Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngô Bảo Châu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngô Bảo Châu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 9, 2012

Ngô Bảo Châu vào Top 50 người Tiên phong 2012

Top 50 người Tiên phong 2012 được trang tin nhanh Vnexpress tổ chức bầu chọn. 50 người tiên phong gồm các doanh nhân, nhà khoa học, bác sĩ, nghệ sĩ, kiến trúc sư, nhà quản lý, chuyên gia thiết kế... đang hoạt động và có thành tựu mang tính đột phá trong 5 lĩnh vực: Kinh doanh, Xã hội, Nghệ thuật, Thể thao và Khoa học - Công nghệ.
giao su ngo bao chau, top 50 nguoi tien phong 2012
Giáo sư Ngô Bảo Châu được đề cử vào Top 50 người tiên phong. Ảnh chụp màn hình
Kết quả chính thức sẽ do một ban giám khảo quyết định. Tuy nhiên, để tăng thêm độ hot của Giáo sư, bạn đọc có thể bầu chọn cho Ngô Bảo Châu tại link này, bằng cách bấm vào nút "Quan tâm" (màu đỏ) ở dưới ảnh của giáo sư ở link đó (đã hết hạn bầu chọn).

Hiện tại Giáo sư đáng kính của chúng ta đang đứng thứ 9 trong top do độc giả bầu chọn (lượt thích 1207, tính đến 22:30 20/9/2012).

Danh sách 50 Người tiên phong sẽ được công bố vào ngày 16/10/2012 trên VnExpress. MATHVN sẽ cập nhật khi có tin vui!

Cập nhật 16/10/2012:

Ngày 16/10, VNExpress đã công bố danh sách 50 người tiên phong 2012, trong đó có Giáo sư Ngô Bảo Châu đáng kính của chúng ta: Xem đầy đủ danh sách 50 người

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

Phong trào chuyên Toán: Trăn trở của người trong cuộc

Dưới sự chủ trì của Giáo sư Ngô Bảo Châu, viện Nghiên cứu cao cấp về Toán đã tổ chức buổi toạ đàm giữa các nhà toán học, các nhà giáo dục, giáo viên chuyên toán và đại diện một số diễn đàn toán học để bàn về vấn đề bồi dưỡng giáo viên chuyên toán và học sinh giỏi toán.
phong trao chuyen toan
Giáo sư Ngô Bảo Châu tại Hội nghị Toán học Việt-Pháp (Huế, 8/2012)

Trăn trở của người trong cuộc


Thực trạng đã diễn ra nhiều năm là không nhiều học sinh chuyên toán nói chung và các học sinh đoạt giải học sinh giỏi toán nói riêng tiếp tục theo học toán ở bậc đại học. Hệ quả là các khoa toán ở các trường đại học thiếu sinh viên giỏi, xuất sắc để có thể tiếp tục đào tạo ở cấp học cao hơn, tạo thành lực lượng kế cận sau này. GS Phùng Hồ Hải (viện Toán học Việt Nam) chia sẻ: “Nhiều năm nay tôi tham gia giảng dạy cho các lớp tài năng tại đại học Sư phạm, trung bình trong số 20 em của lớp này chỉ có chừng hai, ba em từng là học sinh giỏi quốc gia”. GS Nguyễn Hữu Dư, tổng thư ký hội Toán học Việt Nam bổ sung: “Khối chuyên toán đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội từ lâu luôn tự hào đã đào tạo nhiều thế hệ học sinh sau này trở thành những nhà toán học xuất sắc, nhưng vài năm gần đây mạch nước quý đó dường như đã ngừng lại”.

Dưới góc nhìn của các giáo viên chuyên toán thì phong trào dạy và học chuyên nói chung và chuyên toán nói riêng đang chững lại. Học sinh luôn đứng trước sự lựa chọn giữa con đường học chuyên sâu để thi học sinh giỏi quốc gia và con đường học ngoại ngữ để đi du học, thêm vào đó là tác động của những thay đổi chính sách khiến học sinh giỏi không còn quá mặn mà với việc học chuyên. Bên cạnh đó, việc thiếu các chế độ đãi ngộ xứng đáng cũng dẫn đến tình trạng các trường rất khó thu hút giảng viên giỏi về dạy chuyên. TS Đậu Hoàng Hưng, tổ trưởng tổ toán trường THPT chuyên Phan Bội Châu – Nghệ An cho rằng việc bỏ các lớp chuyên cấp 2 và kỳ thi học sinh giỏi toán lớp 9 đã khiến các trường chuyên phải vất vả bổ sung các kiến thức rất cơ bản về số học, hình học phẳng cho học sinh. Tiếp theo ý kiến này, GS Lê Tuấn Hoa, chủ tịch hội Toán học Việt Nam cho rằng với cách học vượt, học lướt, học sinh chỉ học được phần ngọn, tức là kỹ năng giải các bài toán theo khuôn mẫu nhất định.

Những cố gắng ban đầu


Mặc dù có những khó khăn nhất định, dù có những lúc bị tác động dữ dội, nhưng phong trào học sinh giỏi toán vẫn tiến về phía trước. Những năm gần đây, với sự tích cực của một số tổ chức, cá nhân, một số hoạt động có tác dụng thúc đẩy phong trào dạy và học chuyên toán đã được tổ chức. Đó là chương trình Trại hè toán học Hùng Vương do hội Toán học Hà Nội và một số trường chuyên vùng Tây – Việt Bắc và trung du Bắc bộ tổ chức, là Olympic duyên hải Bắc bộ, Olympic Hà Nội mở rộng. Ở phía nam, bên cạnh kỳ thi Olympic 30.4 truyền thống có kỳ thi Olympic đồng bằng sông Cửu Long, hội thảo liên kết các tỉnh duyên hải và Tây Nguyên.

Ở viện Toán học Việt Nam, dưới sự tài trợ của quỹ Phát triển toán học Việt Nam, một nhóm cán bộ trẻ của viện (hầu hết đã từng tham dự Olympic toán quốc tế) đã tổ chức CLB Toán học với mục đích cung cấp các kiến thức chuyên toán, luyện tập giải toán và lôi kéo học sinh ham thích toán học. Qua hoạt động của câu lạc bộ, các học sinh chuyên toán đã được học trực tiếp với các nhà toán học và các giáo viên chuyên toán như GS Hà Huy Khoái, GS Ngô Bảo Châu, GS Vũ Hà Văn, GS Phùng Hồ Hải, TS Nguyễn Minh Hà, TS Nguyễn Duy Thái Sơn, TS Phan Thị Hà Dương, TS Nguyễn Chu Gia Vượng, TS Vũ Thế Khôi, TS Lê Anh Vinh… Bên cạnh những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho mục tiêu trước mắt của học sinh là các kỳ thi học sinh giỏi, học sinh còn được tiếp cận với những khởi đầu của toán cao cấp, làm quen với các vấn đề của toán học hiện đại.

Ở TP.HCM, một câu lạc bộ toán học được tổ chức với các seminar phương pháp toán sơ cấp. Đặc biệt, chương trình Gặp gỡ toán học qua bốn lần tổ chức (từ tháng 1.2010) với nhiều hoạt động phong phú đã thu hút hàng trăm lượt học sinh từ các tỉnh thành tham dự. Đây cũng là dịp để các học sinh yêu toán khu vực phía nam được học và giao lưu với các giáo sư toán học hàng đầu của Việt Nam, với những giáo viên chuyên toán nổi tiếng.

Bên cạnh các hoạt động trực tiếp nói trên, không thể không kể đến những đóng góp của các diễn đàn toán học, trong đó nổi bật nhất là diendantoanhoc.net và mathscope.org. Các diễn đàn là kênh giao lưu chia sẻ tài liệu và kinh nghiệm học tập rất hiệu quả, xoá nhoà khoảng cách về mặt tài liệu giữa các thành phố và vùng sâu vùng xa. Chính nhờ một phần vào những diễn đàn này mới có sự thành công của các học sinh học trường huyện như Võ Văn Huy – huy chương đồng toán quốc tế 2011, Nguyễn Đình Toàn – giải nhất học sinh giỏi toán quốc gia 2012.

Chờ một cú hích


Ghi nhận ý kiến của các đại biểu dự hội thảo và phần báo cáo sơ lược về hoạt động của các câu lạc bộ và diễn đàn Toán học, GS Ngô Bảo Châu gợi ý đại biểu tập trung đề xuất các hoạt động cụ thể nhằm thúc đẩy các hoạt động bồi dưỡng giáo viên chuyên toán, bồi dưỡng học sinh giỏi toán và chung hơn nữa là truyền bá toán học. Các cơ chế và động cơ vận hành của các hoạt động hiện hữu nên tiếp tục được phát huy, vấn đề là làm sao tổ chức quy củ hơn, chuyên nghiệp hơn và hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, với sự vào cuộc của viện Nghiên cứu cao cấp về toán và chương trình trọng điểm Phát triển toán học Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020, có thể nghĩ đến các hoạt động có ảnh hưởng sâu rộng hơn, cần sự đầu tư lớn hơn về nhân lực, tài lực.

GS Hà Huy Khoái, nguyên viện trưởng viện Toán học Việt Nam, người nhiều năm tham gia bồi dưỡng và dẫn đội tuyển Việt Nam dự thi toán quốc tế đề xuất học tập kinh nghiệm của Nga trong việc tổ chức viết các cuốn sách nhỏ để truyền bá toán học và các chuyên đề chuyên toán. Bên cạnh đó, học tập kinh nghiệm một số nước, có thể khai thác sức mạnh của internet qua các lớp học trực tuyến.

Tiếp nối ý kiến của GS Hà Huy Khoái, TS Nguyễn Chu Gia Vượng đề xuất: “Chúng ta có thể bắt đầu chương trình xuất bản sách truyền bá toán học bằng cách dịch các cuốn sách hay của Nga, Mỹ…” Ý kiến này được đa số đại biểu ủng hộ.

Tổng hợp ý kiến của các đại biểu tham dự, GS Ngô Bảo Châu đưa ra chương trình hành động bốn điểm của nhóm hạt nhân, đó là: tổ chức hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi; tổ chức hoạt động bồi dưỡng giáo viên; tổ chức viết các tài liệu chuyên đề và truyền bá toán học; nâng cao hiệu quả và tính định hướng của các diễn đàn toán học. GS Ngô Bảo Châu cũng đề nghị GS Hà Huy Khoái nhận lãnh trách nhiệm người đứng đầu cho mảng chuyên toán, lịch sử toán học và truyền bá toán học.

Như vậy, phong trào chuyên toán sau những giai đoạn khủng hoảng và thiếu định hướng đã có những tín hiệu ổn định, và đang chờ một cú hích như cú hích năm 2010 mà GS Ngô Bảo Châu đem đến cho toán học Việt Nam.

Theo TS. TRẦN NAM DŨNG (SGTT)

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2012

Giáo sư Ngô Bảo Châu và hoạt động của viện nghiên cứu cao cấp về Toán

MATHVN xin giới thiệu bài phỏng vấn Giáo sư Ngô Bảo Châu về hoạt động của viện nghiên cứu cao cấp về Toán cũng như lớp hè 2012 của giáo sư. Bài đăng trên VNExpress.
giao su ngo bao chau, hoat dong vien nghien cuu cao cap ve toan
Giáo sư Ngô Bảo Châu về nước tổ chức lớp hè 2012
- Lớp học hè của giáo sư được học viên đánh giá rất cao, giáo sư có phương pháp gì giúp học viên dễ dàng tiếp cận với kiến thức khó?

- Ở mỗi lớp, mỗi đề tài có một phương pháp tiếp cận khác nhau. Tôi lấy ví dụ như lớp sinh hoạt Khoa học máy của GS Hồ Tú Bảo, Xuân Long, John Lafferty có học viên là cán bộ, giảng viên nhiều trường đại học kỹ thuật, bách khoa, quốc gia... có quan tâm đến lĩnh vực học máy. Cách tiếp cận rất hiện đại như dùng thống kê và đủ mọi thứ trong tin học, từ việc truyền thống như nhận dạng tiếng nói, chữ viết cho đến ngành mới trong sinh học như y sinh, nghiên cứu phân tử tế bào bằng phương pháp thống kê.

Lớp của tôi là toán lý thuyết. Tôi có tổ chức một lớp gồm mấy chục sinh viên năm cuối đại học ở ĐH Quốc gia, Vinh, TP HCM và khoảng 5-6 em ở bên Mỹ về tham gia với lớp. Dù học viên ở trình độ khác nhau nhưng sinh hoạt rất sôi nổi. Tôi tin vào học chủ động, không phải chỉ đơn giản là thầy giáo giảng bài, học sinh chép. Tôi tổ chức lớp có hai phần, để cho kể cả những em trình độ thấp và cao đều không bị mất phương hướng.

Đó là xen kẽ một buổi học theo cuốn sách cổ điển, chia thành các chương để các em mỗi em được giao đọc, trình bày và viết lại chương đó. Một buổi khác thì tổ chức seminar về vấn đề thời sự trong lý thuyết số.

Đối với các em nghiên cứu sinh, tôi cũng giao cho đọc mỗi người một mảng khác nhau và trình bày lại. Lớp học này đang triển khai và tuần sau có thể xong. Ở Viện Toán, buổi sáng có seminar, chiều các em tự học, tự trao đổi. Sinh viên đại học có chỗ nào chưa hiểu thì có thể hỏi thêm nghiên cứu sinh, những người có hiểu biết sâu rộng. Mặc dù kiến thức rất khó nhưng các học viên vẫn bám được vào rất tốt.

- Toán học cơ bản tương đối trừu tượng và khó thu hút, Viện Toán đã có kế hoạch phát triển toán học ứng dụng như thế nào?

- Toán học ứng dụng đòi hỏi kinh phí nhiều hơn toán cơ bản. Viện sẽ phải đầu tư nhiều về tài chính và công sức để tìm người thực sự có chuyên môn và ảnh hưởng quốc tế lớn dẫn dắt Toán học ứng dụng. Như năm nay, lần đầu tiên Viện tổ chức khóa học máy may mắn đã có GS Hồ Tú Bảo, Xuân Long, Ngô Quang Hưng là ba nhà khoa học người Việt làm việc ở nước ngoài rất có uy tín trong lĩnh vực này về nước giảng dạy.

