Hỗ trợ giải toán - tin Chia sẻ tài liệu, đề thi miễn phí ôn thi THPT Quốc Gia - Ôn thi Đại học và Học sinh giỏi ... toan, toan online, giai toan tren mang, ioe toan, tin, đại ...
NASA khẳng định sứ mệnh Kepler của họ đã phát hiện ra một hành tinh với lớp nước trên bề mặt mà con người có thể sinh sống giống như Trái đất.
Kepler-22b là tên mà các nhà khoa học NASA đặt cho một hành tinh có quỹ đạo nhỏ nhất trong khoảng giữa của vùng có khả năng cư trú, cách chúng ta 600 năm ánh sáng. Hành tinh này có kích thước lớn gấp khoảng 2.4 lần Trái đất và quay quanh một ngôi sao như Mặt trời của chúng ta trong chu kì 290 ngày. Tuy nhiên, ngôi sao này có phần nhỏ và nhiệt độ thấp hơn so với Mặt trời.
Hiện tại các nhà khoa học vẫn chưa xác định được thành phần chủ đạo của Kepler-22b là đá, khí hay chất lỏng. Ông Douglas Hudgins, một nhà khoa học làm việc trong sứ mệnh Kepler tại trụ sở NASA, Washington cho biết: "Đây là một dấu mốc quan trọng trên con đường tìm kiếm người anh em song sinh với Trái đất. Kết quả này của sứ mệnh Kepler đã chứng minh tầm quan trọng của các nhiệm vụ khoa học ở NASA nhằm tìm ra câu trả lời cho dấu hỏi về vị trí của chúng ta trong vũ trụ này."
Hình ảnh mô tả Kepler-22b do các nhà khoa học NASA phác thảo
Bắt đầu khởi động vào ngày 6/3/2009, sứ mệnh Kepler có nhiệm vụ quan sát hơn 156.000 ngôi sao và phát hiện ra các hành tinh bằng cách theo dõi những thay đổi về độ sáng của các ngôi sao khi có hành tinh nào đó đi ngang qua. Giáo sư William Borucki, người chủ nhiệm sứ mệnh Kepler đã đặt cho Kepler-22b cái tên "Hành tinh Giáng sinh"; nguyên nhân là vì quyết định chính thức về phát hiện này sẽ được công bố vào ngày 22/12 như một món quà giáng sinh tuyệt vời của các nhà khoa học.
Hành tinh mới phát hiện nằm ở khoảng giữa của vùng có khả năng cư trú, nơi có nhiệt độ phù hợp cho sự tồn tại của chất lỏng trên bề mặt. Những hành tinh có khả năng tồn tại sự sống trước đây hầu hết đều được phát hiện tại rìa của vùng cư trú, nơi có nhiệt độ và điều kiện vô cùng khắc nghiệt.
Borucki cho biết, nếu như được cấu tạo bằng nền đá thì bề mặt của hành tinh này có nhiệt độ vào khoảng 21 độ C và mọi người hi vọng là nó có một bề mặt ổn định chứ không phải hành tinh khí hay chất lỏng. Ông cũng cho biết, những hành tinh có điều kiện tốt như vậy không hề tồn tại trong hệ Mặt trời của chúng ta.
Trong số 54 trường hợp các hành tinh được báo cáo có khả năng sinh sống vào tháng 2/2011 thì chỉ duy nhất Kepler-22b là được xác nhận. Nhóm nghiên cứu Kepler đã đưa ra 1094 trường hợp mới, đưa tổng số hành tinh có khả năng sinh sống lên con số 2326; trong số có có 207 hành tinh có kích cỡ tương đương Trái đất và 680 hành tinh có kích thước lớn hơn Trái đất nhiều lần.
Ngày 22-9, các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu nguyên tử châu Âu (CERN) đã gây chấn động làng vật lý thế giới khi công bố họ đã phát hiện hạt phân tử neutrino có khả năng di chuyển nhanh hơn vận tốc ánh sáng.
