Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011

Firefox 4 đánh bại IE9, Chrome 10 về điểm benchmark

Bạn đang nghi ngờ và chưa biết tốc độ, hiệu năng thực sự các phiên bản trình duyệt mới nhất, Firefox 4, Internet Explorer 9 (IE9) và Chrome 10? Hãy tham khảo các phép thử benchmark từ CNET.

Phương thức: CNET đã thực hiện các bước thử nghiệm thực tế để đánh giá tốc độ và hiệu năng xử lý JavaScript và HTML5 cũng như so sánh tốc độ khởi động và bộ nhớ thực tế mà ba phiên bản trình duyệt sử dụng. Hai trình duyệt phổ biến Safari và Opera không được đưa vào danh sách mẫu thử nghiệm vì chúng chưa được nhà sản xuất tung ra bản cập nhật mới nhất.

Thử nghiệm được thực hiện trên chiếc laptop Lenovo T400, cấu hình Intel Core 2 Duo T9400 với xung nhịp 2,53GHz, 3GB RAM, sử dụng hệ điều hành Windows 7 32-bit.

Các công cụ, tiện ích thử nghiệm phổ biến WebKit SunSpider 0.9.1, Mozilla Kraken 1.0, Google V8 version 6JSGameBench 0.3.

Các thử nghiệm (trừ JSGamebench) được thực hiện đúng nguyên tắc trình duyệt và máy tính đều phải khởi động lại trước khi tiến hành phép thử kế tiếp.

Các phép thử được thực hiện ba lần, kết quả lấy trung bình của ba lần cộng lại.

Tất cả các phần mở rộng (extension hay add-on) của các trình duyệt được vô hiệu khi tiến hành thử nghiệm.

Các trang web thực hiện thử nghiệm gồm: talkingpointsmemo.com, aol.com, youtube.com,newyorktimes.com, giantbomb.com, cnettv.cnet.com.

Phép thử đo thời gian khởi động (Boot Time) thực hiện thủ công bằng cách sử dụng đồng hồ bấm giờ.

Phép thử đo khả năng chiếm dụng bộ nhớ (Memory Usage) của ba trình duyệt được đo bằng cách mở các thẻ như nhau và thu thập kết quả. Kết quả sử dụng là kết quả của trình duyệt chiếm dụng của hệ thống chứ không phải của tất cả các ứng dụng cùng chạy trên hệ điều hành.

Kết quả:

Phép thử với SunSpider 0.9.1

Kết quả được tính theo đơn vị mili giây (ms), kết quả càng thấp càng tốt. Xếp hạng: IE9 dẫn đầu, Firefox 4 xếp thứ 2 và Chrome 10 về sau cùng.

Phép thử với Kraken 1.0

Đơn vị tính mili giây (ms). Kết quả càng thấp càng tốt. Xếp hạng: Firefox 4 dẫn đầu, Chrome 10 xếp thứ 2 và IE9 về sau cùng.

Phép thử với V8 version 6

Kết quả càng cao càng tốt. Chome 10 đứng đầu, Firefox 4 về nhì và IE9 về sau cùng ở phép thử này.

Phép thử với JSGamebench 0.3

Phép thử với JSGamebench được thực hiện bởi các nhà phát triển Facebook. Kết quả càng cao càng tốt. Firefox 4 dẫn đầu, IE9 về nhì và Chrome 10 về cuối.

Đo thời gian khởi động trình duyệt (Boot Time)

Đơn vị tính bằng giây (s). Kết quả càng thấp càng tốt. Firefox 4 dẫn đầu, IE9 xếp thứ 2 và Chrome 10 cuối cùng.

Đo khả năng chiếm dụng bộ nhớ

Đơn vị tính kilobyte (kb). Kết quả càng thấp càng tốt. Firefox 4 dẫn đầu, IE9 xếp thứ 2 và Chrome 10 xếp sau cùng.

Kết luận:

Mặc dù các ứng viên cạnh tranh vô cùng quyết liệt và theo nhau khá sát, đặc biệt là trong khả năng xử lý JavaScript, nhưng Firefox 4 tỏ ra khá mạnh mẽ và vượt trội trong xử lý HTML5, tốc độ khởi động nhanh, khả năng tiêu tốn bộ nhớ thấp hơn so với hai đối thủ Chrome 10 và IE9. Kết quả chung cuộc, Firefox 4 giành chiến thắng trong cuộc đua này.

Theo PC World VN

Những thay đổi quan trọng trong Windows 7 Service Pack 1

Microsoft đã sẵn sàng phiên bản Service Pack đầu tiên cho hệ điều hành Windows 7 đình đám.

Mới đây, blog của Công ty cũng cho thấy các phiên bản OEM (cung cấp cho các nhà sản xuất thiết bị cài đặt sẵn trong máy tính mới trước khi xuất xưởng) của Windows 7 Service Pack 1 đã được chuyển tới tay các nhà sản xuất máy tính kể từ ngày 15/1/2010. Với vai trò là bản vá lớn đầu tiên hệ điều hành chủ đạo của Microsoft và là hệ điều hành rất được người dùng ưa chuộng hiện tại, Service Pack rõ ràng sẽ nhận được nhiều sự quan tâm. Câu hỏi đặt ra là: nó sẽ đem lại cho người dùng những gì?

Sửa các lỗi phát sinh

Một trong những đặc trưng không thể thiếu của bất cứ bản Service Pack nào chính là việc khắc phục các lỗi của hệ điều hành nguyên gốc, bao gồm cả lỗi sử dụng lẫn lỗi bảo mật. Có thể kể tới ở Windows 7 là các lỗi liên quan tới tính tương thích, lỗi khi sử dụng thẻ SD dung lượng trên 32GB, lỗi Hibernate khi khôi phục trạng thái gốc sẽ khiến máy bị treo hay đôi khi các hệ thống Windows 7 bị đứng máy không có lý do (KB2265176) chẳng hạn. Dĩ nhiên hầu hết các lỗi nghiêm trọng dạng này đều đã được Microsoft xử lý thông qua hệ thống Windows Update theo định kỳ. Tuy nhiên, với Service Pack, người dùng sẽ có một gói vá toàn diện để sử dụng mỗi lần cài đặt hệ điều hành mà không cần phải ngồi tải từng bản cập nhật rất mất thời gian.