GS Bảo có thuận lợi là mỗi năm về nước 10-12 lần nên sự gắn kết với anh em đang làm việc tại Việt Nam rất lớn. Buổi đầu tiên giáo sư giảng có 120 người đến dự, những buổi sau chuyên sâu cũng có tới 60-70 người đến dự. Ngoài ra, ông còn mời được GS John Lafferty ở ĐH Chicago - một trong những chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực học máy về dạy.

Chương trình này chắc chắn sẽ tiếp tục được giảng dạy ở những năm tới. Tuy nhiên sẽ có sự điều chỉnh như học máy trong lĩnh vực nào đó tập trung hơn như nhận dạng chữ viết, xử lý văn bản, từ điển, làm về y sinh... Và mỗi một lĩnh vực thì ban giám đốc phải tìm được người đầu đàn dẫn dắt, phải có giáo sư người Việt ở nước ngoài, giáo sư ở Việt Nam và giáo sư người nước ngoài giúp đỡ giảng dạy... thì mới có thể thành công.

Trong thời gian tới, Viện cũng chuẩn bị triển khai một số lĩnh vực như toán trong cơ học chất lỏng, toán trong truyền thông, Vật lý vũ trụ học...

- Những hoạt động của Viện Toán đã diễn ra như thế nào so với kế hoạch và kỳ vọng đặt ra, thưa giáo sư?

- Mọi việc diễn ra suôn sẻ hơn so với những gì tôi dự định. Cả về hành chính, quản trị, khoa học... đều thực hiện rất tốt, mọi người tham gia công tác ở Viện đều nhiệt tình và thiện tâm.

Chương trình Khoa học máy do GS Bảo, anh Long đề xuất, Viện hỗ trợ. Mọi công việc giảng dạy cũng do các anh tổ chức, điều hành. Cũng chính các anh đã mời được GS John Lafferty - một trong số những người giỏi nhất về khoa học máy trên thế giới về giảng dạy. Dù John dạy cùng trường với tôi, cũng quen biết sơ sơ nhưng tôi không biết ông ấy xuất sắc về mảng đó cho đến khi anh Bảo, Long nói với tôi.

Sau này các hoạt động khác cũng sẽ như thế. Viện sẽ định hướng về đề tài, còn việc tổ chức là do một số người có chuyên môn, tự đề xướng, tự thực hiện bởi bản thân lãnh đạo Viện không thể tham dự vào việc tổ chức một cách cụ thể như vậy.
tru so vien nghien cuu cao cap ve toan 2012
Viện NCCC về Toán (VIASM) đang đặt trụ sở tại Tầng 7, Thư viện Tạ Quang Bửu, số 1 Đại Cồ Việt, Hà Nội. Hiện viện đang chuẩn bị xây trụ sở mới tại Mễ Trì
- Các nhà nghiên cứu cho rằng để khuyến khích nhiều người học toán và phát triển toán học trước hết cần mở rộng khoa Toán ở các trường đại học, quan điểm của giáo sư như thế nào?

- Mọi người nói nhiều đến phương pháp nhưng tôi thấy quan trọng nhất là trình độ, bởi trình độ khoa học thực chất là cần thiết. Chúng ta đang thiếu người có trình độ tiến sĩ để giảng dạy toán ở các trường đại học. Có phương pháp, có nhảy múa quay cuồng nhưng nếu không hiểu toán anh cũng không dạy được. Chính vì vậy việc đào tạo nhiều người có trình độ tiến sĩ cho các đại học là rất cần thiết.

Những người giảng ở trường đại học nhỏ không cần thiết phải có công trình nghiên cứu sắc bén nhưng họ phải hiểu kiến thức cơ bản của toán học một cách chắc chắn. Việc tôi và anh Lê Tuấn Hoa phối hợp với bên Pháp gửi giảng viên sang Pháp học tiến sĩ theo chương trình 322 đến nay có hơn 100 em đã được gửi sang học. Chương trình 322 hỗ trợ 1 năm master, sau đó các trường ĐH Pháp cho học bổng để làm tiến sĩ.

Trong vòng 5 năm, hơn một nửa số đó sẽ có bằng tiến sĩ về phục vụ đất nước. Đáng tiếc là chương trình 322 vừa phải dừng lại. Không phải tất cả các giảng viên đi học đều giỏi, xuất sắc nhưng ít nhất là họ được đào tạo, có kiến thức cơ bản, sẽ là đầu tàu, chủ lực trong việc dạy toán ở Việt Nam.

- Vừa công tác ở Đại học Chicago vừa về Việt Nam lãnh đạo Viện Toán cao cấp, khó khăn nhất đối với giáo sư là gì?

- Khó khăn nhất là về vấn đề cuộc sống gia đình. Giáo sư đại học có hai tháng nghỉ hè để đi chơi với con cái, giờ tôi mất hai tháng nghỉ hè đó. Trong năm học thì cũng phải về một hai lần lo những việc cụ thể của Viện.

Trong năm đầu tiên Viện mới ra đời thì có nhiều việc phải làm. Anh Lê Tuấn Hoa đã lo những công việc hàng ngày của Viện, điều hành hệ thống tổ chức hành chính hoạt động đã rất trơn tru và quy củ.

Công việc chính của tôi là làm việc với hội đồng khoa học của Viện, để chọn lọc những hồ sơ những chương trình chuyên biệt đăng ký đến làm việc ở Viện 2-3 tháng, tìm cách xây dựng những chương trình mới cho những năm tiếp theo. Công việc chính có thể trao đổi qua email, tuy nhiên một năm lãnh đạo Viện cũng phải họp 2-3 lần.

- Viện có những định hướng phát triển gì cho những em tham gia lớp học hè ở Viện, thưa giáo sư?

- Năm nay, các lớp học hoạt động tốt hơn tôi mong đợi. Trước khi về nước tôi nhờ các anh trong hội đồng khoa học giới thiệu cho tôi những sinh viên giỏi, có quan tâm đến chuyên môn của tôi. Các anh viết giấy giới thiệu, gửi cho tôi bảng điểm của các em và cuối tháng 5 tôi lên danh sách lớp. Sau đó, bộ phận hành chính gửi giấy mời cho các em, lo những việc về hậu cần.

Tôi thật sự mừng khi những phần tôi giao các em viết lại đều rất mạch lạc, cẩn thận. Đặc biệt hơn, khi tôi hỏi các em "Lớp học có ích cho các em không?", tất cả đều trả lời là "Rất có ích" và nói rằng các em rất quý thời gian ở đây, được trao đổi thêm với các bạn nghiên cứu sinh ở Mỹ về, chia sẻ kinh nghiệm học tập, nghiên cứu.

Đối với những em đang học đại học, khi tôi biết các em rõ về các em hơn thì tôi có thể giới thiệu các em đi học nước ngoài. Việc du học hiện nay không phải là quá khó nữa.

MathVn.Com (Theo Hoàng Thùy, VNExpress)

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012

Ngô Bảo Châu bị ném đá

Nếu online thường xuyên trong những ngày Tết Nguyên đán 2012, chắc chắc giáo sư Ngô Bảo Châu đáng kính của chúng ta sẽ bị ... sứt đầu mẻ trán. Ngô Bảo Châu đang bị ném đá hội đồng!
Thần tượng NGÔ BẢO CHÂU đang dần dần sụp đổ!
Ngo bao chau bi nem da

Tiếc cho Ngô Bảo Châu, (cựu nhà báo) Trương Duy Nhất có bài "Giá như Ngô Bảo Châu":
Giá như Ngô Bảo Châu từ chối căn hộ hơn 10 tỷ chính phủ làm quà cho… bố mẹ mình. Bởi với một tài năng và vị thế như anh, không đến nỗi gì lại không thể tự lo cho bố mẹ một chỗ ở đàng hoàng. Tôi không tin Ngô Bảo Châu túng đến vậy.

Giá như Ngô Bảo Châu không nhận khu biệt thự mấy triệu đô từ “chúa đảo” Tuần Châu Đào Hồng Tuyển tặng Viện toán. Bởi tôi không tin Ngô Bảo Châu không biết gì về Đào Hồng Tuyển. Trụ sở Viện có rồi. Nó nằm ở Hà Nội. Khu biệt thự này có chăng cũng chỉ để cho giáo sư Châu cùng các đồng sự trong Viện cuối tuần thi thoảng kéo nhau về nghỉ dưỡng.

Giá như Ngô Bảo Châu không ngửa tay nhận 650 tỷ từ nguồn ngân sách chính phủ để… làm gì tùy thích mà “không bị yêu cầu phải nghiên cứu cái gì". Nếu muốn làm gì thì làm, “không bị yêu cầu phải nghiên cứu cái gì" thì lập ra cái Viện nghiên cứu toán kia để làm gì? Vả lại, số tiền đó nếu có, với tình hình hiện tại, nên dồn cho việc khác. Tôi không nói là việc nghiên cứu toán cao cấp với “bổ đề” bổ điếc kia không cần tiền, nhưng trong lúc này, hoàn cảnh này, nhiều thứ khác cần tiền hơn, thiết thực, cấp thiết và “bổ” hơn những bài toán “bổ đề” nhiều.

Giá như Ngô Bảo Châu không trả lời Tuổi Trẻ bằng một câu … phũ phàng đến thế. Không phải báo chí người ta không nhìn ra, không biết viết. Nhưng trong tình thế hiện tại (tôi không tin là Ngô Bảo Châu không hiểu), khi báo chí đã cài một câu hỏi như vậy là họ muốn mượn nhờ câu trả lời của anh, chỉ có anh, với tên tuổi và vị thế của anh nói ra mới có thể đứng được trên mặt báo. Điều đó là cực kỳ lợi hại, hữu ích. Cái tên Ngô Bảo Châu cần cho những thời khắc đó. Tôi không tin là Ngô Bảo Châu lại không hiểu, không nhìn ra vị thế của trí thức và vai trò phản biện, đặc biệt trong bối cảnh này.
Giá như…
Nhưng vì sao Ngô Bảo Châu vẫn ứng xử như vậy? Hay tư duy trí thức trong anh đã ở đẳng cấp cao và… xa như bài toán “bổ đề” đến nay vẫn hiếm người hiểu nổi nó là cái gì?
Osin Huy Đức thì có ý kiến:
Vấn đề là, một nước nghèo như VN làm gì cũng phải tính thứ tự ưu tiên, đầu tư 650 tỷ cho viện toán trong khi tiền bạc đang cần hơn cho những đầu tư khác ở ngay chính trong lĩnh vực khoa học và giáo dục. Không nên nhắc chuyện cái nhà làm gì và tiền, thì nghe đâu Viện Toán chũng chỉ mới được giải ngân vài tỉ. Nhưng, khi GS vừa nhận giải Fields, tôi viết trên Facebook, mong ông ở lại nơi mà ông có thể cống hiến nhiều nhất cho toán học. Trong thời đại ngày nay, những cống hiến có giá trị dù của ai và ở đâu cũng đều cần thiết cho người VN. Dù không làm ra, người Việt vẫn được hưởng lợi từ Iphone của Steve Jobs và FB của Mark Zuckerberg. Thực ra, thành tựu của Ngô Bảo Châu hay Đặng Thái Sơn, đối với người VN, chỉ mới có giá trị ở mức độ tạo ra nguồn cảm hứng. Chính vì thế mà một tiếng nói của các anh ấy, không cẩn thận, nó có thể chuyển cảm hứng của công chúng đi theo một chiều hướng khác.
Muốn biết Ngô Bảo Châu bị ném đá thế nào thì các bạn có thể đọc thêm các bài viết và comment trên đó: Gửi Ngô Bảo Châu, Thư GS Ngô Bảo Châu gửi Bọ Lập, Gấu luận về GS Châu,... và nhiều bài khác trên Facebook.
Hy vọng qua Tết Nhâm Thìn 2012, giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ làm nhiều nói ít. Điều đó sẽ tốt hơn cho ông và tốt hơn cho Toán học thế giới.

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2011

Toán học - một dạng nghệ thuật

Cuộc trò chuyện giữa Giáo sư Ngô Bảo Châu (cháu) và GS Hà Huy Khoái (chú) - nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam:
GS Hà Huy Khoái cho rằng, để tồn tại, toán học Việt Nam đã qua thời khó khăn nhất; còn để phát triển lên một bước mới, toán học Việt Nam vẫn đang ở thời kỳ khó khăn nhất.
GS Ngô Bảo Châu và Hà Huy Khoái
Ngô Bảo Châu: Tỉ lệ nhà toán học trên đầu người có lẽ không ở đâu bằng gia đình chú Khoái. Chú Hà Huy Hân là giáo viên toán, chú Hà Huy Vui là một nhà toán học Việt Nam hàng đầu trong chuyên ngành kỳ dị. Thế hệ sau còn có Hà Huy Tài, Hà Minh Lam và Hà Huy Thái. Đây là một điển hình về truyền thống gia đình hay là một sự ngẫu nhiên tai quái?

