Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2009

Giáo trình Cơ sở hình học đại số của GS. Ngô Bảo Châu


Thật may mắn khi có một nhà Toán học hàng đầu thế giới lại quan tâm đến sinh viên Việt Nam như GS. Ngô Bảo Châu - người đã biên soạn rất nhiều tài liệu bằng tiếng Việt cho sinh viên.
Trong bài này, MathVn.Com sẽ giới thiệu một giáo trình cơ bản về Hình học Đại số. Cuốn này dày 178 trang, hữu ích cho các học viên cao học chuyên ngành Hình học và các sinh viên Toán.
Dowbload bản PDF 951KB ở đây: Download

Đường cong hình con bướm (butterfly curve)


Có hai đường cong được biết đến với cái tên Butterfly Curve (Đường cong hình con bướm).
Thứ nhất là đường cong bậc 6 có phương trình là

(Cundy and Rollett 1989, p. 72; hình bên trái). Diện tích cả hai cánh được tính bởi


Đường cong thứ hai có phương trình trong hệ tọa độ cực là

(Bourke, Fay 1989, Fay 1997, Kantel-Chaos-Team, Wassenaar; hình bên phải).

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2009

David Hilbert và 23 bài toán của thế kỉ XX

If I were to awaken after having slept for a thousand years, my first question would be: Has the Riemann hypothesis been proven? - David Hilbert
Tạm dịch là
Nếu tôi sống lại sau một nghìn năm nữa, câu hỏi đầu tiên của tôi sẽ là: Giả thuyết Riemann đã đựoc giải quyết chưa? - David Hilbert

David Hilbert (23 tháng 1, 1862, Wehlau, Đông Phổ – 14 tháng 2, 1943, Göttingen, Đức) là một nhà toán học người Đức, được công nhận như là một trong những nhà toán học có ảnh hưởng rộng lớn nhất của thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20. Hilbert quan tâm đến hầu như tất cả các lĩnh vực của Toán học, lý thuyết cũng như ứng dụng. Nhưng ông chú ý nhiều đến Lý thuyết Số, Cơ sở Toán học, Lý thuyết Phương trình vi phân, Hình học. Ngoài ra ông còn quan tâm đến Vật lý-Toán, đến bài toán ba vật thể. Nhưng đặc biệt là ông đã trình bày tại Hội nghị Toán học ở Paris (1900) 23 bài toán nổi tiếng, mà theo ông là những hướng nghiên cứu Toán học lý thú cho các nhà Toán học thế giới ở thế kỷ XX. Hơn 100 năm trôi qua đã minh chứng cho ý kiến của Hilbert là đúng và một số những bài toán còn lại chưa có người giải được vẫn còn là nguồn "cảm hứng" cho các nhà Toán học thế kỷ XXI!
Nhưng Hilbert mở đầu cho sự nghiệp Toán học của đời mình bằng "Lý thuyết các bất biến" và đó cũng là nội dung Luận án của ông. Trước Hilbert,các nhà Toán học Cayley và Gordan cũng đã nhận xét rằng: trong mọi trường hợp, các bất biến là những đa thức của một số hữu hạn của chúng. Hilbert tìm cách hình thức hoá kết quả này và đưa đến một bài toán về sự hữu hạn (problème de finitude) trong các vành đa thức. Hilbert chứng tỏ rằng người ta có thể tìm được một số p các bất biến sao cho mọi bất biến là một đa thức của các bất biến nói trên.Tập các đa thức thích hợp tạo thành một idéal của vành cac đa thức có p bất định. Vấn đề còn lại là chứng tỏ rằng mọi idéal của một vành đa thức trên một trường là có dạng hữu hạn.Lý thuyết các bất biến không còn nữa và trở nên một trường hợp riêng của việc khảo sát các vành đa thức. Có lần, Hilbert chứng minh lại những kết quả mà Gordan đã làm nhưng đơn giản và hay hơn đến nỗi Gordan phải thốt lên: "Đây không còn là Toán học nữa mà là 'Thần học'", có lần Gordan khoái chí: "Tôi hoàn toàn bị chinh phục rằng 'Thần học' đôi lúc cũng có lợi đấy chứ", và vì vốn khâm phục Hilbert từ trước nên Gordan tiếp tục những công việc của Hilbert.