Hỗ trợ chính thức chuẩn USB 3.0 tốc độ cao

Một trong số các tính năng mới được trông đợi nhất ở Windows 7 Service Pack 1 chính là khả năng hỗ trợ chính thức USB 3.0. Hiện tại nhiều nhà sản xuất phần cứng đã tích hợp chuẩn mới này vào sản phẩm của mình (chủ yếu là các bo mạch chủ, ổ đĩa cứng lắp ngoài và ổ USB Flash). Tuy vậy, những phiên bản đầu tiên này thường yêu cầu trình điều khiển riêng, cài đặt không đơn giản - ngược lại hoàn toàn với đặc tính cắm - chạy dễ sử dụng thường thấy của USB từ trước tới nay. Lý do chính của điều này là bởi Windows 7 chưa thực sự hỗ trợ USB 3.0 như một chuẩn thực sự. Với Service Pack 1, điều này đã trở thành hiện thực. Những người dùng USB 3.0 cũng sẽ tận dụng được tốt hơn các thiết bị của mình mà không còn phải lo ngay ngáy về việc cài đặt trình điều khiển mỗi khi đem sang một PC mới. USB 3.0 được ra mắt thị trường vào đầu 2010 với hứa hẹn băng thông dữ liệu tối đa lên tới 5Gbit/giây – nhanh hơn 10 lần so với USB 2.0.

Bên cạnh đó, USB 3.0 cũng có khả năng tải lên và tải xuống dữ liệu cùng lúc (2 chiều) so với chỉ một trong hai chiều của USB 2.0 cũ. Tốc độ mới sẽ tạo điều kiện cho một loạt đồ chơi công nghệ số mới xuất hiện như các loại ổ lưu trữ dung lượng siêu lớn, đầu đọc đĩa Bluray lắp ngoài, máy quay số, máy ảnh số với nội dung chi tiết cao hơn… Thậm chí, các loại màn hình hay card âm thanh sử dụng giao tiếp USB cũng sẽ được lợi. Ngoài ra, USB 3.0 cũng có ưu thế về khả năng cấp điện nguồn. USB 2.0 cho phép cấp điện nguồn khoảng 500mW/cổng chính. Trong khi đó, USB 3.0 vừa nhanh hơn cả hai lại vừa có khả năng cấp nguồn công suất cao hơn.

Hơn thế nữa, USB 3.0 có khả năng quản lý điện năng tốt hơn hẳn các đàn anh đi trước. Nó cho phép thiết bị chuyển vào các trạng thái rỗi, nghỉ và thậm chí là ngủ khi cần thiết. Điều này đồng nghĩa với việc MTXT của bạn sẽ có thời lượng pin sử dụng lâu hơn, PC để bàn dùng ít điện hơn… khi sử dụng thiết bị ngoại vi USB 3.0. Với các loại ĐTDĐ hỗ trợ USB 3.0, máy ảnh và máy tính bảng, điều này cũng là ưu thế rất lớn của chuẩn mới. Như vậy, sự hỗ trợ chính thức của Windows 7 đối với USB 3.0 là điều cực kỳ quan trọng.

Công nghệ bộ nhớ động Dynamic Memory và Remote FX

Đối với người dùng khối doanh nghiệp, 2 công nghệ hỗ trợ ảo hóa (Virtualization) gồm Dynamic MemoryRemote FX trong bản Service Pack 1 tới sẽ thực sự là cải tiến đáng kể. Dynamic Memory sẽ mở rộng tính năng cho Hyper-V – công nghệ của Microsoft – nhằm cho phép nó quản lý lượng bộ nhớ sử dụng cho tất cả các máy ảo vận hành trên máy tính chính. Hyper-V sẽ quản lý toàn bộ lượng bộ nhớ vật lý và chia ra theo nhu cầu sử dụng. Đây là tính năng giúp hạn chế tối đa các trường hợp hụt bộ nhớ trên các máy ảo bận rộn cũng như giảm thiểu tình trạng lãng phí tài nguyên trên các máy ảo rỗi. Điều đặc biệt quan trọng là các quản trị sẽ không còn mất công sức kiểm soát vấn đề này nữa.

Hiện tại, phiên bản SP1 đã bắt đầu được đưa lên mạng Internet thông qua các kênh không chính thức. Theo nhiều website đăng liên kết tải xuống, phiên bản cho Windows 7 32-bit có dung lượng vào khoảng 537,81 MB trong khi đó, bản cho Windows 7 64-bit lại nặng hơn khá nhiều (vào khoảng 903,20 MB). Những người dùng quan tâm muốn dùng thử có thể tải từ cả Torrent (hoặc tham khảo tại đây).

Trong khi đó, Remote FX lại cho phép các máy ảo và máy tính điều khiển từ xa (Remote Desktop) có được môi trường đồ họa tốt hơn. Theo Microsoft, với Remote FX, người dùng sẽ có thể làm việc từ xa thông qua mạng nội bộ mà vẫn có được đủ giao diện Aero của Windows 7, xem phim ở tốc độ tốt nhất đồng thời thưởng thức các hiệu ứng động của Silverlight, ứng dụng 3D… với chất lượng không thua gì khi đang sử dụng trực tiếp. Bạn có thể tham khảo trình diễn cả 2 công nghệ này tại đây.

Lịch trình ra mắt của Service Pack 1

Bản thân Windows 7Windows Server 2008 R2 sử dụng chung một nền tảng mã nguồn. Do đó không có gì đáng ngạc nhiên khi bản vá Service Pack 1 sẽ có mặt cùng lúc trên cả 2 phiên bản này. Để nắm chính xác thời điểm ra mắt, bạn có thể nhìn lại lịch trình của Windows Vista.

Phiên bản Service Pack đầu tiên của Vista được công bố khoảng 5 tháng sau khi hệ điều hành ra mắt. Sau đó, bản Beta được tung ra trong khoảng tháng 9/2007 rồi tới RC trong tháng 12/2009. Cuối cùng, bản chính thức có mặt vào giữa tháng 3/2010. Với lịch trình tương tự như vậy, người dùng hoàn toàn có thể suy đoán ra thời điểm mà Windows 7 Service Pack 1 có mặt. Thêm vào đó, chính việc Microsoft đã tung ra bản RTM của Service Pack 1 cho các nhà sản xuất vào ngày 15/1/2011 vừa qua cũng cho thấy ngày ra mắt bản dành cho người dùng cuối sẽ không còn xa.

