộ Đảng lãnh đạo toàn diện, đặc biệt chú trọng công tác lãnh đạo tư tưởng, chính trị.

Chi bộ Đảng là cầu nối trực tiếp Đảng với quần chúng. Thông qua giáo viên, nhân viên, học sinh mà chi bộ nắm tâm tư, nguyện vọng, góp ý kiến để chi bộ đưa ra những chủ trương, giải pháp sát thực với tình hình nhằm chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác đổi mới.

Chi bộ có trách nhiệm chú trọng kiện toàn tổ chức nhằm phát huy chức năng của Hiệu trưởng, vai trò của Công đoàn, Đoàn thanh niên, ban khảo thí và các tổ chức quần chúng khác. Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm nâng cao nhận thức về định hướng chính trị cho giáo viên, nhân viên và học sinh.

Từng đảng viên phải thấm nhuần phong cách tác phong  cách mạng, từ đó mỗi đảng viên trở thành một tấm gương sáng, một chuẩn mực để quần chúng học sinh noi theo. Chi bộ Đảng phải thường xuyên kiểm tra bằng nhiều hình thức, qua đó để phát hiện nhân tố mới, kịp thời khắc phục khuyết điểm, bổ sung điều chỉnh chủ trương, phương hướng tiếp theo, giúp hoạt động quản lý đi đúng định hướng.

3.1.2- Xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong tập thể sư phạm

Tập thể sư phạm trong trường phổ thông là tập thể lao động sư phạm có tổ chức, có mục đích giáo dục thống nhất, có phương thức hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường. Xây dựng tập thể sư phạm nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của tập thể để thực hiện tốt mục tiêu của nhà trường. Cần  làm cho mỗi giáo viên, nhân viên nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá là động lực để thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học.  Đó là một mặt không thể tách rời trong quá trình giáo dục, đó không phải là nhiệm vụ của riêng ai. Từ đó, tùy vị trí nhiệm vụ của mình để làm công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá. Thông qua các buổi họp, buổi rút kinh nghiệm để góp ý cho giáo viên thực hiện nghiêm túc nghị quyết của chi bộ, đặc biệt là các hiện tượng dùng điểm để khống chế học sinh.

Người cán bộ quản lý phải quán triệt đầy đủ các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác giáo dục đào tạo. Phải xây dựng và củng cố khối đoàn kết nhất trí trong tập thể sư phạm. Công đoàn tổ chức, giáo dục giáo viên, nhân viên, thường xuyên duy trì, thực hiện tốt cuộc vận động:      “ Nói không với bệnh thành tích trong giáo dục, nói không vơi tiêu cực trong thi kiểm tra”. Cán bộ, giáo viên cần được bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức, lý tưởng nghề nghiệp, công bằng trong kiểm tra, đánh giá để kích thích năng lực học tập của học sinh.

3.1.3- Phát huy vai  trò của Ban khảo thí

Ban khảo thí là bộ phận hết sức quan trọng trong công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá. Ban khảo thí là bộ phận thay mặt lãnh đạo nhà trường kiểm tra đánh giá chất lượng giờ dạy của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh. Do vậy, những cán bộ khảo thí phải là những ngưòi thấm nhuần tư tưởng đổi mới kiểm tra đánh giá, đồng thời phải luôn luôn công tâm, công bằng, chính xác và khách quan khi đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên cúng như chất lượng học tập của học sinh. Chỉ cần một sai lầm nhỏ trong công tác kiểm tra đánh giá cũng dễ dẫn đến tiêu cực, mất đoàn kết trong giáo viên và trong cả học sinh.

Lãnh đạo trường phối hợp cùng với ban khảo thí kiểm tra đánh giá giáo viên và chất lượng học tập của học sinh, đồng thời cũng tạo điều kiện để ban khảo thí hoàn thành tốt nhiệm vụ.