Hilbert quay về Lý thuyết số. Năm 1893,ông đã đưa ra một chứng minh đơn giản rằng cơ số e của logarithe Neper và π(pi) là 2 số siêu việt (số siêu việt là số mà nó không thể là nghiệm của bất kỳ phương trình đại số nào) dù rằng trước đó nhà Toán học người Pháp Charles Hermite(1822-1901) đã chứng minh e là số siêu việt và Ferdinand Lindemann(1852-1939)người Đức đã chứng minh được đối với π(và từ kết quả này Lindemann chứng minh việc cầu phương một hình tròn là không làm được bằng thước và compas). Sau đó,Hilbert cũng chứng minh được conjecture(phỏng đoán) của Waring. Người ta còn biết ơn Hilbert về các conjectures (bài toán 7 và 9 trong 23 bài toán của Hilbert đề xướng) đã mở đường cho Takagi, Artin, và Chevalley.

Hilbert còn tổng quát hoá bài toán của Dirichlet(bài toán 20).Phương pháp mà ông dùng năm 1900 đã mở đường cho một cách tiếp cận mới loại bài toán mới này, và chính Courant là một trong những ngươi biết tận dụng. Năm 1901 Hilbert quay về Lý thuyết Phương trình tích phân và quan tâm nghiên cứu đến bài toán mà Poincaré đã đặt ra (bài toán 20). Ngay ở đó người ta cũng thấy manh nha nhiều phương pháp mới. Hilbert còn chứng minh lại những kết quả của Fredholm nhờ sự trực giao hoá các hệ phương trình. Ông đã tìm cách hình thức hoá cách tiến hành và nhờ Hình học phi Euclide gợi ý, ông đã đưa ra "những dạng toàn phương" có vô số số hạng. Điều này cần cho sự hội tụ của các bình phương của các thành phần.Ông còn có sáng kiến đưa ra khái niệm về sự "đầy đủ hoá"(complétude) và để ý đến phổ các toán tử. Chính vì thế mà Schmidt và Von Neuman lấy lại ý kiến của ông để lập nên Lý thuyết về các không gian Hilbert.

Trong khi thiết lập các cơ sở Toán học, Hilbert được xem như người đứng đầu phái những nhà Toán học có tư tưởng hình thức nghĩa là những nhà Toán học xây dựng Lý thuyết trên cơ sở Tiên đề, áp dụng vào các đối tượng và ý nghĩa được xem là thứ yếu (Peano được xem là đồng minh tích cực của ông trong lĩnh vực này). Chính vì vậy mà Hilbert đã lập ra Hình học bằng một hệ Tiên đề. Ông đã bổ sung cho Hình học Euclide những Tiên đề ẩn tàng (implicite). Để chứng minh cho sự cách biệt giữa thực tế vật lý của thế giới và sự Tiên đề hóa này, ông đưa ra ý nghĩ độc đáo rằng theo cách suy nghĩ và cách làm của ông thì ta có thể nghĩ: điểm có thể là một ly bia hay đường thẳng là một cái bàn; và như vậy thì khi Tiên đề được nghiệm đúng thí kết luận cũng sẽ đúng. Những định lý của Godel đã cho một cú quyết định vào hy vọng của ông sáng tạo một lý thuyết mới bằng cách chứng tỏ sự phi mâu thuẫn của nó. Cả cuộc đời, Hilbert luôn quan tâm đến sự tổng quát hoá và không ngừng tìm ra phương pháp mới để đưa thế giới Toán học tiến lên, vì vậy ông được giới Toán học tôn vinh là nhà Toán học của thế kỷ, có vai trò cơ bản trong sự nghiệp phát triển Toán học thế giới.