Nhiều ý kiến cho rằng Microsoft sẽ không vội vàng trong việc ra mắt bản vá này của Windows 7 dẫn tới việc người dùng phải chờ đợi thêm chút ít. Điều này không phải là không có lý. Trước hết, bản thân Windows 7 và người anh em cho môi trường máy chủ của nó vận hành khá hoàn hảo ngay từ đầu và đối với phần đông người dùng, bản Service Pack lại không quá quan trọng do họ không vướng phải lỗi nào nghiêm trọng cần khắc phục ngay lập tức như với Vista trước đây.

Thay vào đó, phần đông khi đến với Service Pack 1 này sẽ trông đợi ở các tính năng mới nhiều hơn. Một cuộc thu thập ý kiến mới đây do Dimensional Research thực hiện cho thấy 46% các quản trị hệ thống không muốn chờ Service Pack 1 rồi mới cài Windows 7. Đây là mức đáng ngạc nhiên vì từ trước tới nay hầu như sự chờ đợi này đã trở thành “truyền thống”. Đây rõ ràng là một dấu hiệu khả quan đối với Microsoft.

Theo PCWorld

Các tính năng Wi-Fi mới trong Windows 7

Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn những tính năng Wi-Fi mới trong Windows 7 như Wi-Fi Protected Setup (WPS), Wireless Router Configuration, Wireless Hosted Networks và các thiết lập 802.1X nâng cao.

Cùng với rất nhiều cải thiện nâng cao đối với Network and Sharing Center, cũng có rất nhiều tính năng Wi-Fi mới được bổ sung trong Windows 7 và Windows Server 2008 R2. Sự hỗ trợ của tính năng Wi-Fi Protected Setup (WPS) cho phép quản trị viên và người dùng dễ dàng thiết lập các router không dây hay điểm truy cập và máy khách không dây hơn rất nhiều. Tính năng Wireless Hosted Networks cũng cho phép người dùng có thể tạo các mạng Wi-Fi ảo. Trong khi đó các thiết lập 802.1X nâng cao cho phép điều khiển tốt hơn các thiết lập xác thực khi sử dụng chế độ Enterprise của bảo mật WPA hay WPA2. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng nhau đi thảo luận về các tính năng đó.

Sự hỗ trợ cho Wi-Fi Protected Setup (WPS) và cấu hình router không dây

Wi-Fi Protected Setup (WPS), được phát triển bởi Wi-Fi Alliance, tính năng này có thể giúp người dùng nhanh chóng và dễ dàng cấu hình bảo mật WPA/WPA2-Personal (PSK) trên các router và máy khách không dây. Một số hãng sử dụng một hoặc hai hoặc cả hai phương pháp cấu hình WPS khác: Personal Information Number (PIN) và Push Button Configuration (PBC).

Phương pháp PIN thường yêu cầu nhập mã PIN của adapter không dây vào giao diện điều khiển web của router. Mã PIN này có thể được in trên adapter hoặc được hiển thị thông qua phần mềm máy khách.

Phương pháp Push Button Configuration (PBC) yêu cầu phải nhấn nút trên router không dây và sau đó nhấn nút trên adapter không dây hay máy tính (hỗ trợ WPS) trong vòng một phút hay gì đó. Hầu hết các adapter không dây đều không có các nút vật lý, tuy nhiên chúng có thể vẫn có một nút trên phần mềm máy khách nếu bạn đã cài đặt nó. Tương tự, các router không dây sẽ có các thiết lập WPS sẵn trên giao diện điều khiển trên nền tảng web.

Các công việc cụ thể của WPS có thể rất khác giữa các hãng phần mềm và phần cứng. Tuy nhiên nhìn chung WPS làm việc giống như sau: Nó sẽ tạo một mật khẩu WPA/WPA2 trên cố gắng WPS đầu tiên khi router không dây vẫn sử dụng các thiết lập mặc định nhà máy. Các máy khách khác tham gia trong các cố gắng WPS lần đầu hoặc sau đó sẽ tự động được cấu hình với cùng mật khẩu WPA/WPA2. Mặc dù vậy, nếu một số thiết lập trên router không dây (chẳng hạn như SSID) đã bị thay đổi (không phải các thiết lập mặc định) trước cố gắng WPS lần đầu thì bảo mật sẽ không được kích hoạt bởi WPS. Nếu bảo mật WPA/WPA2 đã được thiết lập thông qua các phương pháp khác, WPS sẽ vẫn trợ giúp cấu hình các thiết bị máy khách với mật khẩu WPA/WPA2 đang tồn tại.

Microsoft đã bắt đầu giới thiệu thực thi WPS trong hệ điều hành Windows Vista dưới tính năng Windows Connect Now. Việc sử dụng các mã PIN WPS đã được hỗ trợ nhưng yêu cầu bạn phải kết nối khởi tạo thông qua Ethernet. Sau đó Windows Vista SP2 cũng đã bổ sung thêm sự hỗ trợ cho Push Button Configuration (PBC). Tuy nhiên ở đây chúng ta sẽ thảo luận về tính năng WPS trong Windows 7.

Windows 7 hỗ trợ phương pháp PBC. Lần đầu khi bạn kết nối vào router không dây bằng WPS, Windows 7 sẽ nhắc nhở bạn nhập vào khóa bảo mật hoặc nhất nút, như thể hiện trong hình 1.

Hình 1: Nhắc nhở nhập vào khóa PSK hoặc nhấn WPS trên router.

Nếu bạn nhấn nút WPS trên router, thiết lập bảo mật sẽ tự động được truyền tải đến Windows 7, nó sẽ kết nối và một profile sẽ được tạo và được lưu cho các kết nối đến router sau này.

Windows 7 cũng hỗ trợ phương pháp PIN, tuy nhiên chỉ khi thiết lập router lần đầu tiên. Nếu Windows 7 phát hiện ra router đang sử dụng các thiết lập mặc định của nhà máy khi kết nối, nó sẽ nhắc nhở bạn thiết lập router, như thể hiện trong hình 2.

Hình 2: Nhắc nhở thiết lập một router không dây mới

Bạn có thể tiến hành kết nối đến một tín hiệu không an toàn hoặc có thể thiết lập router ngay trong Windows 7. Nếu chọn thiết lập router, bạn sẽ thấy nhắc nhở về mã PIN của router (xem hình 3).