3.1.4- Phát huy vai  trò tự kiểm tra  đánh giá của học sinh

Bên cạnh việc kiểm tra đánh giá của giáo viên trong suốt các giờ học, kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ thì giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh biết tự đánh giá kiến thức của mình, biết đánh giá cho bạn mình. Như vậy, thì thay vào việc xưa nay giáo viên độc quyền đánh giá học sinh thì nay học sinh có quyền tham gia vào kết quả đánh giá của chính mình và của bạn mình.

Học sinh còn là cầu nối giữa cá nhân học sinh, giáo viên, ban khảo thí và lãnh đạo nhà trường trong công tác đổi mới kiểm tra đánh giá. Mỗi cá nhân được thử nghiệm vị trí, vai trò của mình trong công tác kiểm tra đánh giá chính bản thân học sinh.

Muốn có những học sinh, tập thể học sinh có vai trò trong đổi mới kiểm tra đánh giá, vai trò của giáo viên giảng dạy vô cùng to lớn. Giáo viên giảng dạy phải hướng dẫn các em, phải lắng nghe các em, phải công tâm, công bằng và khách quan đối với mọi học sinh. Lãnh đạo trường, ban khảo thí cần lắng nghe ý kiến của các em, định hướng giúp các em phương pháp tự kiểm tra đánh giá.

3.1.5-Vai trò, trách nhiệm của người cán bộ quản lý

Người cán bộ quản lý (CBQL) phải nắm vững cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá nói riêng từ đó thực hiện tốt chức năng quản lý và chỉ đạo công tác đổi mới kiểm tra đánh giá. Xây dựng được kế hoạch khảo thí, kiểm tra đánh giá thống nhất với mục tiêu giáo dục trong trường THPT. Kế hoạch  phù hợp với kế hoạch kiểm tra đánh giá theo từng tuần, từng tháng, và cả năm học. Xây dựng kế hoạch có tính khả thi cao, lôi cuốn được mọi lực lượng tham gia. Sau khi có kế hoạch, người cán bộ quản lý  tổ chức triển khai để mọi lực lượng tham gia nắm chắc kế hoạch, từ đó tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá kịp thời, điều chỉnh, bổ sung nhằm đạt mục tiêu giáo dục  đề ra một cách hiệu quả nhất.

Để chỉ đạo công tác đổi mới kiểm tra đánh giá thành công, người cán bộ quản lý phải có uy tín thực sự với tập thể giáo viên và tập thể học sinh, nhân dân. Người CBQL cần có trí tuệ thông suốt, hiểu biết sâu rộng, có kinh nghiệm sư phạm và trải nghiệm cuộc sống, lòng nhân ái, khoan dung, năng động sáng tạo trong công việc. Biết đoàn kết, thuyết phục và cảm hóa mọi người. Xây dựng tập thể nhà trường thành khối thống nhất tạo nên sức mạnh tổng hợp trong mọi hoạt động giáo dục của nhà trường.

3.2-Nâng cao năng lực của học sinh trong công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá.

3.2.1- Về công tác tổ chức

- Để tổ chức chỉ đạo công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá trong học sinh, Hiệu trưởng  nhà trường đã thành lập ban chỉ đạo gồm:

+ Đồng chí phó hiệu trưởng: Lê Gia Thanh – Trưởng ban

+ Đồng chí Đỗ Bằng Giang - Trưởng ban khảo thí – Phó ban

+ Các đồng chí tổ trưởng chuyên môn là thành viên

Ban chỉ đạo có nhiệm vụ giúp Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch chương trình và chỉ đạo chương trình đó. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền theo qui mô lớn và phối hợp với các lực lượng tham gia tuyên truyến công tác đổi mới kiểm tra đánh giá đến toàn thể các em học sinh. Giúp các đồng chí giáo viên hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá và biết đánh giá cho bạn mình, đồng thời giúp Hiệu trưởng kiểm tra đánh giá các hoạt động. Mỗi tháng họp ban chỉ đạo một lần để sơ kết đánh giá và triển khai kế hoạch tiếp theo.