Hai mươi ba bài toán của David Hilbert(Bài toán chưa có lời giải được tô đỏ)

Đây là phần giới thiệu của bài phát biểu mà Hilbert đã đọc:

Ai trong chúng ta mà không cảm thấy vui sướng khi vén lên bức màn mà tương lai
ẩn đằng sau đó; nhìn thẳng vào những phát triển sắp xảy đến của khoa học và
những bí ẩn của sự phát triển trong những thế kỉ kế tiếp? Mục đích cuối cùng mà
tinh thần của các nhà toán học tương lai hướng tới sẽ là gì? Những phương pháp
mới nào, những sự kiện mới nào mà thế kỉ mới sẽ tiết lộ trong lĩnh vực bao la và
phì nhiêu của các ý tưởng toán học?

- Bài toán 1: Giả thuyết continuum có được nghiệm đúng? Có thể có một thứ tự tốt trên?

- Bài toán 2: Có thể chứng minh bằng các phương pháp hữu hạn(procédés finistes)sự bền vững của Số học?

- Bài toán 3: Có thể ứng dụng phương pháp phân tích thành đa diện để tính thể tích được không?

- Bài toán 4: Hãy tìm các Hình học trong đó đường ngắn nhất đi từ điểm này đến điểm kia là đoạn thẳng? (Xem thêm tại đây)

- Bài toán 5: Có những nhóm LIE liên tục không? Nói cách khác,giả thiết tính khả vi có cần trong định nghĩa nhóm LIE?

- Bài toán 6: Có thể toán học hoá các Tiên đề trong Vật lý? (Câu hỏi này chưa thật thích hợp với quan niệm hiện đại về 2 môn Toán và Lý). (Xem thêm tại đây)

- Bài toán 7: Ta nói gì về tính siêu việt của ab với a là đại số,b là vô tỷ khác 0?

- Bài toán 8: Giả thiết Riemann- Tất cả các không điểm ảo của hàm dzeta có một phần ảo là ½ .

- Bài toán 9: Cho A là vành các số nguyên của một trường đại số và J là một idéal nguyên tố của A. Với a thuộc A, ta ký hiệu L(J/a) là số nghiệm của phương trình x²≡a(mod j) trừ đi 1.Đây là bài toán về tính nghịch đảo toàn phương, nghĩa là dáng điệu của L(J/a) phụ thuộc vào J.

- Bài toán 10: Có thể nào tìm được một thuật toán giúp ta xác định,sau một số hữu hạn bước,rằng một phương trình Diophante có nghiệm nguyên? (Bài toán này được nghiên cứu trong khuôn khổ các hàm đệ quy).

- Bài toán 11: Hãy thiết lập bảng phân loại các dạng toàn phương có hệ số trong một vành các số nguyên đại số.

- Bài toán 12: Hãy tổng quát hoá bài toán số 9 và nghiên cứu cách xây dựng các trường của lớp.

- Bài toán 13: Người ta chứng tỏ rằng ở bậc n=6 các nghiệm của phương trình bậc n được biểu diễn như là sự chồng chất(superposition)các hàm liên tục có 2 biến của các hệ số của phương trình. Ví dụ các nghiệm của phương trình xX²+2Yx+z=0 được viết dưới dạng f(y,h(x,z) với h(x,z)=xz và f(y,u)=-y±√(y²-u). Kết quả này sẽ sai trong trường hợp n=7

- Bài toán 14: Cho K là một trường,L là một sự nới rộng của K va M=K(X1...Xn).Ta giả sử rằng L con M. Giao L∩K[X1...Xn] có phải là một Đại số hữu hạn không?