Hình 3: Nhập mã PIN WPS để cài đặt router không dây mới.

Sau đó bạn sẽ gặp nhắc nhở nhập vào Network Name (SSID) và tùy chỉnh các thiết lập bảo mật, như thể hiện trong hình 4.

Hình 4: Nhập các thiết lập không dây.

Khi cấu hình, bạn sẽ thấy các khóa mã hóa sử dụng cho các thiết bị Wi-Fi cũ hơn không hỗ trợ WPS. Nếu có các máy tính Windows XP, bạn thậm chí còn có thể chèn ổ USB vào để copy cấu hình.

Tính năng Wireless Hosted Networks

Một phần trong dự án cũ trước đây có tên gọi Virtual Wi-Fi, tính năng Wireless Hosted Network cho phép người dùng có thể tạo một router không dây ảo với một adapter không dây được hỗ trợ trong Windows 7 hoặc Windows Server 2008 R2. Bạn thậm chí còn có thể cấu hình một mạng không dây ảo trong khi đang kết nối đến một mạng không dây thông thường bằng cách sử dụng cùng adapter vật lý đó.

Bạn có thể sử dụng Wireless Hosted Network để thiết lập một mạng Wi-Fi tạm thời với mục đích chia sẻ file an toàn khi ở ngoài mạng văn phòng và gia đình. Ngoài ra cũng có thể sử dụng nó để mở rộng hay chia sẻ kết nối mạng chạy dây hay không dây. Về cơ bản thì đây là một phiên bản nâng cao của kết nối mạng ad-hoc.

Nếu hệ điều hành Windows 7 hoặc Windows Server 2008 R2 phát hiện ra một adapter mà nó hỗ trợ thì bạn sẽ thấy dòng chữ Microsoft Virtual Wi-Fi Miniport Adapter trên cửa sổ Network Connections, như hình 5 bên dưới.

Hình 5: Adapter ảo cho Wireless Hosted Networks.

Để bắt đầu, chắc chắn bạn sẽ muốn kích hoạt Internet Connection Sharing (ICS) để có kết nối Internet trên mạng host. Trong cửa sổ Network Connections, kích phải vào adapter mạng được kết nối với Internet thông qua một mạng thông thường và chọn Properties. Chọn tab Sharing, tích the Allow other network users to connect through this computer’s Internet connection, chọn Hosted Network Connection từ danh sách hộp kiểm sổ xuống và kích OK.

Tiếp đến, cấu hình mạng host thông qua Command Prompt:

Netsh wlan set hostednetwork mode=allow ssid=YourVirtualNetworkName  key=YourNetworkPassword

Khởi chạy mạng host:

Netsh wlan start hostednetwork

Để stop mạng host:

netshwlan stop hostednetwork

Hình 6 thể hiện ví dụ về các lệnh này.

Hình 6: Cấu hình, khởi chạy, stop Wireless Hosted Network

Wireless Hosted Networks rất hữu dụng và nhận được nhiều sự quan tâm của các kỹ thuật viên, tuy nhiên chúng cũng rất dễ gây ra lỗ hổng bảo mật trên các mạng công ty. Các nhân viên có thể tạo một Wireless Hosted Network, qua đó đã mở một truy cập không dây không kiểm soát vào mạng công ty. Mặc dù được bảo mật với mã hóa WPA2/AES nhưng tất cả đều không được điều khiển bởi các quản trị viên. Nếu đang sử dụng một Windows Server, bạn có thể chặn không cho người dùng tạo Wireless Hosted Networks bằng cách sử dụng các chính sách mạng không dây Wireless Network (IEEE 802.11) Policies.

Các thiết lập 802.1X nâng cao

Microsoft đã giới thiệu các thiết lập nâng cao cho xác thực 802.1X trong các thiết lập chính sách nhóm Group Policy của Windows Vista. Giờ đây hầu hết các thiết lập đó đều có sẵn trên giao diện GUI của Windows 7. Người dùn có thể truy cập bằng cách kích nút Advanced Settings trên tab Security trong hộp thoại Wireless Network Properties (hình 7) và tab Authentication trên hộp thoại Local Area Connection Properties (hình 8).


Hình 7: Tab Security trên hộp thoại Wireless Network Properties


Hình 8: Tab Authentication trên hộp thoại Local Area Connection Properties

Hình 9 hiển thị hộp thoại Advanced Settings.

Hình 9: Hộp thoại các thiết lập 802.1X nâng cao

Phần đầu tiên là nơi bạn có thể chỉ định chế độ xác thực: User, Computer hoặc Guest. Khi sử dụng xác thực User, bạn có thể kích nút Save Credentials để nhập vào username và password. Thêm vào đó, bạn có thể remove các chứng chỉ đã lưu bằng cách đánh dấu hộp kiểm bên dưới.

Phần thứ hai của hộp thoai cho phép bạn kích hoạt và cấu hình tính năng đăng nhập một lần. Nếu được hỗ trợ bởi hệ thống và mạng, việc cấu hình các thiết lập này sẽ hạn chế nhu cầu cung cấp các chứng chỉ đăng nhập riêng. Windows sẽ sử dụng các chứng chỉ tài khoản Windows trong xác thực 802.1X.

Với các kết nối không dây, bạn sẽ tìm được tab 802.11 Settings như thể hiện trong hình 10 bên dưới.


Hình 10: Hộp thoại Advanced Settings

Ở đây bạn có thể kích hoạt và cấu hình việc lưu Pairwise Master Key (PMK). Điều này cho phép bạn có thể roaming nhanh giữa nhiều điểm truy cập không dây. Khi được kích hoạt và hỗ trợ bởi các AP, các AP sẽ chia sẻ các PMK với nhau để các máy khách không phải thực hiện xác thực 802.1X trước khi roaming sang AP khác – tăng tốc quá trình roaming.

Khi kích hoạt PMK caching, bạn cũng có thể kích hoạt và cấu hình chế độ tiền xác thực để phòng khi PMK caching không được hỗ trợ bởi một AP nào đó. Chế độ tiền xác thực sẽ loại bỏ nhu cầu các máy khách thực hiện xác thực 802.1X đầy đủ khi roaming sang AP khác – giúp tăng tốc quá trình roaming.

Trên tab này, bạn cũng có thể kích hoạt chế độ Federal Information Processing Standards (FIPS), đây là chế độ được sử dụng bởi các tổ chức chính phủ ngoài quân đội của Mỹ.