3.2.2- Hướng dẫn học sinh đổi mới công tác kiểm tra đánh giá trong từng giờ học thông qua học tập các môn học

Qua từng giờ học, giáo viên liên tục ra các câu hỏi kiểm tra cả kiến thức cũ và kiến thức mới cho học sinh trả lời, sau đó cho bạn nhận xét, trả lời bổ sung và giáo viên sẽ là người đưa ra câu trả lời cuối cùng. Căn cứ vào đó hướng dẫn các em tự đánh giá xem mình trả lời đã chính xác chưa, bạn trả lời đã chính xác chưa, và theo thang điểm mà giáo viên đưa ra thì mình nằm ở thang điểm nào.

Đối với các bài kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ theo hình thức tự luận hay hình thức trắc nghiệm thì giáo viên đều ra các thang điểm rõ ràng và công bố công khai đáp án để học sinh tự đánh giá cũng như đánh giá cho bạn mình, từ đó giúp học sinh cố gắng hơn trong học tập cũng như triệt tiêu được việc giáo viên dùng điểm để khống chế học sinh.

PHẦN KẾT LUẬN

1.MỘT SỐ KẾT LUẬN

Vấn đề đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới phương tiện, thiết bị dạy học, công tác quản lý không thể thiếu được đổi mới kiểm tra đánh giá. Bởi vì, đổi mới kiểm tra đánh giá chính là động lực để đổi mới phương pháp dạy học.

Từ những cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của đề tài, qua phân tích thực trạng công tác  đổi mới kiểm tra đánh giá ở trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp chỉ đạo  đổi mới kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Như vậy, mục đích nghiên cứu đã hoàn thành.Chúng tôi đã đưa ra một số biện pháp chỉ đạo vừa mang tính thực tiễn vừa mang tính khả thi là:

* Tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện của chi bộ Đảng

* Xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong tập thể sư phạm .

* Phát huy vai trò của Ban khảo thí.

* Phát huy vai trò tự kiểm tra đánh giá của học sinh .

* Vai trò, trách nhiệm của người cán bộ quản lý.

2.MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

+ Đối với Bộ Giáo dục & Đào tạo:

- Chương trình SGK còn quá tải về mặt kiến thức. Các điều kiện dạy học lại chưa đầy đủ, ảnh hưởng đến thời lượng , giờ lên lớp, dẫn đến nhiều giáo viên chưa thật sự chú ý đến công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá.

- Cải tiến hình thức đánh giá và thi cử làm sao cho học sinh thấy được kết quả phản ánh đúng với khả năng thực của các em.

- Có quy chế cụ thể cho Ban khảo thí làm việc có hiệu quả.

- Nên có các hình thức đánh giá thi đua của các trường sao cho hợp lý.

+ Đối với Sở GD-ĐT:

- Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, hoạt động đổi mới nội dung chương trình, SGK, phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá nói riêng.

- Yêu cầu các trường trong tỉnh gửi các đề kiểm tra đánh giá vào phần mềm ngân hàng chung của toàn tỉnh.

- Có chuyên đề bồi dưỡng phương pháp ra đề, kiểm tra đánh giá cho giáo viên các bộ môn, đặc biệt là các Ban khảo thí.

Vĩnh Phúc, tháng 9 năm 2010

LÊ GIA THANH

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Điều lệ trường THPT số 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007.
  2. Luật Giáo dục 2005. NXB Lao động 2007.
  3. Nghị định của Chính phủ.
  4. Nghị quyết của Đại hội Đảng.
  5. Quy chế 40 đánh giá xếp loại học sinh THCS-THPT.
  6. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên. NXB Giáo dục.
    1. Tài liệu hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2009-2010. NXB Giáo dục.
  7. Hồ Ngọc Đại - Giải pháp giáo dục. NXB hà Nội 2007.
  8. Phạm Minh Hạc – Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại. NXB. KHXH Hà Nội 1996.

10. Nguyễn Thị Phương Hoa – Lý luận dạy học hiện đại.

11. Thái Duy Tuyên – Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới. NXB Giáo dục 2008.

12. Phạm Viết Vượng – Giáo dục học. NXB ĐHQG Hà Nội 2007


Nguồn: binhson.edu.vn

Bài đăng phổ biến