- Bài toán 15: Hãy cho một cơ sở chặt chẽ vào kết quả dùng tính liên tục trong những bài toán Hình có dạng: Tìm số đường thẳng của không gian gặp 4 đường thẳng cho trước? (Bài toán này ngày nay được nghiên cứu trong khuôn khổ của Hình học-Đại số).

- Bài toán 16: Hãy nghiên cứu sự sắp đặt các nhánh của một đường cong không kỳ dị,đặc biệt là các đường cong tích phân của những phương trình vi phân xác định bởi đa thức homogènes(đẳng cấp) bậc n.

- Bài toán 17: Mọi phân số hữu tỷ có hệ số thực,dương hoặc bằng 0 tại miền xác định của nó,có thể biểu diễn dưới dạng tổng các bình phương của các phân số hữu tỷ?

- Bài toán 18: Tìm các pavages của không gian Rⁿbằng những đa diện congruents(toàn đẳng).

- Bài toán 19: Hãy nghiên cứu tính chất giải tích của các nghiệm của phương trình vi phân thường hoặc phương trình đạo hàm riêng.

- Bài toán 20: Hilbert đề nghị tổng quát hóa bài toán của Dirichlet cho những lớp hàm rộng hơn.

- Bài toán 21: Hãy mở rộng công trình của Fuchs vào nghiên cứu các phương trình vi phân thoả mãn những điều kiện cho truớc.

- Bài toán 22: Hãy chính xác hóa chứng minh của Poincaré về tính đều hóa các hàm giải tích phức.

- Bài toán 23: Hãy nghiên cứu tính trơn của các nghiệm của phương trình đạo hàm riêng xuất phát từ phép tính biến thiên.

Tham khảo thêm tại:

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2009

Edward N. Lorentz – Cha đẻ của Lý thuyết hỗn độn (Chaos theory)

Cái tên Lorentz được biết đến nhiều nhất kể từ sau bài báo năm 1972 mang tựa đề " "Predictability: Does the Flap of a Butterfly's Wings in Brazil Set Off a Tornado in Texas?" (Khả năng dự báo : Phải chăng nhịp đập của các cách bướm ở Brazil có liên hệ tới một trận bão ở Texas ?) . Nó cũng chính là một trong những nội dung của lý thuyết hỗn độn - một sự thay đổi rất nhỏ trong một hệ có thể có một ảnh hưởng lớn ngoài dự đoán .

Bằng cách chỉ ra có các giới hạn trong việc dự báo của nhiều hệ, Lorentz " đã đóng những cái đinh cuối cùng xuống tấm ván vũ trụ Cartesian, và cùng với lý thuyết tương đối rộng, lý thuyết lượng tử, mở ra cuộc cách mạng khoa học lần thứ 3 của thế kỷ 20," "Lorentz còn là một người đàn ông lý tưởng, với trí tuệ , nhân cách và lòng khiêm tốn, ông là một tấm gương cho bao thế hệ noi theo". (nhà khí tượng học Kerry Emanuel thuộc viện MIT)

Một trong những kết luận mang tính đột phá trong công trình của ông đó là không thể dự báo thời tiết một cách chính xác trước 3 tuần. Lý thuyết hỗn độn được nhen nhóm từ thế kỷ thứ 19, khi nhà vật lý học người Pháp Henri Poincare khám phá ( trong sự thất vọng ) rằng không thể nào tính toán được khả năng ổn định của một hệ chứa nhiều hơn 2 vật thể - ít nhất sử dụng các công cụ toán học thời đó.

Kết luận trên là một điều gây sốc bởi vì lý thuyết chuyển động và hấp dẫn của Newton chỉ ra được trật tự và khả năng dự đoán, và Poincare đã kết luận ngược lại, đó là sư tồn tại các yếu tố và các phương trình khác làm giới hạn cho khả năng dự đoán trên. Khi đó máy tính chưa xuất hiện, nên việc kiểm chứng kết luận của Poincare là điều rất khó khăn.