Văn Linh (Theo Windowsnetworking) - quantrimang.com

Tập các công cụ khôi phục và chuẩn đoán lỗi – Phần 1

Trong phần đầu tiên của loạt bài đề cập đến tập các công cụ khôi phục và chuẩn đoán lỗi của Microsoft này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn những kiến thức tổng quan về DaRT 6.5.

Tập các công cụ khôi phục và chuẩn đoán lỗi của Microsoft, viết tắt là DaRT, cung cấp cho người dùng rất nhiều công cụ thú vị để khắc phục các vấn đề đối với máy tính chạy hệ điều hành Windows. DaRT rất hữu dụng khi máy tính của bạn không thể khởi động vì lỗi file hệ thống, gặp các vấn đề không tương thích driver, nhiễm malware hay các vấn đề khác. DaRT cũng có thể trợ giúp nếu bạn cần khôi phục các file bị xóa do vô tình hoặc khi bạn khóa trái mình bên ngoài hệ thống.

Việc re-imaging một máy tính gặp trục trặc thường là cách giải quyết nhanh để khắc phục vấn đề, tuy nhiên phương pháp này không phải lúc nào cũng khả thi. Cho ví dụ, trừ khi tổ chức của bạn có giải pháp triển khai image giống như MDT 2010 ở mỗi địa điểm, duy trì tất cả các image công ty và cập nhật chúng liên tục, redirect dữ liệu người dùng vào các máy chủ thông qua Folder Redirection, bằng không việc re-imaging sẽ là một giải pháp không phù hợp. Trong khi đó các nhân viên trợ giúp được đào tạo về cách sử dụng DaRT có thể khắc phục một cách nhanh chóng các vấn đề xảy ra với máy tính của người dùng, việc khắc phục nhanh chóng này sẽ cho phép giảm được thời gian chết của máy móc và bảo đảm năng suất của người dùng được liên tục.

Bài viết này sẽ cung cấp cho các bạn những kiến thức tổng quan về cách có được tập công cụ này và các công cụ khắc phục sự cố và khôi phục mà nó có. Các phần các trong bài này sẽ giới thiệu về cách sử dụng DaRT trong các tình huống khác nhau.

Các phiên bản DaRT

Phiên bản hiện hành của DaRT là 6.5 và nó hỗ trợ đầy đủ cho Windows 7 và Windows Server 2008 R2. DaRT 6.5 hiện sẵn có trong cả hai phiên bản x64 và x86.

Các phiên bản trước của DaRT gồm có:

  • DaRT 6.0 (x64 và x86) cho Windows Vista, Windows Server 2008.
  • DaRT 5.0 (x86 only) cho Windows XP, Windows Server 2003 và Windows 2000.

Trước phiên bản 5.0, DaRT được gọi là ERD Commander và là một phần của bộ các công cụ Windows Sysinternals.

Làm thế nào để có được DaRT

DaRT 6.5 là một phần của Microsoft Desktop Optimization Pack (MDOP) 2009 R2, do đó bạn cần phải có MDOP nếu muốn sử dụng DaRT. MDOP được cung cấp riêng cho các khách hàng Software Assurance (SA) của Microsoft như một add-on cho các đăng ký, vì vậy bạn phải có một hợp đồng SA với Microsoft nếu muốn có được MDOP. Như những gì thể hiện trong hình 1 bên dưới, MDOP 2009 R2 cung cấp cho bạn DaRT cộng với những thành phần dưới đây:

  • Application Virtualization (App-V)   Cho phép bạn triển khai các ứng dụng theo yêu cầu của người dùng ở bất cứ nơi nào mà không cần cài đặt cục bộ trên các máy tính của họ.
  • Advanced Group Policy Management (AGPM)   Giúp bạn có thể thực hiện chính sách nhóm một cách hiệu quả hơn bằng cách quản lý những thay đổi, phiên bản và quản trị dựa trên vai trò.
  • Asset Inventory Service (AIS)   Cho phép quét các tài nguyên phần mềm có trong tổ chức và sử dụng các thông tin thu thập được để quản lý tốt hơn các tài nguyên này.
  • Microsoft Enterprise Desktop Virtualization (MED-V)   Cho phép bạn có thể triển khai và quản lý các image Virtual PC của hệ điều hành Windows và các ứng dụng, cho phép người dùng truy cập trực tiếp vào các ứng dụng này từ menu Starst, như thể các ứng dụng được cài đặt cục bộ trên máy tính của họ.
  • Microsoft System Center Desktop Error Monitoring (DEM)   Giúp bạn có thể kiểm tra lỗi hệ điều hành và ứng dụng, xác định trước các vấn đề bằng cách sử dụng các cảnh báo tự động và bộ kiểm tra lỗi.


Hình 1: 6 công nghệ có trong MDOP 2009 R2

Giả định rằng bạn đã có một đăng ký khách hàng SA và MDOP, khi đó bạn có thể tiến hành các công việc bằng cách download MDOP 2009 R2 từ Microsoft Volume Licensing Site (MVLS). Nếu hiện chưa có đăng ký khách hàng SA mà bạn muốn kiểm nghiệm DaRT và các phần mềm khác có trong MDOP, hãy download MDOP bằng cách sử dụng MSDN hoặc đăng ký trên TechNet và sử dụng phần mềm này với EULA cho các chương trình này. Để có thêm thông tin chi tiết về chương trình SA của Microsoft, bạn có thể tham khảo tại đây.

DaRT là gì?

Phiên bản 6.5 của DaRT gồm có hai kiểu công cụ cơ bản sau:

  • ERD Commander   Bộ sưu tập các công cụ và wizard có thể sử dụng để thực hiện các thủ tục chuẩn đoán hệ thống và sửa chữa ban đầu. Các tiện ích này sẽ được mô tả chi tiết ở bên dưới.
  • Crash Analyzer   Công cụ dựa trên wizard, cho phép bạn có thể kiểm tra file bị đổ vỡ để xác định vấn đề nằm bên dưới là nguyên nhân gây ra lỗi Windows. Crash Analyzer wizard sẽ yêu cầu bạn phải có các công cụ gỡ rối Debugging Tools cho Windows trên đĩa khởi động DaRT của bạn hoặc được cài đặt vào máy tính mà bạn muốn khắc phục sự cố.