Hà Huy Khoái: Có thể gia đình chú không có “tỷ lệ trên đầu người làm toán cao nhất Việt Nam” (cũng có một số gia đình tương tự, như gia đình các giáo sư Phan Đình Diệu, Nguyễn Minh Chương,…) Tuy nhiên, chú bỏ qua việc cạnh tranh cái “kỷ lục” này, để trả lời câu hỏi tiếp theo. Đây đúng là một phần của truyền thống gia đình, một phần là kết quả của một sự TẤT NHIÊN tai quái (không phải “ngẫu nhiên”, nhưng vẫn là “tai quái”)! Truyền thống, vì cho đến những đời còn ghi lại được trong gia phả (cũng nhiều thế kỷ rồi), thì hình như các cụ kị của chú chỉ biết mỗi nghề…đi học! Có một số cụ đỗ đạt, nhưng có “làm quan” thì cũng chỉ trông coi việc học, như là Huấn đạo, Đốc học. Thành ra đến đời chú cũng chỉ biết tìm nghề học mà thôi. Vấn đề còn lại chỉ là: học cái gì? Ở phổ thông, chú thích học tất cả các môn: Văn, Toán, Sử, Địa,…, có lẽ chỉ trừ môn Thể dục! Thích nhất là Văn, Sử. Thời đó thì Toán có gì để thích đâu: không học thêm, không sách tham khảo, chỉ có sách giáo khoa thôi, mà hình như giáo khoa thời đó cũng dễ hơn bây giờ. Cho nên Toán chỉ được thích vì dễ! Có thể đó cũng là cái may lớn, vì chưa sợ Toán khi học phổ thông, nên sau này vui vẻ đi theo nghiệp Toán! Còn cái sự tất nhiên tai quái nào dẫn chú đến Toán, mà không phải Văn, thì là vì thời chú học phổ thông cấp 2, 3 (1958-1963) là thời mà sự kiện “nhóm Nhân văn - Giai phẩm” còn ồn ào lắm. Ông cụ thân sinh của chú, là một nhà giáo, khuyên các con theo nghề Toán, vì chắc chắn tránh được những nhóm tương tự! Còn thế hệ tiếp theo (Tài, Lam, Thái) thì có thể là do “quán tính”!

Tuy vậy, nếu bây giờ cho chọn lại, chắc chú vẫn chọn nghề Toán!

Chú đã sống với toán học và khoa học Việt Nam qua những thời kỳ rất khác nhau. Thời kỳ trước thống nhất đất nước, thời kỳ từ 75 đến khi bức tường Berlin sụp đổ, thời kỳ từ 1990 đến nay. Liệu chú có thể chia sẻ những suy nghĩ của mình về những sự biến đổi của khoa học Việt Nam trong từng thời kỳ này không?

Câu hỏi lớn quá, và ngẫu nhiên trùng với một ý định từ lâu của chú là viết một cuốn “Hồi ký toán học”. Nói là “hồi ký” có thể không đúng lắm, nhưng là chú muốn viết về những điều “mắt thấy, tai nghe, đầu nghĩ” của mình về cái giai đoạn đầy biến động đó, mà chú may mắn (có thật là may không?) được chứng kiến. Không hiểu rồi cái “hồi ký” mà chú dự định có thể hoàn thành được không, nhưng nếu cần có câu trả lời (dù nhỏ) cho câu hỏi lớn của cháu, thì chú nghĩ có thể là thế này.

Trong biến động nào cũng có hai phần: tinh thần và vật chất, dĩ nhiên là không độc lập với nhau. Trước 1975, hầu như cả dân tộc Việt Nam sống bằng niềm tin vào ngày thống nhất đất nước. Niềm tin đó giúp người ta vượt qua mọi khó khăn về vật chất. Khoa học Việt Nam, Toán học Việt Nam cũng không nằm ngoài không khí chung đó. Khổ, nhưng thấy học toán, làm toán là một niềm vui lớn. Đặc biệt, những năm đầu tiên bước vào ngành toán chính là những năm để lại nhiều ấn tượng nhất trong cuộc đời làm toán của chú, khi được cùng GS Lê Văn Thiêm và mấy người đàn anh áp dụng phương pháp nổ mìn định hướng vào việc nạo vét Kênh nhà Lê phục vụ giao thông thời chiến. Trong chiến tranh, hình như con người lại “lãng mạn” hơn trong thời bình. Lãng mạn, vì ít tính toán hơn. Cũng có thể không có gì để tính toán. Mà lãng mạn thực sự là điều cần cho những ai đi vào toán học, vì nghề làm toán lại là nghề khó “tính” trước nhất! Có ai dám chắc mình sẽ được kết quả gì trong tương lai.

Thời kỳ đầu sau 1975 là thời mà toán học Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Rất nhiều người được cử đi học tập ở nước ngoài, kể cả ở các nước phương Tây. Nhưng rồi những thuận lợi đó nhanh chóng qua đi, khi vào khoảng 1985 kinh tế Việt Nam bộc lộ những khủng hoảng trầm trọng của cái thời mà ta gọi là “tập trung, quan liêu, bao cấp”. Không thể sống bằng nghề làm toán với đồng lương ít ỏi, một số phải đi dạy học ở châu Phi, số khác tìm những nghề “tay trái” (nhưng thu nhập hơn nhiều lần “tay phải”), một số khác may mắn hơn thì tìm kiếm được những học bổng để đi nước ngoài. Ngành toán Việt Nam vượt qua được giai đoạn gay go đó trước hết nhờ vẫn còn có những người chịu “sinh nghề, tử nghiệp” với toán, và cả những người “may mắn” nhận được học bổng nước ngoài để sống và tiếp tục làm toán.

Sau 1990, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới. Toán học Việt Nam cũng đứng trước thách thức hoàn toàn mới. Có lẽ lần đầu tiên, những người làm toán ở Việt Nam phải tự đặt câu hỏi: tại sao lại làm toán, mà không làm nghề khác (có thể kiếm nhiều tiền hơn)? Cái thời mà làm việc gì cũng nghèo như nhau, thì ai thích toán cứ làm toán. Bây giờ, thích toán nhưng cần tiền, có làm toán nữa không? Cái chất “lãng mạn” mà toán học rất cần đã không còn, hay là còn rất ít đất sống. Ông Frédéric Pham đã từng đặt câu hỏi “Y-aura-t-il toujours des mathematiciens au Vietnam l’an 2000” (Gazete de mathematiques, vol. 64, pp. 61-63, 1995). Nhưng toán học Việt Nam, năm 2000, vẫn tồn tại qua thời khủng hoảng. Có thể là do kinh tế Việt Nam cũng đã bước qua khủng hoảng. Cũng có thể do những ai đã chọn toán làm nghề nghiệp của mình thì cũng không đòi hỏi quá nhiều về vật chất, nên họ dễ tự bằng lòng với cuộc sống không cần quá nhiều tiền của mình! Có ai đó nói: “Không nên lãng mạn hóa cái nghèo”, đúng lắm, nhưng cũng đừng để cái nghèo giết chết lãng mạn. Không còn lãng mạn sẽ không còn âm nhạc, thơ ca, không còn toán học.

Chú nghĩ như thế nào về tương lai của toán học Việt Nam?

Nếu định chọn con đường khoa học thì nên tự hỏi: có phải cái mà mình mong muốn nhất là tri thức và tự do không?
GS Hà Huy Khoái
Cháu hỏi chú nghĩ gì về tương lai? Để tồn tại, có lẽ toán học Việt Nam đã qua cái thời khó khăn nhất. Còn để phát triển lên một bước mới: chắc vẫn đang ở thời kỳ khó khăn nhất. Xã hội Việt Nam đang trong cái thời kỳ đầu của “kinh tế thị trường”, cái thời mà chuẩn mực của sự “thành đạt” nhiều khi được đo bằng tiền. Mà tiền chính là cái các nhà toán học có ít nhất! Vậy nên, chỉ những người có quan niệm khác về “thành đạt” mới có thể chọn toán làm nghề nghiệp của mình. Về tương lai của toán học Việt Nam, chú trông chờ hai điều: 1/ nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển để đến khi các nhà doanh nghiệp Việt Nam không còn tự hài lòng với việc giàu lên do làm người bán hàng cho nước ngoài, hoặc người bán nguyên liệu của nước mình cho nước ngoài. Đến khi họ không muốn và không thể tiếp tục làm giàu theo cách đó, họ sẽ cần đến khoa học công nghệ. Khi đó, khoa học cơ bản, toán học sẽ có tiếng nói của mình. 2/ các nhà lãnh đạo thấy rõ đầu tư cho khoa học cơ bản - cũng có thể xem là một phần của việc đầu tư cho giáo dục - là việc làm lâu dài, bảo đảm cho sự phát triển bền vững, là việc của Nhà nước. Nói cách khác, những nhà lãnh đạo cũng cần phải “lãng mạn”, để nhìn được tương lai xa hơn những lợi ích trước mắt có thể “cân đo đong đếm” dễ dàng.

Cháu cũng thấy thật đáng sợ khi người ta lấy đồng tiền làm thước đo cho mọi thứ. Trong cuộc sống, mình vẫn phải tính toán thiệt hơn, nhưng không thể đem cái tính toán thiệt hơn ra làm nền tảng xã hội. Dù sao thì cháu vẫn tin đến lúc nào đó thì chúng ta sẽ tỉnh lại, vì cái căn của con người Việt Nam vẫn là sự tử tế.

Người làm toán bao giờ cũng gặp mâu thuẫn giữa ý muốn làm được cái gì thật hay với việc phải “sản xuất đều đều công trình” (nhất là khi phải xin tài trợ). Theo cháu làm thế nào để sống yên ổn cùng một lúc với hai ý muốn đó?

Theo cháu, mỗi người làm toán nên giữ riêng cho mình một câu hỏi lớn. Có thể không trả lời được ngay, có thể sẽ không trả lời được trong phạm vi hữu hạn của cuộc sống mình có. Nhưng nó sẽ là một cái đích để mọi việc mình làm trở nên logic chứ không ngẫu nhiên và không bị chi phối bởi những gì ầm ĩ nhất thời. Ngược lại, trong mỗi việc cụ thể mình làm thì lại không nên câu nệ xem đây là bài toán to hay nhỏ, mà bản thân mình thấy hay là được. Có điều mình phải luôn tự nhủ phải trung thực với bản thân. Chú có biết cái câu thơ này của ông Bảo Sinh không :

Tự do là sướng nhất đời
Tự lừa còn sướng bằng mười tự do.

Người làm toán nào cũng ít nhiều thích “nổi tiếng”, nhưng khi quá nổi tiếng (chẳng hạn được Fields) thì hình như sự nổi tiếng lại thành gánh nặng. Cháu có lời khuyên thế nào với các bạn trẻ?

Cháu nghĩ ai cũng cần sự công nhận, sự tôn trọng từ những người khác. Trường hợp ông Perelman là rất ngoại lệ. Còn sự nổi tiếng theo kiểu tài tử xi nê thì thực ra rất là bất tiện. Chỉ có điều trong trường hợp của cháu, mình không có cách nào khác ngoài chấp nhận nó, rồi cố gắng hướng nó vào những việc có ý nghĩa.

Khi tiếp xúc với những nhà toán học nước ngoài, chú có cảm giác nói chung họ biết nhiều hơn (về những thứ “không toán”, hay có thể gọi chung là “văn hóa”) so với những người làm toán ở nước ta. Cháu có thấy thế không? Có thể giải thích thế nào về hiện tượng này, và nó ảnh hưởng thế nào đến chính việc làm toán của “họ” và “ta”?

Mỗi người làm toán nên giữ riêng cho mình một câu hỏi lớn. Có thể không trả lời được ngay, có thể sẽ không trả lời được trong phạm vi hữu hạn của cuộc sống mình có. Nhưng nó sẽ là một cái đích để mọi việc mình làm trở nên logic chứ không ngẫu nhiên và không bị chi phối bởi những gì ầm ĩ nhất thời.
GS Ngô Bảo Châu
Cháu lại thấy các nhà khoa học phương Tây hay thắc mắc làm sao mà người phương Đông, không chỉ riêng các nhà khoa học, ai cũng là triết gia. Có thể là cái phông văn hóa phương Đông và phương Tây rất khác nhau, nên ai cũng thấy người kia biết những thứ mà mình mù tịt. Nhưng đúng là cái phông văn hóa có chi phối hoạt động khoa học. Ở phương Đông cháu thấy người ta thích cái kiểu tầm chương trích cú quá.

Có một cái các nhà khoa học phương Tây, tính cả Ấn Độ, hiểu biết hơn hẳn các nhà khoa học phương Đông, đó là âm nhạc, nói rộng ra là khả năng cảm thụ thẩm mỹ. Theo cháu cái khả năng này là một phẩm chất không thể thiếu của người làm toán.

Là một người gắn bó với khoa học Việt Nam gần như từ lúc khai sinh, chú Khoái có thể nói một vài lời cho những bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân vào con đường khoa học không ?

Chú không thích lắm cái chữ “dấn thân”. Nó làm cho người đi vào khoa học có vẻ như ra chiến trường, có vẻ như sẵn sàng hy sinh vì người khác. Thực ra đi vào khoa học cũng không phải “hy sinh” cái gì hết. Ta làm khoa học vì ta thích hiểu biết, thích sáng tạo. Làm khoa học thì được đọc nhiều, tức là được thụ hưởng hơn người khác cái kho tàng tri thức vô giá của nhân loại. Mà đã thụ hưởng thì có nghĩa vụ đền đáp, tức là phải cố gắng góp được cái gì đó, dù nhỏ. Cuộc sống bao giờ cũng sòng phẳng. Nếu mình đã được làm cái mình thích thì cũng không nên đòi hỏi cuộc đời cho lại đầy đủ mọi thứ như người khác. Thích hiểu biết (thực chất cũng là một thứ hưởng thụ) mà lại vẫn mong có rất nhiều tiền; thích tự do làm cái mình muốn mà vẫn mong có nhiều quyền; thích được yên tĩnh để đắm mình vào suy tư riêng mà vẫn mong cái sự nổi tiếng - đó là những mâu thuẫn mà nếu không nhận thức ra thì cứ tưởng mình đang phải hy sinh, đang “dấn thân”! Làm khoa học cũng là một nghề, như mọi nghề khác. Nếu thích giàu thì nên đi buôn, thích quyền thì nên đi làm chính trị, thích hiểu biết, thích tự do thì nên đi vào khoa học. Nghề nào cũng có cái “được” và “mất”. Quan trọng nhất là hiểu cho được mình thực sự cần cái gì. Điều này không dễ, nhất là khi người ta còn trẻ.

Bởi vậy, nếu định chọn con đường khoa học thì nên tự hỏi: có phải cái mà mình mong muốn nhất là tri thức và tự do không?

Trong cuộc đời, ai cũng có thể mắc sai lầm. Theo cháu, bao giờ thì một người cần nhận ra rằng mình đã sai lầm khi chọn nghề Toán, và nên đổi sang nghề khác?