Phát hiện này, nếu đúng, sẽ làm đảo lộn toàn bộ vật lý học hiện đại.
Phải chăng nhà bác học thiên tài Albert Einstein đã sai lầm? - Ảnh: Wikipedia
Nguồn: Cern - Đồ họa: vĩ cường
Nhóm nghiên cứu đã bắn một dòng hạt neutrino từ một máy gia tốc trong lòng đất tại CERN, bên ngoài Geneva (Thụy Sĩ) tới Phòng thí nghiệm Gran Sasso ở Ý, cách đó 731km. Họ vô cùng kinh ngạc khi phát hiện tốc độ của các hạt neutrino lên tới 300.000,6 km/giây, nhanh hơn tốc độ ánh sáng khoảng 6km/giây.
“Các hạt neutrino đến đích nhanh hơn 60 giây nano (1/1 tỉ giây) so với quãng thời gian 2,3 mili giây (1/1.000 giây) của ánh sáng” - nhà vật lý học Antonio Ereditato thuộc CERN khẳng định. Ông cho biết sai số của kết quả này khoảng 10 giây nano.
“Kết quả này gây ngạc nhiên quá lớn - chuyên gia Ereditato nói - Chúng tôi chỉ muốn đo tốc độ hạt neutrino chứ chẳng mong tìm thấy điều gì đặc biệt”. Các nhà khoa học CERN đã dành ba năm nghiên cứu và thêm sáu tháng để “kiểm tra, thử nghiệm, kiểm tra lại mọi thứ” trước khi công bố thông tin.
“Khi nhận được một kết quả điên rồ như vậy, chúng tôi phải đảm bảo là đã không có sai sót hay không tính toán đến mọi yếu tố. Chúng tôi đã dành nhiều tháng kiểm tra đi kiểm tra lại và không phát hiện bất cứ sai sót nào cả”.
Thách thức thuyết tương đối
Một sự chêch lệch cực nhỏ nhưng lại có ý nghĩa vô cùng to lớn. Thuyết tương đối của nhà vật lý học vĩ đại Albert Einstein là một trong những trụ cột quan trọng nhất của vật lý học hiện đại. Theo thuyết tương đối, trong vũ trụ không gì có thể di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng. Một thế kỷ quan sát và thực hiện cho thấy lý thuyết này rất chính xác. Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhất của vật lý hiện đại nhằm giải thích sự tồn tại và vận hành của vũ trụ và vạn vật.
“Nếu thí nghiệm của CERN được chứng minh là đúng thì rõ ràng kết quả này là một cuộc cách mạng lớn lao và sẽ làm thay đổi toàn bộ nền tảng của vật lý học hiện đại - nhà vật lý học Pháp Pierre Binetruy nhận định - Sự chính xác của cả thuyết tương đối rộng và thuyết tương đối hẹp đều sẽ trở nên sai lầm”. Nhà vật lý học lý thuyết Alvaro de Rujula thuộc CERN cũng khẳng định: “Nếu thí nghiệm này chính xác thì rõ ràng chúng ta chẳng hiểu gì về vật lý và vũ trụ”.
Theo nhà vật lý học hạt cơ bản Stephen Parke thuộc Phòng thí nghiệm máy gia tốc quốc gia Femi của Mỹ (Femilab), nếu quả thật có hạt cơ bản di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng thì về lý thuyết, con người hoàn toàn có thể đi ngược thời gian. “Khi đó bạn có thể trở thành chính bà ngoại của mình. Đó quả là một vấn đề lớn” - Parke nói một cách hài hước.
Parke và nhà thiên văn học John Learned thuộc Đại học Hawaii cho rằng nếu kết quả nghiên cứu của CERN là sự thật, thì cũng có thể có một cách giải thích khác là hạt neutrino có thể đi “đường tắt” trong không gian thông qua những chiều không gian khác.