Năm 1961, một nhà nghiên cứu khí tượng học trẻ ở MIT đã sử dụng một mẫu máy tính nguyên thủy mang tên Royal McBee LPG-30 để nghiên cứu các mô hình đơn giản của tầng khí quyển dựa trên một chuối 12 phương trình vi phân. Sau một lần chạy thử, anh đã quyết định đi sâu hơn, và tìm hiểu cặn kẽ các cơ sở và kết quả của vấn đề. Thay vì chạy lại từ đầu, anh đã chọn một điểm trong bước tính toán và thay giá trị đã tính được ở phần trước đó. Anh ra ngoài nghỉ giải lao để giảm bớt căng thẳng và ồn ào mà máy tính nguyên thủy tạo ra. Khi trở lại, anh đã rất ngạc nhiên vì các mẫu thời tiết tính toán được đã thay đổi một cách hoàn toàn so với kết quả của lần đầu . Sau khi kiểm tra máy tính Royal McBee để đảm bảo đã không bị lỗi kỹ thuật nào, anh bắt đầu suy nghĩa và tìm ra cách giải thích cho kết quả mới.

Cuối cùng, anh đã nhận ra rằng các kết quả sơ khai đã được làm tròn tới con số thứ 6. Để tiết kiệm thời gian, lần chạy thứ hai anh chỉ làm tròn đến 3 chữ số . Sự chênh lệch của bước làm tròn kia chỉ vào khoảng 1%,xong lại dẫn đến một kết quả hoàn toán khác biệt. Nhà khoa học trẻ này chính là Lorentz, và anh đã tính các bước toán học cụ thể đồng thời báo cáo kết quả đó trên tạp chí Khoa học khí tượng ( Journal of Atmosphere Sciences ) năm 1963 với tiêu đề " Deterministic Nonperiodic Flow." ( Tính xác định của dòng không tuần hoàn ). Bài báo đầu tiên không được mấy ai quan tâm, cho đến bài thuyết trình mang tên " Cánh bướm " năm 1972 của ông tại hội nghị khoa học nâng cao của Mỹ.

Lorentz sau đó nói, ông đã có dự định sử dụng cánh chim hải âu như một hình ảnh minh họa cho hiện tượng trên nhưng đồng nghiệp của ông đã gợi ý đến cánh bướm vì nó có ảnh hưởng lớn hơn, và chọn Brazil làm nơi con bướm này cư ngụ.

Theo nguồn dữ liệu của Web of Science , bài báo nguyên bản của Lorentz đã nhận được trên 4000 kết quả trích dẫn ( citations ) của hàng nghìn tác giả khác nhau, làm cho nó trở thành một trong các bài báo được trích dẫn nhiều nhất mọi thời đại.

Edward Norton Lorentz sinh ngày 23 tháng 5 năm 1917, tại West Hartford Connecticut.

Ông có bằng cử nhân toán học của trường Dartmouth College năm 1938, và thạc sĩ toán học tại Harvard năm 1940.

Trong thời kỳ chiến tranh, ông đã phục vụ tại đài khí tượng của không quân Mỹ, và lấy bằng thạc sĩ thứ hai cho lĩnh vực khí tượng học tại trườ ng đại học MIT nă m 1943.

Sau chiến tranh, ông tiếp tục theo đuổi con đường này và nhận bằng tiến sĩ năm 1948, cũng tại MIT.

Ông dành cả cuộc đời của mình làm việc tại MIT. Cùng với giải thưởng Kyoto, ông còn nhận được giải thưởng Crafoord của Hàn lâm viện Thụy Điển năm 1983, dành tặng các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực nằm ngoài giải thưởng Nobel.

Ngày 16 tháng 4 năm 2008, ông đã qua đời tại nhà riêng của mình ở Cambridge, Mass, thọ hơn 90 tuổi.