Cháu thấy có nhiều lý do khiến người ta có thể từ bỏ nghề Toán và chọn một nghề khác. Trong trường hợp không nhìn thấy triển vọng nào để nghề Toán tạo cho gia đình mình một cuộc sống tạm gọi là tươm tất, thì Toán không còn là nghề nữa mà là một dạng nghệ thuật để theo đuổi. Để theo đuổi một nghệ thuật thì cần một tình yêu mãnh liệt lắm. Đấy là nghĩa của từ dấn thân mà cháu sử dụng. Nhưng đo độ mãnh liệt của tình yêu thì không dễ.

Để làm toán, người ta chỉ sử dụng một số khá hạn chế khả năng của con người, nhưng lại sử dụng chúng một cách tối đa. Khi nhận ra rằng mình thiếu một số khả năng để làm nàng Toán hoan hỉ, mà lại thừa những khả năng mà nàng ta lờ đi, thì có khi cũng nên tìm một nghề khác với nghề nghiên cứu Toán. Yêu đơn phương lâu dài thì mệt lắm.

Chú Khoái đã có thời gian được làm việc trực tiếp với GS. Lê Văn Thiêm. Chú có chia sẻ những ký ức của chú về GS. Lê Văn Thiêm không? GS Thiêm đã có ảnh hưởng như thế nào đến sự nghiệp toán học của chú Khoái?
Có hai người thầy ảnh hưởng nhiều nhất đến chú, không chỉ trong khoa học mà cả trong cách nhìn nhận cuộc sống là Giáo sư Lê Văn Thiêm và Giáo sư Manin. GS Lê Văn Thiêm, như chú đã từng viết trong một bài giới thiệu về Ông, “thuộc vào số những con người không lặp lại của lịch sử”. Không lặp lại, vì những người hoàn toàn trong sáng như Ông thường chỉ xuất hiện trong buổi đầu của mỗi giai đoạn lịch sử, khi niềm say mê lý tưởng giúp họ quên đi những toan tính cá nhân. Giáo sư Lê Văn Thiêm trong sáng và ngây thơ đến mức tin rằng mọi người cũng trong sáng như Ông (cả khi lịch sử không còn ở giai đoạn đầu!) Khi Ông là Viện trưởng Viện Toán học, đã nhiều lần vì không đủ thời gian chờ, Ông ký tên vào tờ giấy trắng để sau đó nhân viên điền vào những gì họ cần “xin”. Điều đó không để lại hậu quả nào cho Ông khi làm việc ở Viện, nhưng chú nghe nói trước đó, thời còn là Hiệu phó Đại học Tổng hợp, Ông đã bị một số người lợi dụng sự cả tin như vậy và đưa đến khá nhiều điều phiền toái cho Ông. Vậy mà Ông vẫn không hề “rút kinh nghiệm”. Cho đến tận cuối đời, Ông vẫn giữ được nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ.
Về khoa học thì chú nghĩ đóng góp tốt nhất của chú là xây dựng “lý thuyết Nevanlinna p-adic”. Chú học được “lý thuyết Nevanlinna” từ GS Lê Văn Thiêm, một trong những người có đóng góp lớn vào lý thuyết đó. Khi đi làm nghiên cứu sinh với Manin, chú học được về “p-adic”. Ghép hai chữ học được ở hai thầy lại thành chữ của mình!

MathVn.Com và Math.com.vn (Theo Tia sáng)

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

GS Ngô Bảo Châu giao lưu với CLB Tài năng trẻ FYT

Các vấn đề trao đổi: Toán học thực sự ở đâu trong đời sống; giáo dục Toán học và khoa học nói chung ở Việt Nam; xu thế kết hợp giữa các ngành khoa học; và lời khuyên cho các bạn trẻ về quá trình chọn ngành nghề hay phương pháp học tập, nghiên cứu. Thực tế thì cũng trao đổi được ngần ấy, tuy nhiên dung lượng đọng lại không nhiều, một phần vì anh Châu trả lời ngắn, mà kỳ thực mình cũng thấy chả trả lời dài được =) nhưng thực sự là rất khó tóm tắt ý. Anh có lối trả lời chậm rãi, đặc biệt là từ đầu tiên, nghĩ rất lâu mới bắt đầu nói. Hôm nay hỏi xen kẽ luôn từ đầu chứ không phải dồn về cuối. Bài này chắc chắn vẫn bị thiếu sót về nội dung do thỉnh thoảng người ghi chép làm việc riêng :”> ).

MC Hiếu Đinh: Theo anh thì Toán học là gì?

Anh Châu (AC): Toán học là một loại ngôn ngữ. Quá trình học và nghiên cứu, “làm ra” Toán cũng như quá trình sáng tạo ra 1 ngôn ngữ, với các nhiệm vụ: chỉ rõ các khái niệm, hạn chế các khái niệm, đặt tên cho chúng và tìm ra mối liên hệ giữa chúng. [Hà lúc đấy tự nhiên cười ồ trong óc, đúng thật, khá là thú vị.] Và khi làm 1 bài toán không ra là vì chưa tìm được ngôn ngữ phù hợp.

MC: Anh vừa nói Toán học là 1 ngôn ngữ, đó là danh từ. Vậy nếu dùng 1 tính từ để miêu tả thì anh sẽ dùng từ gì?
AC: Hiệu quả không hợp lý (unreasonable effectiveness). Toán học là một ngôn ngữ do con người nghĩ ra chứ ko phải bị áp đặt nhưng nó là một sản phẩm tuyệt vời đến mức sau này người ta quên nó là do mình nghĩ ra và cho rằng nó có sẵn trong tự nhiên. Ngôn ngữ này được xây dựng từ trong hoàn cảnh rất hẹp nhưng có thể được sử dụng rộng và hiệu quả một cách khó tin. Ví dụ như đạo hàm. Đạo hàm chỉ là một ngôn ngữ lý thuyết do Newton – Lebniz nghĩ ra trong hoàn cảnh liên quan đến vận tốc của chuyển động nhưng bạn có thể thấy hiện nay không có đạo hàm thì không có khoa học. Đó là suy nghĩ của tôi khi dùng từ unreasonable effectiveness như vậy.

MC: Theo anh thì toán học nghiên cứu những gì, mục đích là gì?

AC: Toán học là một bức tranh rất rộng lớn nên khó có thể tóm tắt ngắn gọn. Thực ra đa phần các nhà toán học đều nghiên cứu các vấn đề mang tính nội tại và tôi cũng không nghĩ công trình của tôi nghiên cứu có nhiều áp dụng trực tiếp vào thực tế. Họ nghiên cứu vì vẻ đẹp nội tại của toán học, để thỏa mãn chính bản thân mình. Còn tất nhiên toán học vẫn gắn với thực tế, thực tế luôn là động lực cho các ngành khoa học nhưng có một vấn đề là thường những vấn đề thực tế lại rất khó khiến người ta không thể trả lời được và đôi khi phải cố trả lời phần nào và nói dối rằng đã trả lời được. Các nhà toán học lý thuyết xây dựng lý thuyết của riêng mình, và dù nó chỉ tồn tại trong suy nghĩ của họ, nhưng nó lại chắc chắn đúng và sau đó các lý thuyết này mới được tìm ra và áp dụng vào vấn đề thực tế. Đạo hàm vừa rồi là 1 ví dụ. Đây là một trong số trường hợp, dù không nhiều, lý thuyết đi trước và sau đó giải quyết các vấn đề thực tế. Tôi nghĩ nếu người ta chỉ nhìn vào các vấn đề thực tế và yêu cầu lấy nó làm mục đích, nghiên cứu tìm ra giải pháp thì có lẽ là sẽ không làm được và phải nói dối như tôi đã nói ở trên.
Vì hôm nay nhiều dân toán nên chiếm 1 phần không nhỏ trong trao đổi là về việc làm toán chuyên nghiệp.

Thảo K10 (HCB IMO 2008): Theo anh nếu cảm thấy mình không thực sự xuất sắc thì có nên tiếp tục theo ngành toán? Khi bắt đầu theo ngành toán anh có nghĩ là anh sẽ làm được điều gì đó vĩ đại, được giải Fields… không ạ?
AC: Theo tôi thì, khi nào mà làm toán cảm thấy đó là 1 việc nặng nhọc, mệt mỏi, rất là vất vả thì nên dừng lại.
Lúc đầu thì đương nhiên là tôi không nghĩ gì cả. Không nên đặt ra mục tiêu như vậy vì 1 là dễ không đạt được mục đích, 2 là dễ bị tâm thần. *Cả phòng cười *.

Hiếu Đinh: Em nghe nói là thời gian đầu anh sang Pháp thì cuộc sống của anh có nhiều vất vả, khổ cực. Có bao giờ những toan tính đời thường ảnh hưởng đến việc theo ngành toán của anh không ạ?
AC: Lúc đầu thì không, có vất vả nhưng lúc đó chưa có nhiều mối lo nên thấy cũng đủ sống, có thể lo được. Nhưng sau đó có con cái, phải lo nghĩ nhiều hơn, nên mình cũng bắt đầu phải suy nghĩ và tìm cách giải quyết. Nhưng nói chung là tôi cũng không yêu cầu cao lắm nên tôi cũng không bao giờ phải quá vất vả hay lao tâm khổ tứ về chuyện đó.

Ducy Hoàng (HCV IMO 2008) [Bạn Ý có vẻ rất quan tâm đến kỹ năng làm toán và các chi tiết đời thường của anh Châu =)).] Khi đứng trước 1 bài toán mới thì anh xử lý như thế nào?
AC: Thường thì nếu mà mình le lói hướng đi nào đấy trong đầu rồi thì mình sẽ đâm đầu vào ngay. Nhưng nếu mà khi mình không có hướng gì, thì đầu tiên là phải “làm quen” với bài toán, đừng coi bài toán là thù, bài toán là bạn mình. Lân la hỏi thăm “hàng xóm, láng giềng” của nó (những bài toán lân cận), những người đã nghiên cứu vấn đề này hoặc các vấn đề liên quan, đi lại, dò xét kỹ bên ngoài bài toán. Sau đó thì sẽ đến giai đoạn thực sự phải tìm hướng đi và giải nó. Nhiều khi sẽ thấy rất hóc búa và nản, quá trình đó có thể kéo dài đến vài năm không lối ra hoặc đi theo mãi hướng đó mà không được. Nói chung là phải kiên trì.

Tiếp tục là bạn Ducy Hoang: Những lúc stress như thế thì anh làm thế nào ạ? [Không khác gì phỏng vấn =))]
AC: Thì tôi cũng giống người bình thường thôi, đọc sách, nghe nhạc…

Hỏi: Anh có chơi game không ạ?
AC: Không, tôi cũng có thử nhưng trò bấm bấm thế này (anh minh họa) tôi thấy không hợp. *Mọi người lại cười*.

Hỏi: Thế còn cờ vua?
AC: Cờ vua tôi cũng có chơi, nhưng không có hứng thú. Nói chung tôi thấy mình không hứng thú với những trò chơi đối kháng.


Hỏi: Vậy mà em có đọc 1 bài báo thấy anh hay chơi cờ tướng với hàng xóm?

AC: À, có 1 lần. Tôi đứng xem và bình luận 1 câu. Nhưng nhà báo sau đó không phỏng vấn tôi mà lại phỏng vấn ông hàng nước. [=)).]

Hỏi: Thế anh có bao giờ làm 2 bài toán cùng lúc không ạ? Anh đang làm 1 bài toán và có 1 bài toán khác hấp dẫn anh?
AC: Không, tôi không có khả năng làm nhiều việc 1 lúc. Tôi chỉ yêu từng người một thôi, không yêu nhiều người cùng lúc. ).

Đạt K11 (HCB IMO 2008): Trong cuốn sách của mình Hardy, một nhà lý thuyết số, thẳng thắn thừa nhận rằng các công trình của ông chẳng có bất kỳ một ứng dụng nào cả (mặc dù thực tế sau này nó có) và cho rằng chẳng có gì phải xấu hổ về điều đó. Ông đơn thuần tự hào rằng mình đã đóng góp vào kho tàng trí thức nhân loại… Cá nhân anh khi thực hiện nghiên cứu có nghĩ rằng sau này nó sẽ có ứng dụng gì không?
AC: Không, chắc là không. *Phòng cười đoạn này mới to =)*. Nói chung là khi chúng tôi làm chúng tôi quan tâm đến bản thân bài toán đó nhiều hơn.

Đạt: Nhiều người, có cả đại chúng lẫn người làm toán, cho rằng toán phổ thông rất khác với toán hiện đại. Vậy theo anh ranh giới lớn nhất giữa chúng là gì? Nếu có một ranh giới thực sự lớn như vậy, làm sao để sinh viên chúng em, những người cứ coi như là làm tương đối tốt toán phổ thông nhưng chưa biết gì về toán học hiện đại, có thể biết rằng liệu mình là người phù hợp để theo đuổi lĩnh vực này?
AC: Nhìn chung, thì người làm tốt toán phổ thông thì có thể làm tốt toán hiện đại. Ít nhất là tôi thấy vậy. Nhưng có sự khác biệt, đó là nhận thức về vẻ đẹp. Toán phổ thông hay đề cao tính suy luận lắt léo, còn trong toán học hiện đại tính xây dựng được đề cao hơn. Khi bước vào Đại học tôi cũng trải qua một cú sốc khác biệt như vậy. Bài tập tôi vẫn làm được, kết quả thi chấp nhận được (tôi cũng chỉ hay được 7,8/10 thôi chứ không hay được 10/10). Nhưng tôi không thấy đẹp, và không hiểu tại sao lại làm như vậy. Về lý thuyết thì có thể làm tốt nhưng phải vượt qua được cú sốc này.