“Thuyết tương đối chỉ đúng trong không - thời gian bốn chiều (ba chiều không gian và một chiều thời gian), do đó nếu có một chiều thứ năm thì hạt cơ bản có thể đi qua và đi nhanh hơn tốc độ ánh sáng” - Learned đặt giả thuyết.
Cần sự kiểm chứng
Tuy nhiên, không ít chuyên gia vật lý học quốc tế đã tỏ ra nghi ngờ kết quả thí nghiệm của CERN. “Kết quả này nằm ngoài sự tưởng tượng, do đó tôi thấy cần thận trọng. Có thể đã có sai sót về phép đo” - giáo sư Weber tuyên bố. Giáo sư vật lý Dave Goldberg thuộc Đại học Drexel (Mỹ) cũng cho rằng cộng đồng khoa học thế giới sẽ không quá vội vã chấp nhận kết quả thí nghiệm này.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, tiến sĩ Phan Bảo Ngọc - trưởng bộ môn vật lý, Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TP.HCM) - cũng cho rằng độ chênh lệch giữa vận tốc hạt neutrino đo được trong cuộc thí nghiệm và vận tốc ánh sáng nằm trong khoảng 6 sigma (1 sigma là sai số của phép đo), do đó chưa thể chắc chắn về độ chính xác của kết quả thí nghiệm.
“Các chuyên gia CERN đã làm tất cả những gì có thể, nhưng trước khi ném Einstein vào lửa, chúng ta cần có một cuộc thí nghiệm độc lập khác để kiểm chứng kết quả này” - nhà vật lý học lý thuyết John Ellis thuộc CERN khẳng định.
Ngay cả các chuyên gia CERN thực hiện cuộc thí nghiệm cũng cho biết họ quyết định công bố kết quả là vì muốn các nhà khoa học quốc tế cùng kiểm chứng kết quả. “Hi vọng một cuộc thí nghiệm khác sẽ đưa lại kết quả tương tự - chuyên gia Ereditato khẳng định - Khi đó, tôi sẽ cảm thấy nhẹ nhõm”.
Theo nhà vật lý học hạt neutrino Chang Ke Jung - người phát ngôn của chương trình thí nghiệm vật lý hạt cơ bản đa quốc gia T2K, thí nghiệm của CERN sẽ sớm được tái lập tại phòng nghiên cứu của T2K. Các nhà khoa học Femilab cũng sẽ thực hiện các thí nghiệm tương tự trong vòng sáu tháng tới.
SƠN HÀ (Theo Live Science, Christian Science Monitor, AFP)
Một nguồn tài nguyên thiên nhiên vừa qua được sử dụng như thứ vũ khí trong cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc với Nhật Bản, đó là loại nguyên liệu có tên ‘đất hiếm’.
AFP PHOTO
Đất hiếm ở cảng Liên Vân, phía đông tỉnh Giang Tô của Trung Quốc, chở xuất khẩu sang Nhật Bản, ảnh chụp ngày 05 tháng 9 năm 2010.
Đây là một khoáng sản quí vì được sử dụng trong công nghệ cao sản xuất ra những thiết bị hiện đại, từ những chiếc máy iPods cho đến TV màn hình phẳng, cũng như những xe điện…
Tuy nhiên việc khai thác khoáng sản ‘đất hiếm’ đang gây ra những tác hại đến môi trường đáng kể tại Hoa Lục; trong khi có những nơi có nguồn tài nguyên đó nhưng vì để tránh những hệ quả gây ra những thiệt hại lớn hơn nguồn lợi thu về, nên ngưng khai thác.
Trong chuyên mục Khoa học - Môi trường kỳ này, mời quí vị theo dõi những thông tin liên quan loại ‘đất hiếm’ quí giá đó.