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2009

Toán học kết duyên với bóng đá

Một số nhà toán học đang có xu hướng đặt tên công trình nghiên cứu theo tên các cầu thủ bóng đá để thu hút sự quan tâm của công chúng với ngành khoa học cơ bản này.
Bị loại khỏi cúp UEFA, sau đó thua Manchester United tại trận chung kết Carling Cup nhưng các cổ động viên Tottenham được an ủi vì cầu thủ David Bentley của đội được tôn vinh trong toán học không gian đa chiều .
Tên của cầu thủ David Bentley của Tottenham được đặt tên cho một công trình Toán học.

Khoa học thế giới có truyền thống đặt tên những đối tượng nghiên cứu quan trọng theo tên người. Khi các nhà thiên văn khám phá ra các tiểu hành tinh mới, họ thường đặt tên chúng để tỏ lòng tôn kính với những cá nhân nổi tiếng, bao gồm các Pharaoh (2436 Hatshepsut), các giáo hoàng (8661 Ratzinger) và nhạc sĩ (1815 Beethoven, 3834 Zappafrank và 15092 Beegees).
Tương tự, các nhà sinh học cũng tìm cách vinh danh ai đó mỗi khi họ phát hiện một loài mới. Năm 2007, Joe McHugh phát hiện ra một loài bọ thân nhớt ở Peru và liền đặt tên nó là enisphindus roxannae theo tên người vợ Roxanne của ông.
Những tiền lệ trên đã mở ra một trào lưu mua quyền đặt tên trong khoa học của một số người giàu có. Để có tiền bảo tồn một loài khỉ Trung Mỹ, các nhà khoa học đã nhận 650.000 USD từ Joe Cavelli, một thương gia kinh doanh sòng bạc. Đổi lại, tên loài khỉ được đặt là Celiicebus aureipalatii, theo ý muốn của thương gia này.

Để công chúng quan tâm đến khoa học và gây quỹ 3.000 USD giúp đỡ trẻ em nghèo ở Guatemala, giáo sư Marcus Du Sautoy thuộc ĐH Oxford quyết định "bán" tên đối tượng đối xứng (symmetry) trong không gian đa chiều (các thực thể toán học trừu tượng có số lượng vô tận và được nối với nhau bởi các đường cong elliptic), một công trình mà ông nghiên cứu trong nhiều năm.

Đã có nhiều người mua tên các nhóm symmetry. Trong số đó, nhà toán học Tony Mann, ĐH Greenwich đã đề nghị đặt tên nhóm symmetry {Set [C [1], C [2], C [3], C [4]] = [40, 13, 4, 4]} là David Bentley, theo tên cầu thủ đội tuyển Tottenham. Lý do mà Mann đưa ra là 2 con số cuối cùng trong công thức tương xứng với tỷ số 4-4 trong trận Tottenham gặp Arsenal mà Bentley đã tỏa sáng.

Khi Jermaine Defoe trở lại Tottenham, Mann tiếp tục mua tên một nhóm symmetry nữa để đặt theo tên cầu thủ này. Lý do mà Mann đưa ra lần này là muốn đánh dấu dịp Defoe giúp Tottenham trở thành đội bóng suất sắc nhất thành London.

Tuy nhiên, theo bạn bè của Mann, nguyên nhân sâu xa trong việc ông mua quyền đặt tên symmetry là để trêu đùa giáo sư Du Sautoy, một cổ động viên Arsenal cuồng nhiệt (Tottenham và Arsenal là hai đối thủ truyền kiếp cùng một thành phố).

Lịch sử thế giới từng ghi nhận sự kết duyên giữa toán học và bóng đá. Nhà toán học Harald Bohr từng là chơi cho đội tuyển Quốc gia Đan Mạch ở vị trí hậu vệ.

Tại Thế vận hội London 1908, Đan Mạch đánh bại Pháp với tỉ số 17-1 trong trận bán kết, nhưng thua Anh 2-0 ở trận chung kết. Khi Harald Bohr trở về, ông đã được dân chúng chào đón như một người hùng.