Đạt: Cũng như GS nói, em cảm thấy có một cú sốc khi bắt đầu tìm hiểu toán học hiện đại. Không chỉ là về năng lực mà còn cả về sự đam mê. Hardy đã viết ý rằng khi nhỏ ông không hẳn có cái gì gọi là đam mê toán học, ông đơn thuần chỉ thấy thích thú khi mình làm rất tốt, chiến thắng các cậu bé khác và cả giáo viên. Chỉ đến sau này khi được một thày giáo hướng dẫn và chỉ cho một cuốn sách, ông mới tìm được cảm hứng thực thụ của mình. Vậy theo GS có cách nào để vượt qua cú sốc này một cách tương đối chủ động không, hay chúng ta vẫn phải chờ đợi một điều tốt đẹp như vậy =)?
AC: Có lẽ cách tốt nhất là chủ động tiếp cận với những người làm toán hiện đại, không dè dặt, để biết được họ đang làm những gì và tìm được người thày tốt cho mình.
Tiếp theo chuyển đến chuyện dạy toán trong giáo dục. Nói chung, được hưởng thụ nền giáo dục tiên tiến, đương nhiên là anh cổ vũ cho chuyện phải học theo đam mê, sở thích và khuyến khích các em. Anh lấy VD về chuyện học sinh thi toán quốc tế của Mỹ thì sau này theo toán vẫn khá nhiều, còn số liệu của Trung Quốc thì tỉ lệ là gần như 0%, và đương nhiên là anh nghiêng về cách dạy và luyện thi của Mỹ hơn. Thi quốc tế không nên đặt mục tiêu cao nhất là huy chương, giải thưởng, mà cốt lõi, tột cùng là tăng cường phong trào học toán. Và việc thành lập Viện toán cao cấp là 1 trong những nỗ lực của anh về việc đó.
Để 1 phần giải quyết vấn đề mà Đạt có nêu ra bên trên, rằng có 1 khoảng cách giữa toán phổ thông và toán hiện đại khiến học sinh có thể bị khớp và không tự tin, anh cho rằng nên đưa toán học hiện đại vào phổ thông, nhưng đương nhiên phải có phương pháp phù hợp chứ không phải máy móc là tống vào chương trình học. Toán học hiện đại không thể đi 1 mình được, cần có người hướng dẫn, nếu tự đi sẽ rất dễ bị lạc đường. Có thể có 1 số cách như lập các CLB toán hoặc tổ chức nghiên cứu các đề tài đơn giản thôi, để làm quen, tìm hiểu.
Trả lời câu hỏi về việc theo GS, đâu là mấu chốt để có thể vực dậy việc dạy toán cũng như giáo dục phổ thông hiện nay, GS cho rằng đó là tính chủ động, sự chủ động của tất cả các thành phần: giáo viên, học sinh, phụ huynh… Cũng giống như khoán 10 thành công vì mỗi người, mỗi đơn vị tự lo vậy, giáo dục cũng cần sự chủ động như thế. Chờ đợi cơ chế thì rất lâu, mà từ trên áp xuống 1 cách làm cho tất cả thì lại khó, chi bằng mỗi nơi tự chủ động tìm ra phương pháp và có trách nhiệm hơn với việc mình làm.
NBC and FYT. Ảnh: Lê Việt Hà

Mảng cuối cùng là các câu hỏi khác không liên quan đến toán.

Anh Thành (Khách mời – cựu hs chuyên Toán SP, bằng tuổi anh Châu, nói chung có biết nhau hồi xưa, giám đốc Vinapo): Tôi thấy hiện nay chưa có 1 thống kê nào về số lượng học sinh thi quốc tế hiện đang làm gì, ở đâu, tôi thấy các bạn khá rời rạc trong liên kết.
AC: Theo tôi điều cốt lõi không phải là lập ra 1 cái danh bạ mà là phải tạo ra 1 việc gì đó để làm cùng nhau. Và Viện toán cũng là 1 trong số những việc mà tôi cố gắng tạo ra để phục vụ 1 phần cho điều đó. [Hiện có vẻ như 2 dự án mà anh Châu dành nhiều tâm huyết nhất với sức ảnh hưởng của mình để cống hiến cho nước nhà, cụ thể là toán học, khoa học VN đó là Viện Toán cao cấp và Quỹ NCKH.]

Anh Vinh K11: Nói thật với anh là em có gặp mấy anh PhD và Postdoc… và em thấy có 1 điểm chung là các anh ấy đều khá lập dị và… chưa có vợ. Vậy anh có thể cho em biết ý kiến của anh về vai trò của việc lập gia đình sớm đối với sự phát triển sự nghiệp? [=))))]
AC: (Cười). Một số người yêu toán quá dồn toàn bộ suy nghĩ của mình vào toán học. Họ chỉ dùng lập luận, coi cả cuộc sống là đối tượng toán học mà bỏ qua khả năng quan sát. Trong khi toán học cũng là một phần của cuộc sống, nhưng không phải tất cả. Phụ nữ không phải đối tượng của toán học (cười). Tôi chỉ cho rằng nên biết cân bằng cuộc sống, vậy thôi. Còn điều này cũng phụ thuộc vào tính cách và khả năng của mỗi người, tôi không có bình luận gì về chuyện lấy vợ sớm hay muộn cả.

Hỏi: Gần đây có 1 bác trí thức lớn tuổi đến nói chuyện với FYT và theo bác quan niệm thì trí thức ngoài công việc chuyên môn của mình thì cần có thái độ chính trị rõ ràng và có khả năng định hướng dư luận xã hội. Anh nghĩ thế nào về điều này? Và đặc biệt là khi blog thichhoctoan của anh đang đóng cửa?
AC: Tôi cho rằng trí thức trước hết là những người làm tốt công việc chuyên môn, làm tốt thiên thức của mình. Nên tôi không đồng ý với ý kiến như vậy. Theo tôi điều đó là tùy mỗi người thôi mặc dù tôi thì tôi cũng có thái độ chính trị của riêng mình. Blog của tôi đang tạm ngưng đóng cửa mà thôi. Sở dĩ như vậy không phải vì có thế lực chính trị nào đó như người ta nghĩ mà quan trọng là tôi không hài lòng với những gì tôi đã viết. Nó hơi bông đùa, lúc đầu viết ra cũng khoái chí lắm [:))], nhưng sau cái bông đùa đấy nó thành nặng nề, không hay nữa. Và tôi thấy cần phải thay đổi cách viết, cách truyền đạt. Và vì vậy phải làm lại tất cả từ đầu.

Hỏi: Vì sao thay đổi ạ?
AC: Vì vị trí xã hội thay đổi.

Hỏi: Thế sẽ theo hướng nào ạ, bông đùa hơn hay là … ))?
AC: À, tất nhiên là theo hướng nghiêm túc hơn :d.

Anh Hiếu Cao K10: Trong phim Spiderman có 1 câu là “Sức mạnh lớn, trách nhiệm lớn”, anh nghĩ thế nào về điều này?
AC: Cái đấy là về sự lựa chọn. Quả thực là cách đây 2 năm, tôi không bao giờ nghĩ là mình có thể làm những việc như bây giờ mình đang làm, xây dựng Viện hay quỹ… Nhưng giờ thì tôi có điều kiện làm những việc đấy, và là do tôi lựa chọn như thế. Ngoài ra thì khi lựa chọn, mình cũng phải đặt ra những giới hạn cho sự lựa chọn đó. Tôi tâm huyết với việc gây dựng Viện nhưng chắc chắn cũng sẽ có những việc mà tôi không làm nếu chỉ để gây dựng Viện, ví dụ như vậy.

Chị Minh K9: Thưa GS, người ta hay nói là học sinh trường chuyên hay đần *Đùa chứ, cả phòng phọt cười =))).*. Em muốn hỏi là ở tuổi bọn em bây giờ thì GS như thế nào [=)))] và GS học về cuộc sống từ đâu và theo GS thì làm thế nào để phát triển toàn diện học sinh trường chuyên? [Phát hiện ra chị Minh rất có khiếu làm mọi người cười =)))).]
AC: Em yên tâm 1 điều là ở tuổi em tôi cũng ngây thơ như các em bây giờ thôi. [=).] Hồi xưa tôi phản ứng rất chậm, bây giờ đỡ chậm hơn ). Điều đó cần một quá trình rèn luyện.
Học sinh chuyên ở mình thì thường dành nhiều thời gian học tập, ít có kỹ năng giao tiếp xã hội. Theo tôi thì cho các em tham gia thêm hoạt động. Người Việt mình khá kém trong chuyện tạo ra niềm vui cho nhau. Ví dụ học sinh bây giờ gặp nhau chơi game được cả ngày, chính việc chơi game này chứng tỏ việc không tổ chức được những hoạt động khác để chơi. Chơi game thì rất dễ, chỉ cần vài cái máy tính nối với nhau là chơi được. Trong khi có những hoạt động khác đòi hỏi khả năng tổ chức nhiều hơn. Con người cần chủ yếu trau dồi 3 thứ: suy nghĩ; khả năng giao tiếp, khó nhất là đặt mình vào địa vị người khác để hiểu họ và cuối cùng là diễn đạt ý tưởng của mình. Nói chung là tôi thấy chơi game chẳng giúp ích gì trong những việc đó cả. Các em nên tự tạo niềm vui nhiều hơn.
Ngoài ra thì còn 1 số câu hỏi nữa có tầm vĩ mô như toán học đang đi về đâu, 1 số có tầm siêu hình như mối quan hệ toán học và triết học và nhận thức =), 1 số về Đàm Thanh Sơn hay lịch làm việc của GS :-j, nhưng nhìn chung là hôm nay tán gẫu với anh Châu là chính )). Có 1 vài ý Hà cho là quan trọng và có giá trị nhất thì Hà đã bôi đen ở trên. Những bài học làm người, bài học thành công anh đưa lại có lẽ không có gì mới, nhưng có 1 sự thú vị khi chúng được truyền đạt từ anh ). Anh thể hiện và (có vẻ) cũng muốn nhấn mạnh rằng anh là 1 người hết sức bình thường, 1 cuộc sống bình thường, công việc bình thường, gia đình bình thường, 1 người làm khoa học nhưng không xa rời cuộc sống, rất hay giao lưu (ít nhất là trong giới) và rất yêu gia đình, chú trọng việc giáo dục con cái, cảm giác như anh có 1 sự giáo dục nền tảng rất tốt, rất truyền thống, đúng mực, điềm đạm, hiểu biết.
Trừ 1 vài đoạn khách mời hay quá đà cướp diễn đàn =) với 1 vài câu hỏi mang tính phóng sự đời tư ) thì hôm nay khá ổn về không khí (công quá lớn của MC Hiếu Đinh bảo vệ diễn đàn =)), anh Châu có vẻ cũng có thiện cảm với FYT, chắc thấy bọn này cũng có vẻ sáng sủa, trò chuyện hợp, bông đùa hợp )).
Theo Lê Việt Hà

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2011

Giáo sư Ngô Bảo Châu đến HUẾ

Giao su Ngo Bao Chau den Hue
Giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ đến HUẾ vào ngày 1/7/2011
Hội Toán học Huế xin thông báo
GS. Ngô Bảo Châu, nhà Toán học Việt Nam đầu tiên nhận huy chương Fields, một trong các huy chương danh giá nhất của Toán học, sẽ đến thăm, làm việc với Đại Học Huế, trường Đại Học Sư Phạm Huế và có buổi nói chuyện, giao lưu với sinh viên khoa toán, cán bộ giảng dạy toán của Đại học Huế, học sinh chuyên toán cũng như giáo viên Toán trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Buổi nói chuyện và giao lưu của giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ được tổ chức tại Phòng hội tầng 3, khu nhà hiệu bộ, trường Đại Học Sư Phạm, Đại Học Huế, 32 Lê Lợi Huế, vào lúc 15g00 ngày 01/07/2011.
Chuyến viếng thăm và làm việc của GS. Ngô Bảo Châu là cơ hội quý giá của những người nghiên cứu và giảng dạy Toán trên địa bàn Tỉnh. Buổi nói chuyện và giao lưu là dịp cho cán bộ trẻ, sinh viên, học sinh PTTH có cơ hôi giao lưu và và học hỏi kinh nghiệm học tập và nghiên cứu Toán từ nhà Toán học Ngô Bảo Châu.

Kính mời tất cả quý đồng nghiệp, sinh viên toán và học sinh chuyên toán tham dự.

Thông báo này thay cho giấy mời.
Huế ngày 27 tháng 06 năm 2011
Tổng Thư ký HTH Huế
PGS.TS. Đoàn Thế Hiếu

Liên hệ: Đoàn Thế Hiếu, Khoa Toán, ĐHSP Huế, email: dthehieu@yahoo.com.

Cập nhật ngày 2/7/2011:
“Muốn giỏi chúng ta phải có niềm đam mê. Trong thời gian từ năm 2003 đến năm 2004, tôi đã từng gặp những khó khăn thậm chí có thể bỏ dở công việc nghiên cứu toán học… Niềm đam mê cùng với sự kiên trì, tự tin trước mọi vấn đề sẽ giúp bạn thành công”.

Đó là lời khuyên của GS Ngô Bảo Châu - chủ nhân giải thưởng toán học Fields danh giá dành cho sinh viên ĐH Sư phạm Huế trong buổi giao lưu chiều hôm qua 1/7.



Buổi giao lưu nằm trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc của GS Toán học Ngô Bảo Châu tại ĐH Huế ngày 1/7. Tại buổi làm việc, sau khi nghe giám đốc ĐH Huế - PGS.TS. Nguyễn Văn Toàn giới thiệu khái quát về ĐH Huế, GS Ngô Bảo Châu khẳng định cần có các bước để xây dựng ĐH Huế lớn mạnh xứng đáng là trung tâm đào tạo nhân lực cho miền Trung và Tây Nguyên. Trong đó, nên tập trung đầu tư cho các dự án, đề án nghiên cứu khoa học; quan tâm chú ý đến giáo dục người trẻ và tiếp nhận người trẻ.
PGS.TS. Nguyễn Văn Toàn bày tỏ mong muốn GS Ngô Bảo Châu sẽ tạo điều kiện để những người nghiên cứu, giảng dạy môn Toán trên địa bàn tỉnh và sinh viên ĐH Huế có nhiều cơ hội tiếp cận với toán học hiện đại. Và hỗ trợ để các giảng viên tại Huế có điều kiện tham dự những hội nghị toán học trong nước và quốc tế, được đi đào tạo ở các trung tâm toán học lớn trên thế giới nhằm giúp ngành Toán học ở Huế phát triển.