Khai thác ảnh hưởng môi trường
Từ ‘đất hiếm’ được dịch theo tiếng Anh ‘rare earth’. Thông thường trong ngôn ngữ tiếng Việt ‘hiếm’ thường đi đôi với từ ‘quí’.
Tự điển mở trên mạng (Wikipedia) trích dẫn định nghĩa của Liên đoàn Quốc tế Hóa học Ứng Dụng ( IUPAC) về các nguyên tố và kim loại đất hiếm như sau: đó là tập hợp 17 nguyên tố hóa học theo bảng tuần hoàn của Mendeleev, có tên gọi scandi, yttri, và 14 trong 15 của nhóm Lantran (loại trừ promethi), có hàm lượng rất nhỏ trên trái đất.
Chúng ta nhượng công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ cho phía Trung Quốc, rồi chuyển sang đó tận dụng chi phí sản xuất thấp. Nhưng theo ý tôi, đó là một sai lầm nghiêm trọng.
Ô. Jack Ligton
Cơ quan Thương hiệu & Bằng sáng chế của Hoa Kỳ, USPTO, thì xếp ‘đất hiếm’ vào dạng hợp kim và các hợp chất khác.
Các nguyên tố đất hiếm có thể tìm thấy trong những lớp trầm tích, các mỏ quặng và đất đen.
Wikipedia cho rằng Việt Nam cũng là nơi được đánh giá có trữ lượng đất hiếm chừng 10 triệu tấn. Điạ bàn phân bố rải rác tại các quặng mỏ vùng Tây Bắc, và trong cát đen dọc theo ven biển miền Trung Việt Nam.
Một câu chuyện cụ thể về tình trạng khai thác đất hiếm gây họa thế nào được hãng thông tấn AFP kể lạ hồi đầu tháng năm vừa qua. Theo đó khu đất trồng bắp, khoai tây và lúa mì của người nông dân Vương Thao trước đây nay chỉ còn lại là một bãi đất hoang khô cằn đầy rác thải, nằm không xa bãi chứa chất thải của môt đơn vị khai thác đất hiếm.
Nhà của người nông dân Vương Thao ở vùng gần thành phố Bao Đầu, thuộc Khu vực Tự trị Nội Mông. Khu vực này là nơi được cho biết có trữ lượng đất hiếm lớn nhất thế giới.
Không chỉ đất, mà bản thân người dân sống cách khu khai thác đất hiếm rộng khoảng 10 kilômét vuông, cho biết họ bị rụng răng và tóc bạc sớm. Kết quả các cuộc thử nghiệm cho thấy đất và nước vùng họ sinh sống bị nhiễm nặng các chất phóng xạ gây ung thư.
Đất hiếm được sử dụng trong sản xuất các sản phẩm công nghệ cao. AFP PHOTO.
Ông nông dân họ Vương, năm nay đã 60 tuổi, nói với phóng viên AFP rằng dân làng chính là nạn nhân bởi họ phải dùng loại thực phẩm và nguồn nước bị nhiễm độc. Các nhóm hoạt động vì môi trường lâu nay lên tiếng chỉ trích hoạt động khai thác, xử lý đất hiếm. Lý do hoạt động công nghiệp đó thải ra môi trường tự nhiên những hóa chất độc hại, và chất phóng xạ thorium và uranium. Thorium là một sản phẩm phụ trong quá trình xử lý đất hiếm. Những loại hóa chất độc hại và chất phóng xạ đó có thể gây ung thư cho con người và quái thai nơi sản phụ.
Một nghiên cứu được tiến hành hồi năm 2006 cho thấy tỷ lệ thorium trong đất ở khu làng của ông Vương Thao, cao gấp 36 lần đối với những nơi khác tại thành phố Bao Đầu.
Tờ National Business Daily xuất bản bằng tiến Anh của Trung Quốc số ra hồi tháng 12 năm ngoái trích dẫn thừa nhận của các giới chức điạ phương về tình trạng người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng do các chất thải từ quá trình khai thác đất hiếm gây nên. Từ năm 1993 đến năm 2005, sáu mươi sáu người tại làng ông Vương Thao chết vì ung thư, và năng suất nông nghiệp của làng giảm sút đáng kể.