Như những gì trong hình 2 thể hiện, bạn có thể khởi chạy các công cụ ERD Commander hoặc Crash Analyzer wizard từ màn hình Choose A Recovery Tool của Windows Recovery Environment (Windows RE):


Hình 2: Truy cập các công cụ DaRT

Đây là phần tóm tắt tổng quan các công cụ DaRT khác nhau và cách chúng được sử dụng:

  • ERD Registry Editor   Cho phép thực hiện các thay đổi đối với Windows registry trên máy tính Windows không thể khởi động mà bạn đang cố gắng khắc phục. Cộng cụ này có thể rất hữu dụng nếu máy tính không thể khởi động vì các vấn đề có liên quan đến registry.
  • Locksmith   Cho phép bạn thiết lập lại mật khẩu cho bất cứ tài khoản cục bộ nào. Đây là công cụ rất hữu dụng nếu người dùng vô tình khóa trái họ bên ngoài máy tính.
  • Crash Analyzer   Giúp bạn nhanh chóng xác định được tại sao máy tính bị đổ vỡ bằng cách phân tích và thông dịch file kết xuất của bộ nhớ máy tính.
  • File Restore   Cho phép bạn khôi phục các file đã bị xóa khỏi Recycle Bin của máy tính.
  • Disk Commander   Giúp bạn khôi phục và sửa chữa các phân vùng đĩa cứng bằng cách khôi phục bản ghi khởi động chủ Master Boot Record (MBR), bảng partition hoặc các phân vùng bị mất trên máy tính.
  • Disk Wipe   Cho phép xóa tất cả dữ liệu trong một ổ cứng hay một phân vùng nào đó để tránh trường hợp bị lộ các file cá nhân, dữ liệu doanh nghiệp nhạy cảm khi bàn giao máy tính cho bộ phận khác.
  • Computer Management   Công cụ quản trị Windows chuẩn này cho phép bạn có thể quản lý các dịch vụ và thiết bị trên máy tính, quản lý các phân vùng của đĩa cứng, xem thông tin bản ghi sự kiện và thực hiện các bước khác khi khắc phục các vấn đề máy tính.
  • Explorer   Cho phép bạn sử dụng Windows Explorer trong việc duyệt hệ thống file cục bộ của máy tính Windows không thể khởi động. Nếu có kết nối mạng, bạn có thể sử dụng công cụ này để duyệt các thư mục chia sẻ trên mạng.
  • Solution Wizard   Cung cấp một loạt các câu hỏi để trợ giúp bạn chọn được đúng công cụ DaRT thích hợp cho tình huống.
  • TCP/IP Config   Cho phép cấu hình một cách thủ công các thiết lập TCP/IP trên máy tính Windows không thể khởi động khi không có máy chủ DHCP trên mạng.
  • Hotfix Uninstall   Cho phép remove các hotfix hoặc các gói dịch vụ khỏi máy tính không thể khởi động. Công cụ này rất hữu ích khi cài đặt một hotfix nào đó mà làm cho Windows của bạn không thể khởi động.
  • SFC Scan   Có thể được sử dụng để tự động phát hiện hoặc sửa các file hệ thống bị lỗi hay bị mất, các file này chính là nguyên nhân làm cho hệ điều hành Windows không thể khởi động.
  • Search   Giúp bạn có thể tìm ra file dữ liệu của người dùng trên ổ cứng của máy tính Windows không thể khởi động. Bằng cách đó, nếu không có có backup nào gần đây, bạn có thể lưu các file vào thiết bị lưu trữ của mình trước khi thực hiện các bước khắc phục sự cố phức tạp hơn nữa và có thể gây lỗi hoặc xóa mất các file.
  • Standalone System Sweeper   Cho phép thực hiện quét malware offline trên máy tính Windows không thể khởi động. Đây là một công cụ hữu dụng nếu hệ thống được cho là đã bị tiêm nhiễm rootkit, rootkit này được cài đặt nó có thể ẩn nấp để tránh các bộ quét malware trực tuyến có trên máy tính.

Kết luận

DaRT 6.5 cung cấp rất nhiều công cụ hỗ trợ đắc lực cho các cá nhân làm nhiệm vụ khắc phục sự cố. Các bạn có thể sử dụng các công cụ này để khắc phục sự cố và sửa chữa các máy tính Windows không thể khởi động của mình. Một điều quan trọng mà các bạn nên nhớ ở đây, DaRT 6.5 là một phần của MDOP 2009 R2, sản phẩm cần có đăng ký SA. Sử dụng các công cụ có trong DaRT, bạn có thể phân tích các vấn đề xảy ra với máy tính không thể khởi động, xem bản ghi sự kiện, vô hiệu hóa driver thiết bị gặp vấn đề, thu hồi các hotfix, khôi phục các file bị xóa, quét malware máy tính và thực hiện các nhiệm vụ sửa chữa cũng như khôi phục khác trên máy tính Windows không thể khởi động. Trong các phần sau của loạt bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về cách sử dụng DaRT trong một số kịch bản cụ thể.

Văn Linh (Theo Windowsnetworking)

Cài đặt & Gỡ bỏ Service Pack 1 trên Windows 7

Làm thế nào cài đặt / gỡ bỏ, lấy lại dung lượng chiếm dụng khi cài đặt gói cập nhật Service Pack 1 (SP1) trên Windows 7 / Windows Server 2008 R2. Câu trả lời nằm trong bài viết sau đây.

1. Tải và cài đặt Service Pack 1 cho Windows 7:

Microsoft đưa ra nhiều hình thức để người dùng lựa chọn bản cập nhật vá lỗi SP1 cho Windows 7 và Windows Server 2008 R2. (Bài viết thực hiện trên Windows 7)

Không gian đĩa yêu cầu khi cài đặt SP1 trên Windows 7:

- Phương pháp Windows Update : 750 MB với 32-bit & 1050 MB với 64-bit

- Phương pháp cài đặt trực tiếp từ file tải về hoặc từ DVD: 4100 MB với 32-bit & 7400 MB với 64-bit

Cách 1: Tải trực tiếp từ Microsoft Download Center

Truy cập vào trang http://go.microsoft.com/fwlink/?LinkId=199583, lựa chọn phiên bản phù hợp (32-bit và 64-bit) với máy bạn đang sử dụng > Continue. Hoặc tải trực tiếp từ các link sau:

- Bản cập nhật SP1 cho Windows 7 32-bit: http://goo.gl/UH2g (dung lượng 537,8 MB)

- Bản cập nhật SP1 cho Windows 7 64-bit: http://goo.gl/AXOj (dung lượng 903,2 MB)

- Bản cập nhật SP1 cho Windows 7 32-bit & 64-bit (.iso): http://goo.gl/20D4j (dung lượng 1,9 GB)

Một khi tập tin được tải về, nhấp đúp vào nó (* .exe) để cài đặt. Thực hiện theo các bước trên màn hình cho đến khi hoàn tất cài đặt bản cập nhật SP1 trên máy tính Windows 7. Bạn có thể phải khởi động lại máy để hoàn tất việc cài đặt.