Chiều cùng ngày, GS Ngô Bảo Châu đã có buổi nói chuyện về toán học và giao lưu với đông đảo HS, SV tại Trường ĐH Sư phạm Huế. Tại buổi nói chuyện, GS Ngô Bảo Châu đã trình bày bài giảng về chủ đề “Dựng hình bằng thước kẻ và compa”.

Trong phần giao lưu, các HS, SV và nhiều giảng viên trẻ Trường ĐH Sư phạm Huế đã đặt nhiều câu hỏi với GS Ngô Bảo Châu về những khó khăn trong việc chứng minh Bổ đề cơ bản; những yếu tố dẫn đến niềm đam mê của GS đối với toán học; kinh nghiệm giải những bài toán khó, cách học toán hiệu quả...

GS Ngô Bảo Châu đã trả lời những câu hỏi và đã có nhiều chia sẻ về việc học tập, nghiên cứu toán học và những ước mơ, quan điểm sống của mình. GS Ngô Bảo Châu cũng cho biết về những hoạt động sắp tới của Viện nghiên cứu cao cấp về toán mà GS vừa được bổ nhiệm làm giám đốc khoa học…

Trong buổi chiều giao lưu với SV, có nhiều ý kiến hỏi của các bạn HS, SV về việc làm thế nào để học tốt môn Toán cũng như bí quyết của GS trong việc giải mã những vấn đề lớn của toán học. GS Ngô Bảo Châu cho rằng: “Muốn giỏi chúng ta phải có niềm đam mê. Trong thời gian từ năm 2003 đến năm 2004, tôi đã từng gặp những khó khăn thậm chí là có thể bỏ dở công việc nghiên cứu toán học, Tuy nhiên khi được các thầy giáo của mình ở Pháp cho những lời khuyên bổ ích, tôi đã quyết định gắn bó cuộc đời mình với toán học. Niềm đam mê cùng với sự kiên trì, tự tin trước mọi vấn đề sẽ giúp bạn thành công”.

Theo GS Châu, hiện nay nhiều gia đình hay áp đặt các em học sinh từ lúc học cấp 3 thường định hướng thi vào những ngành mà khi ra trường công việc được dễ dàng thuận lợi. Đó là một trong những nguyên nhân đẫn đến tỷ lệ sinh viên đăng ký thi tuyển vào ngành Toán và Toán - Tin trong những năm gần đây tại các trường đại học ở nước ta có xu hướng giảm nhiều. Cũng có rất ít cán bộ trẻ được đào tạo tu nghiệp ngành Toán ở nước ngoài khi ra trường lại không muốn về nước làm việc vì điều kiện học nước ngoài thường khác hơn so với điều kiện nghiên cứu trong nước.

Về sự phát triển của ngành Toán, GS cho biết “Trong thời gian tới, Viện nghiên cứu cao cấp về Toán Việt Nam sẽ tập hợp các giáo sư Toán tại trường đại học lớn ở TPHCM, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ, Hà Nội cùng nhau ngồi lại bàn luận, nhìn nhận các vấn đề khó khăn đang đặt ra cho việc nghiên cứu toán học tại Việt Nam để tháo gỡ nhằm tiến tới phát triển ngành Toán lên một tầm vóc mới”.

Ảnh: Lao Động, Bài: Dân Trí

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2011

Blog Thích Học Toán của Ngô Bảo Châu tạm thời đóng cửa

Mấy ngày gần đây, cư dân mạng xôn xao vì sự ra đi đột ngột của blog nổi tiếng của ngài "Nobel Toán học". Blog Thích Học Toán của Giáo sư Ngô Bảo Châu đã đóng cửa! (tạm thời)
Blog Thich Hoc Toan cua Ngo Bao Chau dong cua
Blog thichhoctoan của GS Ngô Bảo Châu đã được bảo vệ
Đây là lời tạm biệt của Hòa thượng Thích Học Toán gửi cư dân mạng:
Tạm biệt
Chùa Thích Học Toán tạm đóng cửa từ ngày hôm qua. Bần đạo cáo lỗi với
bạn bè vì hành động đột ngột này.
Nhờ vào cái sân chùa này, bần đạo đã có chỗ để chia sẻ những suy nghĩ
của mình với bạn bè, và đổi lại bần đạo cũng đã học được rất nhiều từ các bạn.
Mỗi ngày đi qua, cái nhu cầu làm mới lại mình bằng sự tĩnh lặng trở nên
cần thiết hơn.
Vậy bây giờ là thời điểm để dừng lại và suy nghĩ. Không thể dừng lại
mà không nói một lời chia tay.
Hẹn có ngày tái ngộ,
Thích Học Toán

Hy vọng có ngày lại được tái ngộ Giáo sư trên thế giới ảo này! Chúc Hòa thượng tu thành chính quả!

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2011

Thành lập viện Nghiên cứu cao cấp về Toán và bổ nhiệm Ngô Bảo Châu làm giám đốc khoa học

Ngày 9/3/2011, Bộ Giáo dục - Đào tạo tổ chức Lễ công bố quyết định thành lập Viện nghiên cứu cấp cao về Toán và bổ nhiệm GS Ngô Bảo Châu làm Giám đốc khoa học của Viện. Phát biểu tại buổi lễ GS Ngô Bảo Châu cho biết: “Đây là ngày đáng nhớ của lịch sử Toán học Việt Nam”.

Tham dự buổi lễ có Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân; Bộ trưởng Bộ GD - ĐT Phạm Vũ Luận; ông Robert J.Zimmer, Hiệu trưởng Đại học Chicago (Mỹ) cùng GS.TSKH Ngô Huy Cẩn - bố của GS Ngô Bảo Châu.
Quyết định của Bộ GD-ĐT bổ nhiệm GS Ngô Bảo Châu làm Giám đốc khoa học Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán trong thời gian 3 năm, làm việc kiêm nhiệm tại Viện.
Vien nghien cuu cao cap ve toan, ngo bao chau giam doc khoa hoc
Ông Nguyễn Thiện Nhân trao Quyết định thành lập Viện Nghiên cứu cấp cao về Toán cho GS Ngô Bảo Châu
Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán là tổ chức khoa học và công nghệ công lập hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu toán học trực thuộc Bộ GD-ĐT. Mục tiêu của Viện là trở thành một trung tâm toán học xuất sắc, có môi trường làm việc tương đương với một số nước phát triển về Toán, để trao đổi học thuật nhằm nâng cao năng lực khoa học của các nhà nghiên cứu, giảng dạy và ứng dụng toán học Việt Nam.

Giám đốc Khoa học là người đứng đầu Viện, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về toàn bộ hoạt động nghiên cứu khoa học và hỗ trợ đào tạo nhân tài của Viện.

Phát biểu tại buổi lễ, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho biết: “Toán học Việt Nam có quá trình phát triển hơn 40 năm đã đạt được những thành tựu to lớn trong đó đỉnh cao là giải thưởng Fields của GS Ngô Bảo Châu. Viện nghiên cứu cấp cao về toán thành lập với chức năng quy tụ các nhà toán học trong nước và thế giới, tôi tin tưởng vào Bộ GD-ĐT sẽ hỗ trợ tốt nhất cho Viện hoạt động trong thời gian tới”.

Phó Thủ tướng cũng đã đề nghị Bộ GD-ĐT phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ để tạo điều kiện thuận lợi nhất, tốt nhất cho Viện đi vào hoạt động.
Vien nghien cuu cao cap ve toan, ngo bao chau giam doc khoa hoc
Bộ trưởng Phạm Vũ Luận trao Quyết định bổ nhiệm GS Ngô Bảo Châu làm Giám đốc khoa học Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán
Về phía Bộ GD-ĐT, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận khẳng định sẽ chủ động trên nhiệm vụ, thẩm quyền, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho Viện Nghiên cứu cấp cao về Toán hoạt động, cũng như tạo điều kiện cho các nhà khoa học trong và ngoài nước đến làm việc tại Viện.
Với GS Ngô Bảo Châu, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận hy vọng bằng uy tín, kinh nghiệm của GS sẽ đóng góp cho Viện hoạt động tốt và phát triển.
Ngo bao chau, giam doc khoa hoc, vien toan cao cap
Niềm vui của Giáo sư Ngô Bảo Châu trong ngày trọng đại của Toán học Việt Nam
Phát biểu tại buổi lễ GS Ngô Bảo Châu khẳng định: “Hôm nay  là ngày chính thức thành lập Viện Nghiên cứu cấp cao về Toán là ngày đáng nhớ cho lịch sử Toán học Việt Nam. Thay mặt cộng đồng Toán học Việt Nam tôi cảm ơn Chính phủ, Nhà nước đã phê duyệt Chương trình trọng điểm toán học Việt Nam, trong đó thành lập Viện nghiên cứu cấp cao về Toán. Trách nhiệm của cá nhân với vai trò là giám đốc khoa học của Viện là rất lớn. Tôi sẽ cố gắng trong khả năng của mình đảm bảo cho hoạt động khoa học của Viện đúng với tinh thần, mục tiêu đặt ra ban đầu là nghiên cứu giảng dạy toán học và lôi cuốn các nhà toán học trong và ngoài nước tới Viện”.
Để làm được điều đó, theo GS.Ngô Bảo Châu, việc quan trọng là tạo ra được hướng nghiên cứu mới về Toán học.
MathVn.Com (Dân Trí)

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011

Giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ cống hiến nhiều hơn cho xã hội

"Thời kỳ toàn tâm toàn ý dành hết thời gian cống hiến cho khoa học của tôi đã qua. Chặng tiếp theo của tôi sẽ là thời gian cống hiến nhiều hơn cho xã hội, đặc biệt là cho giáo dục để góp phần đào tạo thế hệ trẻ" - GS Ngô Bảo Châu chia sẻ trong buổi giao lưu với sinh viên ĐH FPT.
Giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ cống hiến nhiều hơn cho xã hội
GS Ngô Bảo Châu: "Tôi sẽ cống hiến nhiều hơn cho xã hội".
Đưa ra lời khuyên chân thành cho sinh viên Trường ĐH FPT, đúc rút từ kinh nghiệm thực tế của chặng đường làm toán của mình, GS Châu chia sẻ: “Quan trọng nhất với con người là không bao giờ dối mình, mà hãy làm những việc mình thật sự thích. Cảm giác thường trực khi nghiên cứu toán học của tôi là sự bế tắc. 100 ngày thì có đến 99 ngày bế tắc, chỉ có 1 ngày là le lói những ý tưởng mới. Nhưng quan trọng là ý tưởng đó, sự đam mê theo đuổi ý tưởng đó đủ đem đến cho mình niềm tin cho 100 ngày còn lại”.
Tâm sự về giải thưởng Fields, GS Châu cho biết: “Năm 2003, tôi bắt đầu theo đuổi Bổ đề cơ bản. Đến năm 2007, tôi cảm giác không tìm ra hướng đi để tiếp tục theo đuổi đề tài này. Sau đó, trong một lần trò chuyện cùng một người đồng nghiệp cùng giới khoa học, tôi đã tìm được gợi ý về cách giải quyết cho vấn đề mình đang bế tắc, và nhờ đó tôi chứng minh được bổ đề cơ bản, đồng thời dành giải thưởng Fields cao quý".
"Với người làm khoa học rất cần môi trường với nhiều người cùng làm khoa học khác xung quanh mình. Họ sẽ là người để cùng chia sẻ, và nhiều khi là người khơi gợi cảm hứng hoặc vô tình mang lại lời giải cho một bài toán khó tưởng như không thể chứng minh được. Đó là một trong những lí do mà tôi chọn ở nước ngoài để theo đuổi toán học. Để có thành công trong bất kì lĩnh vực nào, bạn cần đam mê, và quan trọng là nuôi được đam mê đó lâu dài" - GS Châu cho hay.
GS Châu khẳng định: "Thời gian toàn tâm toàn ý dành hết thời gian cống hiến cho khoa học của tôi đã qua. Chặng thời gian tiếp theo của tôi sẽ là thời gian cống hiến nhiều hơn cho xã hội, đặc biệt là cho giáo dục để góp phần đào tạo thế hệ trẻ".
Ngo Bao Chau giao luu voi sinh vien FPT
GS Ngô Bảo Châu và GS Hồ Ngọc Đại tại buổi giao lưu với sinh viên Đại học FPT
Một bất ngờ trong buổi giao lưu dành cho GS Ngô Bảo Châu, đó là Trường ĐH FPT "bí mật" mời GS Hồ Ngọc Đại - thầy giáo của GS Ngô Bảo Châu cùng tham gia trò chuyện.
Trong buổi giao lưu, GS Hồ Ngọc Đại đã "bật mí" nhiều chi tiết về cậu học trò nhỏ Ngô Bảo Châu mà giáo sư nhận xét là “từ nhỏ đã rất thật”, đồng thời với tâm huyết của một nhà giáo dục, GS Hồ Ngọc Đại cũng chia sẻ quan điểm về giáo dục hiện đại cũng như trả lời nhiều câu hỏi của sinh viên.
MathVn.Com (Theo Dân Trí)

Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2011

GS Ngô Bảo Châu: "Tôi đang thất bại trên cương vị người thầy"

"Là học trò thì tôi có vẻ thành công nhưng dường như trên cương vị người thầy, tôi lại đang thất bại. Đến nay, tôi hướng dẫn 2 học trò làm nghiên cứu sinh nhưng cả 2 đều bỏ dở" - GS Ngô Bảo Châu.

GS Ngô Bảo Châu:

Vững vàng trước khen chê

Thông thường, khi ta đã đạt một đỉnh cao nhất định, có thành tựu và được biết đến, xã hội và mọi người sẽ chờ đợi nhiều hơn ở ta. Tuy nhiên, trong nhiều chuyện, tôi biết chắc mình có thể làm thầy người khác nhưng vẫn muốn làm học trò. Bây giờ, tôi muốn đi học lại từ đầu như một cậu tân sinh viên!