Tổ chức Hoà Bình Xanh tại Hoa Lục cho biết mọi khâu trong quá trình khai thác và xử lý đất hiếm đều gây hại dữ dội cho môi trường.
Một cựu quan chức Viện Nghiên cứu và Công nghiệp của Trung quốc thừa nhận là nguồn lợi thu được từ bán đất hiếm không thể nào có thể đủ để giúp cải tạo môi trường bị hủy hại do khai thác loại đất hiếm.
Nhu cầu 55.000 tấn/năm
Trung Quốc hiện đang thống lĩnh thế giới trong lĩnh vực khai thác và sản xuất khoáng sản gọi tên là ‘đất hiếm’. Đây là những loại vật liệu thiết yếu để sản xuất ra những sản phẩm công nghiệp cao như các loại điện thoại thế hệ mới thông minh, turbine gió, các loại pin mặt trời, nam châm chuyên dụng, cũng như các hệ thống cho vũ khí đời mới.
Thống kê cho thấy trữ lượng đất hiếm của Trung Quốc chỉ chừng 30% loại này trên thế giới, thế nhưng số đất hiếm Trung Quốc sản xuất ra chiếm hơn 95% sản lượng toàn thế giới. Hai phần ba của lượng đất hiếm đó của Trung Quốc được chế biến tại khu vực thành phố Bao Đầu. Nơi này nắm sát với sa mạc Gobi.
Năm ngoái Trung Quốc xuất khẩu 32.000 tấn đất hiếm. Nhu cầu của thế giới lên đến 55.000 tấn.
Khai thác đất hiếm bất hợp pháp được dân chúng tiến hành bằng cách sử dụng acid đổ vào đất núi. Một khi làm như thế rồi thì không có gì có thể sống trên vùng đất đó nữa cả.
Bà Cindy Hurst
Hồi năm ngoái sau đợt Trung Quốc ngưng sản xuất đất hiếm sang Nhật, và gần đây lại cho biết sẽ giới hạn nguồn cung ứng, một số nhà phân tích tình hình liên quan có ý kiến liệu Hoa Kỳ có nên tái tục hoạt động sản xuất thứ nguyên liệu hiếm quí đó.
Tại Viện Doanh nghiệp Hoa Kỳ hồi ngày 6 tháng tư năm nay, ông Jack Ligton, sáng lập viên của nhóm Nghiên cứu Kim loại Công nghệ, nhắc lại rằng Hoa Kỳ từng thống lĩnh ngành sản xuất đất hiếm với chừng 550 ngàn tấn trong thời kỳ từ năm 1950 đến năm 2008. Ông nói:
“Chúng ta đã ngưng sản xuất đất sạch hồi hăm 2002, ngưng hoàn toàn từ năm ấy, và sau đó Hoa Kỳ bắt đầu nhập đất sạch từ Trung Quốc.”
Cũng theo ông Lifton thì Trung Quốc hiện là nước sản xuất đất hiếm với chi phí thấp; trong khi đó nước này đã có quyền sở hữu trí tuệ và công nghệ sản xuất ra những thiết bị làm từ đất hiếm mà do Hoa Kỳ sáng chế ra.
Nguyên văn phát biểu của ông Lifton như sau: “Chúng ta nhượng công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ cho phía Trung Quốc, rồi chuyển sang đó tận dụng chi phí sản xuất thấp. Nhưng theo ý tôi, đó là một sai lầm nghiêm trọng.”
Cũng theo ông Lifton, dù nay Hoa Kỳ có muốn tái tục lại ngành công nghiệp đất hiếm, vẫn cần phải có một vài năm trước khi đi đến hoạt động sản xuất thực sự. Ônh này cho rằng có một dự báo không chính xác đó là thông tin nói Trung Quốc sẽ cho tăng giá đất hiếm xuất khẩu với lý do tình trạng thiếu hụt và các vấn đề môi trường.