Cài đặt & Gỡ bỏ Service Pack 1 trên Windows 7

Với tập tin tải về là ISO (bản cập nhật chung cho cả 32-bit và 64-bit), bạn dùng các chương trình ghi đĩa như Ashampoo Bruning Studio, Nero, Ultra ISO,… đánh ra đĩa DVD và cài đặt.

Cách 2: Thông qua Windows Update

Bản Service Pack 1 cho Windows 7 RTM và Windows Server 2008 R2 bây giờ đã có thể tải về từ Microsoft Download Center. Nếu bạn không muốn tự tải các file SP1 dung lượng lớn và cài đặt nó, bạn có thể cập nhật SP1 thông qua dịch vụ Windows Update.

Cập nhật cho Windows 7 SP1 thông qua Windows Update khá đơn giản. Chỉ cần làm theo các bước dưới đây:

Cài đặt & Gỡ bỏ Service Pack 1 trên Windows 7

- Gõ Windows Update trong hộp tìm kiếm của menu Start và nhấn Enter. Trong cửa sổ Windows Update, nhấp vào nút Check for updates hoặc liên kết ở bảng bên trái để kiểm tra các bản cập nhật mới nhất cho Windows 7 từ Microsoft. Khi quá trình kiểm tra hoàn tất, danh sách các bản cập nhật sẽ hiển thị bên trong khung Install updates for your computer, trong đó tại mục Important updates are available là những bản cập nhật quan trọng cần cài đặt, nhấn chuột lên liên kết này.

Cài đặt & Gỡ bỏ Service Pack 1 trên Windows 7

- Trong giao diện hiện ra, chọn mục có tên Service Pack for Microsoft Windows (KB976932) trong danh sách và nhấn vào nút OK. Và, cuối cùng nhấn nút Install Updates để bắt đầu cài đặt Service Pack 1.

Cài đặt & Gỡ bỏ Service Pack 1 trên Windows 7

- Kết thúc, bạn cho máy tính khởi động lại để hoàn tất thủ tục cài đặt SP1. Lưu ý rằng bạn cần phải gỡ bỏ cài đặt phiên bản Windows 7 SP1 Release Candidate trước khi cài đặt SP1 RTM.

2. Lấy lại dung lượng bị chiếm dụng cho ổ đĩa khi cài đặt SP1:

Trong quá trình cài đặt cài đặt SP1 cho Windows 7, hệ thống sẽ tạo bản sao lưu những thành phần cần thiết để phục hồi khi quá trình cài đặt có xảy ra lỗi. Nếu việc cài đặt thành công, bạn có thể lấy lại dung lượng những thành phần chiếm dụng ấy trên hệ thống bằng cách sau:

- Nhập Disk Cleanup vào hộp tìm kiếm trên menu Start > nhấn Enter. Trong giao diện xuất hiện, bạn nhấn vào nút Clean up system files > Yes.

Cài đặt & Gỡ bỏ Service Pack 1 trên Windows 7

- Bạn sẽ tìm thấy mục Service Pack Backup Files trong danh sách, đánh dấu chọn vào nó và sau đó kích nútOK.

Cài đặt & Gỡ bỏ Service Pack 1 trên Windows 7

- Bạn chỉ việc chờ đợi khi quá trình dọn dẹp hoàn tất rồi ra kiểm tra dung lượng ổ đĩa để biết kết quả.

3. Gỡ bỏ Service Pack 1 ra khỏi Windows 7:

Nếu bạn nhận thấy rằng một thiết bị phần cứng hoặc một chương trình cài đặt có vấn đề sau khi cài đặt bản vá SP1, hoặc đơn giản chỉ muốn loại bỏ bản SP1 ra khỏi Windows 7, chỉ cần làm theo các cách hướng dẫn dưới đây.

Cách 1: Sử dụng Programs and Features

- Mở Control Panel và nhấn vào Programs > Uninstall a program. Bây giờ nhấn vào liên kết View installed updates được đưa ra trong thanh bên trái.

Cài đặt & Gỡ bỏ Service Pack 1 trên Windows 7

- Bản cập nhật của SP1 có tên Service Pack for Microsoft Windows (KB976932) bạn tìm trong danh sách đưa ra và nhấn vào nút Uninstall trên thanh công cụ để gỡ bỏ. Bạn cũng có thể nhấp chuột phải vào gói cập nhật và chọn tùy chọn Uninstall.

Cài đặt & Gỡ bỏ Service Pack 1 trên Windows 7

- Một hộp thoại hiện ra, nhấn vào nút Yes để xác nhận gỡ bỏ. Sau khi gỡ bỏ hoàn tất, bạn cho máy khởi động lại là xong.

Cách 2: Sử dụng Command Prompt

- Nhắp chuột vào nút Start > All Programs > Accessories. Nhấp chuột phải vào Command Prompt và chọnRun As Administrator. Bạn cũng có thể mở Command Prompt trong chế độ Administrator bằng cách gõcmd trong hộp Search và nhấn tổ hợp phím Ctrl + Shift + Enter.

Cài đặt & Gỡ bỏ Service Pack 1 trên Windows 7

- Tại dấu nhắc lệnh bạn gõ lệnh wusa.exe /uninstall /kb:976932 và nhấn Enter. Nó sẽ yêu cầu xác nhận, bạn nhấn vào nút Yes.