Tất nhiên, không phải lúc nào tôi cũng đặt mình ở vị trí học trò, nhún nhường như một người đi học lại từ đầu. Nhưng không đặt mình ở vị trí học trò, của một người đi học thì rất khó để làm mới mình và chinh phục những đỉnh cao mới trong học thuật. Hơn nữa, làm học trò lần thứ hai sau khi đã làm thầy rồi bao giờ cũng dễ hơn, bởi mình đã trưởng thành hơn, đã đủ va chạm và vững vàng hơn trước những khen chê.

Ngay sau khi thành công với Bổ đề cơ bản - chứ không phải đợi đến khi nhận Giải Fields, tôi đã bắt tay nghiên cứu những lĩnh vực mới mà mình chưa biết tí gì.

Tôi hỏi những người xung quanh là nên đọc sách gì và lại vùi đầu trong thư viện. Nói chung, tôi luôn học lại từ đầu. Bổ đề cơ bản chỉ là ngưỡng nhất định mà mục đích của tôi đến với toán học còn rất xa.

Khi bắt tay nghiên cứu Bổ đề cơ bản, tôi biết mình phải học những gì, tiếp cận những công cụ nào để giải quyết.

"Thà để lại điều gì đó nhỏ thôi một cách âm thầm còn hơn là tạo ra một đống to đùng nhưng không có tác dụng gì" - GS Ngô Bảo Châu.


Bây giờ muốn đi xa hơn, tôi phải học lại để nắm bắt những công cụ mới, bắt đầu từ cơ sở của vấn đề. Điều này hết sức bình thường. Toán học rất rộng lớn, tôi không thể biết hết các công cụ.

Vì thế, nếu muốn biết được các công cụ mới để nghiên cứu những lĩnh vực mới, không còn cách nào khác là phải học lại từ đầu. Tất nhiên, tôi có thể học nhanh hơn sinh viên nhưng tâm thế thực sự phải là của một người đi học.

Nói đến chuyện học, tôi nhớ đến nhà toán học Langlands, cha đẻ chương trình Langlands. Ông là một người đặc biệt bởi khả năng tiên tri.

Langlands là con nhà tiều phu, không học trường danh giá, cũng không làm PhD (tiến sĩ) với thầy giỏi. Ông luôn độc lập nghiên cứu, tự học, thậm chí chẳng thèm đi theo luồng chính của toán học.

Langlands đã đưa ra nhiều công thức làm tiền đề cho chương trình Langlands. Ông đã chứng minh được các dự đoán của mình là đúng trong những trường hợp đặc biệt bằng các công thức hết sức phức tạp. Nếu công thức đó đúng thì rất nhiều định lý khác cũng sẽ đúng.

Khi Langlands đưa ra Bổ đề cơ bản, rất nhiều định lý đã ra đời trên cơ sở bổ đề này. Sau 30-40 năm từ khi Langlands đưa ra bài toán Bổ đề cơ bản, những cái đầu “to” nhất của toán học thế giới đều đã bó tay.

Trong quãng thời gian đó, các ngành khác cũng phát triển và rất nhiều lý thuyết dựa vào chương trình Langlands. Một giáo sư toán học người Canada dạy ở Mỹ đã viết hàng trăm công trình nhưng nếu Bổ đề cơ bản sai thì tất cả công trình của ông đều... đi tong.

Tránh ngộ nhận, ngụy biện

Tôi nhớ mãi bài báo của một nhà toán học người Anh tôi đọc được năm 2003, khi còn là nghiên cứu sinh ở Pháp, nói về phương trình đạo hàm riêng mô tả hạt cơ bản (hạt X).

Chứng minh phủ định sự tồn tại của hạt X vẫn là một vấn đề còn nhiều tranh cãi. Tác giả bài báo nghiên cứu hạt X bằng đại số. Tôi học khá sâu về đại số nên rất thích bài này và đọc rất nhiều lần, dù chỉ một lần là hiểu.

Thời điểm ấy, tôi bắt đầu nghiên cứu Bổ đề cơ bản. Tôi nghĩ rằng bài báo này chắc chắn sẽ giúp mình làm được một điều gì đó, ít nhất là tư tưởng tỏa ra từ nó.

Một vấn đề xuất phát điểm là toán học thuần túy, được đại số hóa nhưng lại cho mình những lời giải rất hay, có tính chìa khóa để mở ra nhiều vấn đề trong cuộc sống.

Ngày nay, sách báo không thiếu nhưng vấn đề là làm thế nào để đọc được những thứ cần đọc. Tôi cho rằng đó chính là vai trò của môi trường khoa học, nơi cung cấp cho ta hướng đi đúng đắn.

Có một cách hay để rút ngắn thời gian là hỏi những người đi trước, họ sẽ biết rất rõ sách nào nên và không nên đọc. Nhưng không phải có sách trong tay rồi thì đọc ngấu nghiến là sẽ có thể hiểu hết. Nếu chưa đặt ra câu hỏi, mình vẫn chưa thể tiếp cận được vấn đề.

Nhìn chung, đơn thương độc mã tự giải quyết vấn đề sẽ thất bại nhưng ít ra, sau thất bại ấy, ta cũng đã có được những khúc mắc về vấn đề đang tìm hiểu. Thế nên, đầu tiên là phải khoanh vùng những gì cần học, cần đọc. Khi tìm được câu hỏi rồi thì quay lại vấn đề sẽ vỡ ra nhiều điều.

Tôi đã học được một điều là nếu có gì khúc mắc thì phải diễn đạt ra được bằng một câu hỏi rành mạch. Khi có câu hỏi tốt rồi thì vấn đề đã được giải quyết đến 50%.

Tôi không tuyệt đối hóa vai trò toán học trong cuộc sống của mình. Thế nhưng, toán học giúp tôi phân tích mạch lạc, đâu là dữ kiện, đâu là đáp số. Tôi thấy nhiều người không thể phân biệt điều này nên dẫn đến những sai lầm.

Tôi cho rằng những người học toán và có tư duy toán học có ưu thế là giúp mình tránh ngộ nhận và ngụy biện. Có những suy diễn kiểu như 1 đúng, 2 đúng, suy ra 3-4 cũng phải đúng nhưng thông thường thì cái 3 đã sai rồi. Ngụy biện là tranh luận cho sướng miệng, coi nặng hơn thua mà không cần biết đúng sai.

Công cụ hữu hiệu nhất của tư duy là so sánh. Khi giải quyết được một vấn đề thì khi gặp vấn đề tương tự, nhìn chung những người có tư duy toán học có thể giải quyết tốt.

Thầy và trò

Là học trò thì tôi có vẻ thành công nhưng dường như trên cương vị người thầy, tôi lại đang thất bại. Đến nay, tôi hướng dẫn 2 học trò làm nghiên cứu sinh nhưng cả 2 đều bỏ dở.

Có lẽ tôi đã có chủ quan khi nhận học trò, chọn người làm việc cùng. Tôi từng nghĩ vấn đề mình đặt ra là phù hợp, nếu cần tôi có thể giúp, thậm chí làm thay họ. Nhưng sau một thời gian, tôi nhận ra kể cả mình có thể làm thay từ A đến Z thì cũng không thể nhét vào đầu họ được nếu họ không tự lao động.

Tôi nhận ra rằng áp đặt logic tư duy vào người khác là rất khó. Để làm việc với nhau được, ý tưởng người thầy phải dẫn dắt, trùng khớp với ý tưởng học trò. Tôi không thành công với các học trò của mình nhưng lại thành công với những người thầy và người đi trước là vì điều này. Nếu tư tưởng và ý chí trùng khớp thì ta sẽ làm việc được với nhau rất lâu.

Tôi rất biết ơn các thầy mình, nhất là thầy Gérard Laumon. Cả thế giới chỉ mình ông có hai sinh viên được Giải Fields.

Thời là nghiên cứu sinh, nhiều khi tôi định dùng “thủ thuật” để gây áp lực cho thầy nhưng đều không qua mắt được ông. Trong cuộc sống, ông là người rất chan hòa, luôn quan tâm, lắng nghe học trò. Có những quãng thời gian tôi cảm thấy rất khó khăn, nhất là giai đoạn làm Master, tôi bị lạc hướng hoàn toàn.

Làm việc với thầy Laumon, tôi đã biết được núi nào đáng leo trong toán học. Ông đã hướng dẫn tôi vượt từng ngọn núi, đầu tiên là đọc 45 trang sách trong vòng 3 tháng.

Giờ đã là người trưởng thành rồi nhưng cứ 2 tuần một lần, tôi lại gọi điện cho ông để chuyện trò, nhiều khi chỉ là những tâm sự trong cuộc sống, thậm chí chuyện “trời ơi đất hỡi”.

Theo: NLD.com.vn

GS Ngô Bảo Châu: "Tôi đang thất bại trên cương vị người thầy"

"Là học trò thì tôi có vẻ thành công nhưng dường như trên cương vị người thầy, tôi lại đang thất bại. Đến nay, tôi hướng dẫn 2 học trò làm nghiên cứu sinh nhưng cả 2 đều bỏ dở" - GS Ngô Bảo Châu.
GS Ngô Bảo Châu:

Vững vàng trước khen chê

Thông thường, khi ta đã đạt một đỉnh cao nhất định, có thành tựu và được biết đến, xã hội và mọi người sẽ chờ đợi nhiều hơn ở ta. Tuy nhiên, trong nhiều chuyện, tôi biết chắc mình có thể làm thầy người khác nhưng vẫn muốn làm học trò. Bây giờ, tôi muốn đi học lại từ đầu như một cậu tân sinh viên!

Tất nhiên, không phải lúc nào tôi cũng đặt mình ở vị trí học trò, nhún nhường như một người đi học lại từ đầu. Nhưng không đặt mình ở vị trí học trò, của một người đi học thì rất khó để làm mới mình và chinh phục những đỉnh cao mới trong học thuật. Hơn nữa, làm học trò lần thứ hai sau khi đã làm thầy rồi bao giờ cũng dễ hơn, bởi mình đã trưởng thành hơn, đã đủ va chạm và vững vàng hơn trước những khen chê.

Ngay sau khi thành công với Bổ đề cơ bản - chứ không phải đợi đến khi nhận Giải Fields, tôi đã bắt tay nghiên cứu những lĩnh vực mới mà mình chưa biết tí gì.

Tôi hỏi những người xung quanh là nên đọc sách gì và lại vùi đầu trong thư viện. Nói chung, tôi luôn học lại từ đầu. Bổ đề cơ bản chỉ là ngưỡng nhất định mà mục đích của tôi đến với toán học còn rất xa.

Khi bắt tay nghiên cứu Bổ đề cơ bản, tôi biết mình phải học những gì, tiếp cận những công cụ nào để giải quyết.
"Thà để lại điều gì đó nhỏ thôi một cách âm thầm còn hơn là tạo ra một đống to đùng nhưng không có tác dụng gì" - GS Ngô Bảo Châu.

Bây giờ muốn đi xa hơn, tôi phải học lại để nắm bắt những công cụ mới, bắt đầu từ cơ sở của vấn đề. Điều này hết sức bình thường. Toán học rất rộng lớn, tôi không thể biết hết các công cụ.

Vì thế, nếu muốn biết được các công cụ mới để nghiên cứu những lĩnh vực mới, không còn cách nào khác là phải học lại từ đầu. Tất nhiên, tôi có thể học nhanh hơn sinh viên nhưng tâm thế thực sự phải là của một người đi học.

Nói đến chuyện học, tôi nhớ đến nhà toán học Langlands, cha đẻ chương trình Langlands. Ông là một người đặc biệt bởi khả năng tiên tri.

Langlands là con nhà tiều phu, không học trường danh giá, cũng không làm PhD (tiến sĩ) với thầy giỏi. Ông luôn độc lập nghiên cứu, tự học, thậm chí chẳng thèm đi theo luồng chính của toán học.

Langlands đã đưa ra nhiều công thức làm tiền đề cho chương trình Langlands. Ông đã chứng minh được các dự đoán của mình là đúng trong những trường hợp đặc biệt bằng các công thức hết sức phức tạp. Nếu công thức đó đúng thì rất nhiều định lý khác cũng sẽ đúng.

Khi Langlands đưa ra Bổ đề cơ bản, rất nhiều định lý đã ra đời trên cơ sở bổ đề này. Sau 30-40 năm từ khi Langlands đưa ra bài toán Bổ đề cơ bản, những cái đầu “to” nhất của toán học thế giới đều đã bó tay.

Trong quãng thời gian đó, các ngành khác cũng phát triển và rất nhiều lý thuyết dựa vào chương trình Langlands. Một giáo sư toán học người Canada dạy ở Mỹ đã viết hàng trăm công trình nhưng nếu Bổ đề cơ bản sai thì tất cả công trình của ông đều... đi tong.

Tránh ngộ nhận, ngụy biện

Tôi nhớ mãi bài báo của một nhà toán học người Anh tôi đọc được năm 2003, khi còn là nghiên cứu sinh ở Pháp, nói về phương trình đạo hàm riêng mô tả hạt cơ bản (hạt X).

Chứng minh phủ định sự tồn tại của hạt X vẫn là một vấn đề còn nhiều tranh cãi. Tác giả bài báo nghiên cứu hạt X bằng đại số. Tôi học khá sâu về đại số nên rất thích bài này và đọc rất nhiều lần, dù chỉ một lần là hiểu.

Thời điểm ấy, tôi bắt đầu nghiên cứu Bổ đề cơ bản. Tôi nghĩ rằng bài báo này chắc chắn sẽ giúp mình làm được một điều gì đó, ít nhất là tư tưởng tỏa ra từ nó.

Một vấn đề xuất phát điểm là toán học thuần túy, được đại số hóa nhưng lại cho mình những lời giải rất hay, có tính chìa khóa để mở ra nhiều vấn đề trong cuộc sống.

Ngày nay, sách báo không thiếu nhưng vấn đề là làm thế nào để đọc được những thứ cần đọc. Tôi cho rằng đó chính là vai trò của môi trường khoa học, nơi cung cấp cho ta hướng đi đúng đắn.