Ông lý giải: “Tôi không tin chút nào vào lời của một kinh tế gia Trung Quốc nói với tôi về chi phí ở Hoa Lục. Lý do theo tôi là họ không biết và cũng vì chính sách của Trung Quốc không phải là chính sách cởi mở.”
Theo ông này thì trong bất cứ mọi trường hợp sản phẩm công nghệ cao với những thành phần đất hiếm trong đó do Trung Quốc làm ra rồi bán sang Hoa Kỳ, chi phí sản xuất của chúng vẫn sẽ thấp hơn nếu được chế tạo ở ngay trên đất Mỹ.
Ảnh chụp kho dự trữ quặng đất hiếm của tập đoàn Lynas Corporation tại mỏ Mount Weld phía Tây nước Úc. AFP PHOTO.
Chuyên gia nghiên cứu Quân sự Hoa Kỳ, Cindy Hurst, thì cho rằng hiện Trung Quốc dẫn đầu trong các nỗ lực nghiên cứu và phát triển liên quan đến lĩnh vực đất hiếm. Một thế hệ những khoa học gia Hoa Kỳ tập trung nghiên cứu đất hiếm đã già về hưu và có người đã qua đời rồi.
Trong khi đó, ngược lại, Trung Quốc đã thiết lập ra những phòng thí nghiệm và các chương trình quốc gia cấp cao chuyên nghiên cứu lĩnh vực đất hiếm.
Bà Hurst phát biểu: “Các chương trình nghiên cứu đất hiếm của Trung Quốc là chương trình do nhà nước điều hành được cấp nhiều triệu đô la. Mục tiêu rõ ràng nhằm thu ngắn cách biệt giữa Trung Quốc với thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu đất hiếm. Từ đó, nước này đã có được chỗ đứng vững chắc trên trường quốc tế.”
Bà này nhắc lại từ năm 1992, lãnh tụ Đặng Tiểu Bình của Trung Quốc từng nói Trung Đông có dầu mỏ, thì Trung Quốc có đất hiếm. Điều đó chứng tỏ từ lâu Bắc Kinh đã mưu tìm vị thế thống lĩnh thị trường thế giới về mặt hàng đất hiếm.
Dẫu thế, Trung Quốc cũng có quan ngại về những tác động môi trường do việc khai thác đất hiếm gây ra. Tình trạng xảy ra ở tỉnh Giang Tây là một điển hình cho tình trạng khai thác đất hiếm dẫn đến hủy hoại môi trường.
Bà Cindy Hurst nói: “Thực chất, những hoạt động khai thác đất hiếm bất hợp pháp được dân chúng tiến hành bằng cách sử dụng acid đổ vào đất núi. Một khi làm như thế rồi thì không có gì có thể sống trên vùng đất đó nữa cả.”
Trung Quốc từng cho biết muốn giảm các khu khai thác đất hiếm từ số 100 xuống còn 10 mà thôi; và số cơ sở chế biến cũng từ 70 xuống còn chừng 20. Theo bà Hurst, Nhật bản là nước bị tác động bởi việc Trung Quốc kiểm soát nguồn xuất khẩu đất hiếm nên đã rất cật lực tìm nguồn nguyên liệu thay thế cho đất hiếm.
Cho đến khi nào những loại thay thế đó được tìm ra thì Trung Quốc vẫn duy trì lợi thế quyết định trong nhiều lĩnh vực, kể cả công nghệ quân sự.
Đất hiếm tại Việt nam
Malaysia hồi ngày 22 tháng tư vừa qua cho biết họ sẽ mời những chuyên gia độc lập đến để đánh giá tác động môi trường của một nhà máy xử lý đất hiếm dự kiến do Australia sẽ xây dựng tại nước này. Lý do là dân chúng Malaysia phản đối mạnh mẽ bởi theo họ dự án đó sẽ thải ra nhiều chất thải phóng xạ nguy hiểm.