Cách 3: Sử dụng System Restore

- Nhấp vào nút Start. Trong ô tìm kiếm, gõ System Restore, trong danh sách kết quả, nhấp vào biểu tượngSystem Restore > nhấn Enter. (Trước khi bạn sử dụng System Restore, bạn cần đảm bảo chương trình vẫn còn đang trạng thái kích hoạt)

Cài đặt & Gỡ bỏ Service Pack 1 trên Windows 7

- Khi giao diện sử dụng System Restore xuất hiện trên màn hình, bạn chọn ô Choose a different restore pointbên dưới để hiển thị tất cả các điểm phục hồi > Next. Các điểm khôi phục sẽ được dán nhãn Install: Windows Update hoặc Install: Windows 7 Service Pack 1.

Cài đặt & Gỡ bỏ Service Pack 1 trên Windows 7

- Chọn thời điểm mà bạn chắc chắn rằng máy tính của mình hoạt động hiệu quả > Next, và sau cùng nhấn nútFinish. Máy tính sẽ khởi động lại và thực hiện quá trình khôi phục.

Theo XHTT (HowToGeek)

Đề thi học kỳ 2 lớp 12 môn Toán có đáp án (2009-2010, Thừa Thiên Huế)

Kì thi học kì 2 năm học này đã cận kề. MATHVN post đề thi học kỳ 2 lớp 12 môn Toán năm học 2009-2010 của tỉnh Thừa Thiên Huế và đáp án chi tiết để học sinh và giáo viên Toán THPT ở HUẾ tham khảo.
Tải file PDF ở đây: DOWNLOAD DAP AN DE THI HK 2 LOP 12 MON TOAN (T.T. HUE)

Xem thêm: Đề cương ôn tập và đề thi thử học kì 2 môn Toán 2011 / Đề thi và đáp án HK1 năm 2010-2011 của Thừa Thiên Huế.

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011

Mục tiêu ở phía trước mà cứ nhìn về phía sau

Mục tiêu ở phía trước mà cứ nhìn về phía sau
(Tâm sự của một teen lớp 13 về những áp lực trong việc ôn thi lại Đại học)

Kết thúc một ngày dài chạy sô học thêm, nó mơ hồ nhìn ra cửa sổ tối đen. Hôm nay trời có trăng, ánh trăng vằng vặc tận trên cao, nơi chứa biết bao niềm tin, hy vọng của bản thân và gia đình đang đè nặng lên trên đôi vai của nó.
Muc tieu thanh cong, tam su teen lop 13
Trong khi bạn bè của nó đứa thì Đại học, đứa thì cao đẳng chỉ có nó là vẫn đang còn là một học sinh, vẫn đang dùi mài kinh sử để thi lại, cánh cửa Đại học với nó thật lớn lao và xa vời làm sao.

Hôm nay nó có dịp nhìn lại chặng đường mà nó đã quyết định đi - một con đường cô độc chỉ có mình nó. Nó đã chọn và nó sẽ chẳng dám than thở với ba mẹ nhưng nhiều lúc nó tủi thân đến phát khóc khi nhìn những đứa bạn của mình đang vui vẻ là một sinh viên thì nó vẫn phải ở nhà hì hụi làm bài tập. Nó nhớ lại những kỉ niệm năm 12, giờ đây mỗi đứa một nơi không biết phương trời nào gặp lại. Nó buồn não nề…

Nhớ ngày nào cứ sáng lên lớp học chính khóa cười đùa vui vẻ, đi học thêm cả nhóm, nhớ những đêm cắm trại lớp, nhớ những tiết học nhàm chán hay những tiết học cứ lén lút lấy bài tập khác ra làm, nhớ cả những lúc học nhóm cả bọn cứ tranh cãi nhau om sòm cả lên… Nó nhớ nhớ rất nhiều!

Tối nay cũng như bao tối khác, cái buổi tối của teen 12 và teen 13 khác nhau đến thế sao. Nhớ ngày nào tối đi học thêm về mẹ cũng pha sẵn sữa cho mình uống, quan tâm từng li từng tí, lại còn ngồi nói chuyện lúc mình ăn cơm...


Thế mà khi là một teen "lớp 13" thì tất cả đã trở thành dĩ vãng thật rồi, đi học một mình, ngồi thu lu một góc học chẳng nói chuyện với ai cả, về nhà thì cắm đầu vào học bài chẳng ló ra khỏi phòng, tối đi học thêm về thì có cơm đã phần sẵn và cả nhà đã ngủ hết rồi, sẽ chẳng có ai ngồi nghe mình kể chuyện học hành, ngồi một cục ăn cơm mà nước mắt nó cứ ứa ra. Nó tủi thân quá chừng… Chặng đường ôn thi lại sao lắm gian nan thế này.

Nó ngồi vào bàn học, lật trang vở ra, thở dài não nề, kiến thức biết bao nhiêu là cho đủ, càng học nó càng thấy mình có quá nhiều lỗ hổng. Ai nói thi lại sẽ có cái lợi hơn nhiều, chỉ biết rằng có quá nhiều thời gian nên thành ra bị chi phối bởi rất nhiều thứ.

Nó nghĩ về bài báo nó đọc, có rất nhiều người thi lại đậu với điểm số khá cao nhưng cũng có rất nhiều người ban đầu thì quyết tâm lắm nhưng rồi bị thời gian làm lung lay ý chí cuối cùng mang danh là ôn thi lại nhưng điểm số lại tệ hơn năm ngoái. Nó sợ, sợ phải thất bại một lần nữa.

Năm 2 rồi, thời gian có chờ đợi con người đâu nên nó sẽ phải đuổi theo thời gian, chỉ còn hơn 4 tháng nữa là thi rồi. Nó nhìn lại kiến thức của mình cứ như muối bỏ bể, đôi lúc ngồi học nhưng không thể tập trung được thì nó lại tự trách mình, một năm trời chịu đựng lời ra tiếng vào của mọi người, một năm trời đối diện với thành công bị trì hoãn, một năm cô độc…

Với nó thật là những tháng ngày khủng khiếp. Nó sẽ phải cố gắng, cố gắng nhiều hơn nữa mới có hy vọng đậu Đại học được. Nó cũng ý thức được rằng con đường ĐH không phải là con đường duy nhất nhưng với nó thì đây là con đường dễ đi nhất và có thể giúp nó tỏa sáng được.

Bỏ qua những suy nghĩ lung tung nó lại quay về với cuồng quay của một teen “lớp 13”, học và học thật nhiều. Nó không thể chấp nhận mình sẽ thất bại một lần nữa. Nó tin rằng với những gì mà nó đã cố gắng thì nhất định sẽ thành công…
Tác giả: congcm668

Bài đăng phổ biến