Có một cách hay để rút ngắn thời gian là hỏi những người đi trước, họ sẽ biết rất rõ sách nào nên và không nên đọc. Nhưng không phải có sách trong tay rồi thì đọc ngấu nghiến là sẽ có thể hiểu hết. Nếu chưa đặt ra câu hỏi, mình vẫn chưa thể tiếp cận được vấn đề.

Nhìn chung, đơn thương độc mã tự giải quyết vấn đề sẽ thất bại nhưng ít ra, sau thất bại ấy, ta cũng đã có được những khúc mắc về vấn đề đang tìm hiểu. Thế nên, đầu tiên là phải khoanh vùng những gì cần học, cần đọc. Khi tìm được câu hỏi rồi thì quay lại vấn đề sẽ vỡ ra nhiều điều.

Tôi đã học được một điều là nếu có gì khúc mắc thì phải diễn đạt ra được bằng một câu hỏi rành mạch. Khi có câu hỏi tốt rồi thì vấn đề đã được giải quyết đến 50%.

Tôi không tuyệt đối hóa vai trò toán học trong cuộc sống của mình. Thế nhưng, toán học giúp tôi phân tích mạch lạc, đâu là dữ kiện, đâu là đáp số. Tôi thấy nhiều người không thể phân biệt điều này nên dẫn đến những sai lầm.

Tôi cho rằng những người học toán và có tư duy toán học có ưu thế là giúp mình tránh ngộ nhận và ngụy biện. Có những suy diễn kiểu như 1 đúng, 2 đúng, suy ra 3-4 cũng phải đúng nhưng thông thường thì cái 3 đã sai rồi. Ngụy biện là tranh luận cho sướng miệng, coi nặng hơn thua mà không cần biết đúng sai.

Công cụ hữu hiệu nhất của tư duy là so sánh. Khi giải quyết được một vấn đề thì khi gặp vấn đề tương tự, nhìn chung những người có tư duy toán học có thể giải quyết tốt.

Thầy và trò

Là học trò thì tôi có vẻ thành công nhưng dường như trên cương vị người thầy, tôi lại đang thất bại. Đến nay, tôi hướng dẫn 2 học trò làm nghiên cứu sinh nhưng cả 2 đều bỏ dở.

Có lẽ tôi đã có chủ quan khi nhận học trò, chọn người làm việc cùng. Tôi từng nghĩ vấn đề mình đặt ra là phù hợp, nếu cần tôi có thể giúp, thậm chí làm thay họ. Nhưng sau một thời gian, tôi nhận ra kể cả mình có thể làm thay từ A đến Z thì cũng không thể nhét vào đầu họ được nếu họ không tự lao động.

Tôi nhận ra rằng áp đặt logic tư duy vào người khác là rất khó. Để làm việc với nhau được, ý tưởng người thầy phải dẫn dắt, trùng khớp với ý tưởng học trò. Tôi không thành công với các học trò của mình nhưng lại thành công với những người thầy và người đi trước là vì điều này. Nếu tư tưởng và ý chí trùng khớp thì ta sẽ làm việc được với nhau rất lâu.

Tôi rất biết ơn các thầy mình, nhất là thầy Gérard Laumon. Cả thế giới chỉ mình ông có hai sinh viên được Giải Fields.

Thời là nghiên cứu sinh, nhiều khi tôi định dùng “thủ thuật” để gây áp lực cho thầy nhưng đều không qua mắt được ông. Trong cuộc sống, ông là người rất chan hòa, luôn quan tâm, lắng nghe học trò. Có những quãng thời gian tôi cảm thấy rất khó khăn, nhất là giai đoạn làm Master, tôi bị lạc hướng hoàn toàn.

Làm việc với thầy Laumon, tôi đã biết được núi nào đáng leo trong toán học. Ông đã hướng dẫn tôi vượt từng ngọn núi, đầu tiên là đọc 45 trang sách trong vòng 3 tháng.

Giờ đã là người trưởng thành rồi nhưng cứ 2 tuần một lần, tôi lại gọi điện cho ông để chuyện trò, nhiều khi chỉ là những tâm sự trong cuộc sống, thậm chí chuyện “trời ơi đất hỡi”.
MathVn.Com (Theo NLD)

Thứ Sáu, 4 tháng 2, 2011

Ngô Bảo Châu và Bổ đề cơ bản lên lịch Tân Mão 2011

Ngô Bảo Châu và Bổ đề cơ bản trong bộ lịch Tân Mão 2011: Download
Công ty Cổ phần Công nghệ Tinh Vân với sự đóng góp của GS Ngô Bảo Châu, họa sĩ Lê Tâm, thiết kế Đinh Anh Quân đã phát hành lịch Tân Mão 2011 gồm 12 tranh với chủ đề Bổ Đề Cơ Bản…
Lịch Tân Mão 2011 với chủ đề Ngô Bảo Châu, Bổ đề cơ bản
Tháng tám mùa thu năm Canh Dần, tức 2010 dương lịch, Việt Nam hân hoan đón nhận tin GS. Ngô Bảo Châu đoạt giải thưởng Fields, giải thưởng danh giá tương đương với giải Nobel cho Toán học. GS. Ngô đã chứng minh sáng sủa “Bổ đề Cơ bản”, là bí kíp vô cùng quan trọng trong bản tổng phổ Langlands – Chương trình kết nối mọi lĩnh vực của toán học hiện đại. “Bổ đề Cơ bản” tuy chỉ là một vấn đề kỹ thuật, nhưng nó đã gây lúng túng cho nhiều cao thủ hơn 30 năm qua. Thành tựu đột phá của Ngô giúp các nhà toán học tiến lên trong việc chinh phục cả “Chương trình Langlands”.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Lý thuyết số
Lepold Kronecker (1823-1891)
Để hiểu “Bổ đề Cơ bản” ta cần có khái niệm về lý thuyết số. Số là cách thức con người nguyên thủy ghi lại số lượng các đối tượng như súc vật nuôi, bạn bè, khách hàng… Năm 700 TCN người Babylon đã phát minh ra số 0, sau được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực tài chính. Nhà toán học Đức Kronecker từng nói: “Chúa trời đã tạo ra các số nguyên, phần việc còn lại là của chúng sinh”. Nhà toán học Pháp Pierre de Fermat được coi là sư tổ của lý thuyết Số hiện đại đồng thời là tác giả “Định lý Fermat lớn”, định lý đã làm chấn động toán lâm và điên đầu vô số hảo thủ trong gần bốn thế kỷ.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Evariste Galois (1811-1832)
Lý thuyết Nhóm là ngành nghiên cứu về các cấu trúc đại số có tính đối xứng. Lý thuyết Nhóm đặc biệt được ứng dụng rộng rãi trong vật lý hiện đại, được xuất hiện lần đầu trong công trình của nhà toán học mãi mãi tuổi 21 người Pháp Évariste Galois vào năm 1830. Rất nhiều cấu trúc toán học khác nhau được quy về cấu trúc Nhóm. Đặc biệt quan trọng là các nhóm Lie, được xem như là họ của các phép đối xứng biến đổi trơn tru. GS. Ngô đã chứng minh “Bổ đề Cơ bản” cho trường hợp riêng với nhóm Unita vào năm 2004 và tổng quát với toàn bộ nhóm Lie năm 2008.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Pierre de Fermat (1601-1665)

Năm 1637 đại sư tổ môn phái toán học Pháp là Pierre de Fermat đã viết vào lề cuốn “Số học” của Diophante thời Hy Lạp cổ đại mấy dòng chữ sau: “Phương trình xn+ yn=zn không có nghiệm nguyên dương khi n lớn hơn 2. Tại hạ đã tìm được cách chứng minh tuyệt vời nhưng đáng tiếc lề sách không đủ rộng để ghi ra đây”. Điều khẳng định bí ẩn trên, sau được gọi là “Định lý Fermat lớn” đã trở thành một thách đố làm bối rối những bộ óc vĩ đại nhất của nhân loại. “Định lý Fermat lớn” chỉ được chứng minh triệt để vào năm 1995 bởi nhà toán học Anh A. Wiles.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Giải thuyết Taniyama – Shimura

Hai nhà toán học Nhật Bản Y. Taniyama và G. Shimura
Giữa thế kỷ 20, hai cao nhân Nhật Bản là Yukata Taniyama và Goro Shimura đưa ra phỏng đoán thiên tài là mỗi phương trình eliptic đều có liên hệ với một dạng modular. Nếu đúng, giả thuyết này sẽ giải quyết nhiều bài toán số học cho đến any chưa giải quyết được bằng cách tiếp cận qua thế giới hình học. Mùa thu năm 1984 nhà toán học Gerhard Frey đã kết luận rằng nếu chứng minh được “Giả thuyết Taniyama – Shimura” thì cũng có nghĩa là chứng minh được “Định lý Fermat lớn”, bởi vì định lý này chỉ là một hệ quả của giả thuyết trên.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Robert Phelan Langlands (1936)
Trong những năm 60, nhà toán học Canada R. Langlands đưa ra một loạt giả thuyết về những mối liên hệ giữa nhiều ngành toán học vốn rất khác nhau, và kêu gọi giới toán học quốc tế hợp tác chứng minh những giả thuyết đó, cấu thành “Chương trình Langlands”.
Ngô Bảo Châu nhận xét: “Các giả thuyết Langlands là động lực cho sự phát triển của toán học lý thuyết trong vòng bốn chục năm trở lại đây. Rất nhiều bài toán tưởng như là những viên gạch riêng lẻ, nay được các giả thuyết của Langlands sắp xếp lại thành một công trình kiến trúc vĩ đại…”
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Andrew John Wiles (1953)Hứng thú với “Giả thuyết Tayniyama – Shimura” và “Định lý Fermat lớn”, nhà toán học Anh A. Wiles đã âm thầm nhập thất, đóng cửa luyện công trong bảy năm liền để tìm kiếm lời giải cho bài toán xuyên thế kỷ. Dù trong quá trình khổ luyện có lúc tẩu hỏa nhập ma, nhưng với bản lĩnh cao cường năm 1995, A. Wiles đã tái xuất giang hồ và công bố cách chứng minh “Định lý Fermat lớn”, chấm dứt 358 năm căng thẳng của toán giới. Nhưng kết quả có ý nghĩa lớn hơn nhiều là “Giả thuyết Tayniama – Shimura” được chứng minh
đồng nghĩa nền tảng “Chương trình Langlands” là vững chắc.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Công thức vết Arthur – SelbergJames Arthur (1944)
Một trong những công cụ được coi là bảo bối phát triển từ “Chương trình Langlands” là “Công thức vết Arthur – Selberg”, một phương trình cho thấy có thể dùng các phương pháp hình học để tính toán những bài toán số học. Nhưng chính Langlands đã gặp một trở ngại lớn khi sử dụng bảo bối này bởi xuất hiện những tích phân quỹ đạo phức tạp. Theo Langlands các tích phân này bằng nhau nhưng ông không thể chứng minh được. Ông gọi nó là “Bổ đề Cơ bản”
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
“Bổ đề Cơ bản” gắn liền với một giả thuyết quyết định, một bộ phận không thể tách rời của “Chương trình Langlands”, khó chứng minh đến mức mà 30 năm qua nhiều cao thủ toán học hàng đầu – kể cả chính Langlands – đã ra sức lao vào giải quyết nhưng đều thất bại. GS. Ngô viết: “Bổ đề Cơ bản không hẳn là bổ đề vì ông Langlands chỉ chứng minh nó trong một trường hợp đặc biệt, còn trường hợp tổng quát thì được nêu như một giả thuyết. Còn “cơ bản” là vì cả một góc lớn của chương trình kể trên sẽ sụp đổ nếu nó không đúng”.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Sư phụ G. Laumon (1952)
Do vai trò đặc biệt quan trọng của “Bổ đề Cơ bản”, nhiều nhà toán học đã nỗ lực và chứng minh được một số trường hợp riêng. Năm 1979, Labesse và Langlands chứng minh được cho nhóm SL (2). Sau đó Kottwitz chứng minh cho nhóm SL(3), và Waldspurger chứng minh cho toàn bộ nhóm SL(n). Đến 2004, GS. Ngô Bảo Châu và sư phụ là GS. Laumon đã song kiếm hợp bích chứng minh cho toàn bộ nhóm unita U(n). Với kết quả này, Laumon và Ngô Bảo Châu được trao giải thưởng nghiên cứu Clay vào năm 2004.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Công trình được Time bình chọn là một trong 10 khám phá năm 2009. Đầu năm 2008, GS. Ngô Bảo Châu công bố một chứng minh hoàn chỉnh cho “Bổ đề Cơ bản” trong trường hợp tổng quát cho các đại số Lie. Lúc đầu công trình dài 150 trang. Sau khi lược bỏ bớt những điều không phục vụ trực tiếp cho chứng minh “Bổ đề Cơ bản” và diễn giải chi tiết hơn, công trình dài thành 188 trang. Dù ý tưởng chứng minh rất rành rọt, các nhà toán học hàng đầu vẫn phải mất hơn 1 năm để kiểm chứng nó. Năm 2009, công trình được tạp chí Time bình chọn là một trong 10 khám phá khoa học quan trọng nhất của năm.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Sự thống nhất lớn

Công trình của GS. Ngô Bảo Châu đã đặt thêm những viên gạch vững chắc cho nền móng của “Chương trình Langlands”, thống nhất mọi lĩnh vực của toán học hiện đại.
Trong vật lý hiện đại các nhà vật lý cũng đang nỗ lực cho một lý thuyết thống nhất lớn ọi là M-Theory với chữ M có gốc từ chữ Mother (mẹ). Và trong cuộc sống hằng ngày, thật kỳ diệu đôi khi chúng ta cũng cảm thấy mình là một cấu thành không thể tách rời của một vũ trụ thống nhất, vũ trụ của tính nhân bản và tình yêu thương.
MathVn.Com (Theo Tia sáng tháng 1/2011)

Bài đăng phổ biến