Còn khi Harald bảo vệ luận án tiến sĩ của tại ĐH Copenhagen năm 1910, đã có nhiều người hâm mộ bóng đá hơn là các nhà toán học trong khán phòng. Họ đến để xem cầu thủ của mình được vinh danh trong lĩnh vực khoa học.

(Theo Ngọc Hà, Báo Đất Việt)

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2009

Widget các bài liên quan - áp dụng được cho các label tiếng Việt

Widget các bài liên quan của AnhVo

Widget các bài liên quan cho blogspot của AnhVo đã được cộng đồng blogger sử dụng đã lâu. Tuy nhiên, bản này chỉ áp dụng được cho các label tiếng Anh hoặc tiếng Việt không dấu. Bài viết này sẽ hướng dẫn bản "các bài liên quan" áp dụng được cho các label tiếng Việt.
* Lưu ý quan trọng: bạn phải chỉnh ngôn ngữ cho blog của mình thành tiếng Anh trước khi thực hiện các bước bên dưới.

Bước 1

Cài đặt thời gian ở dạng 6/20/2008 05:30:21 PM. Và hãy chắc chắn rằng blog của bạn đã được Burn Feed (tức link feed đã được kích hoạt).

Bước 2

Vào Design > Edit HTML > Expand Widget Templates tìm đến dòng
<p class='post-footer-line post-footer-line-3'/>
Chèn code bên dưới vào ngay trước thẻ </div>
<b:if cond='data:blog.pageType == "item"'>
<b:if cond='data:post.labels'>
<div id='bailienquan'>Loading related posts...</div>
<span id='label_list_display_none' style='display:none;visibility:hidden'><b:loopvalues='data:post.labels' var='label'>
<data:label.name/>
<b:if cond='data:label.isLast!= "true"'>,
</b:if>
</b:loop>
</span>
<span id='post_time_stamp' style='display:none;visibility:hidden'><data:post.timestamp/>
</span>
<br/>
</b:if>
</b:if>

Bước 3

Chèn đoạn code dưới đây vào ngay trên thẻ đóng </body>:
<b:if cond='data:blog.pageType == "item"'><script type='text/javascript'>
blogID = '1193242412365517650';
maxPosts = 12;
feed2js = "http://feed2js.org//feed2js.php";</script>
<script src='http://www33.websamba.com/anhvosite/blogger/js/related_posts_01_fix.js'type='text/javascript'/>
<div id='cacbailq1' style='display:none;visibility:hidden;height:0'><script type='text/javascript'>creattaga("min");</script></div>
<div id='cacbailq2' style='display:none;visibility:hidden;height:0'><script type='text/javascript'>creattaga("max");</script></div>
<div class='cacbailienquan' id='cacbailienquan' style="display:none;"><script src='http://www33.websamba.com/anhvosite/blogger/js/related_posts_02.js'type='text/javascript'/>
<script type='text/javascript'>displayCBLQ("cacbailq1","Các bài mới hơn cùng chủ đề:");displayCBLQ("cacbailq2","Các bài cũ hơn cùng chủ đề:");</script>
</div>
</b:if>
Bạn cần thay 1193242412365517650 thành blogID của bạn. Chúc thành công!

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2009

Toàn cảnh MATHVN dot COM

Photobucket


Photobucket


Đây là ảnh chụp toàn cảnh trang chủ MATHVN.COM. Nó gần giống với MATHVN.COM hiển thị trên FireFox và Google Chrome ở độ phân giải 1024x768 pixels. Tuy nhiên trên Internet Explorer 6, hình ảnh MATHVN thật là kinh dị:

Photobucket


Do vậy nên sử dụng những trình duyệt tốt hơn IE6 để lướt web. Có lẽ sắp tới MATHVN phải thay Templates thôi!
Bonus: MATHVN.COM thế hệ thứ hai:

Photobucket

Bài đăng phổ biến