Tôi không tin lời của một kinh tế gia Trung Quốc về chi phí ở Hoa Lục. Lý do theo tôi là họ không biết và cũng vì chính sách của Trung Quốc không phải là chính sách cởi mở.
Ô. Jack Ligton
Bộ truởng Thương Mại Mustapa Mohammad của Malaysia cho biết ủy ban đó sau một tháng điều tra phải trình báo cáo lên do chính phủ.
Cũng tại Malaysia hồi năm 1992, chính quyền Kulala Lumpur phải đóng cửa một nhà máy xử lý đất hiếm do Nhật Bản xây dựng.
Khác với số liệu mà Wikipedia về trữ lượng đất hiếm của Việt Nam như đã nêu trong bài chừng 10 triệu tấn, Tổng Cục Điạ chất Việt Nam được mạng khoahocphothong.com nói số đó từ 7- 8 tỷ tấn. Tờ Tuổi Trẻ số ra đầu tháng 11 năm ngoái nói rằng đất hiếm Việt Nam đứng hàng thứ ba thế giới. Và Việt Nam từng hợp tác với nước ngoài để khai thác đất hiếm từ năm 1960. Và tờ báo này lại nêu con số về trữ lượng là 22 triệu tấn.
Sau vụ Trung Quốc gây khó khăn cho Nhật bản về vấn đề đất hiếm vì hai phía tranh chấp chủ quyền tại khu vực quần đảo mà Hoa Lục gọi là Điếu Ngư, và Nhật gọi là Senkaku, bộ trưởng Thương Mại Nhật Bản Akihiro Ohata cho biết Việt Nam là mỏ đất hiếm tiềm năng. Tokyo và Hà Nội sẽ bàn bạc với nhau về vấn đề khai thác đất hiếm.
Bài học của Trung Quốc về thảm họa môi trường do khai thác đất hiếm gây ra đang còn ‘tươi nguyên. Nhiều nước cũng vì tác hại môi trường khôn lường nên phải rút ra khỏi ngành này, nay Việt Nam như thể lại muốn bước vào.
Câu chuyện khai thác bôxít ở Tây Nguyên sẽ là tai họa cho môi trường vẫn chưa được giải quyết, nay lại đến tin đất hiếm của Việt Nam sẽ được lấy lên để đem bán cho nước khác trong cơn sốt loại nguyên liệu đó hiện nay khiến cho giới môi trường thêm lo lắng.
Mục Khoa học - Môi trường kỳ này tạm dừng tại đây. Hẹn gặp lại quí vị và các bạn trong chương trình kỳ tới. Gia Minh chào tạm biệt.
Một phát minh mới của ông Nguyễn Văn Thường (Hội Vật lý Việt Nam) cho biết lý thuyết cơ học đang dạy cho học sinh phổ thông, sinh viên ĐH, CĐ có những điểm chưa chuẩn xác, là nguyên nhân đưa ra những tính toán sai lầm, làm sập đổ nhà cửa, cầu cống…
Ngày 31/3, tại Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam, báo Khoa học & đời sống đã tổ chức cuộc tọa đàm “Vật lý cơ học của Việt Nam có đi trước thế giới?”. Đây là cuộc tọa đàm nhằm làm rõ những phát hiện của ông Nguyễn Văn Thường (Hội Vật lý Việt Nam) xung quanh lý thuyết cơ học.
Sáng kiến vĩ đại của anh công nhân
Ông Nguyễn Văn Thường trước kia là một công nhân Nhà máy Dệt len Mùa Đông (Hà Nội). Năm 1965, ông được cử đi học ĐH Bách khoa với mục đích sau này trở về theo dõi phần kỹ thuật của nhà máy.
Sẵn niềm đam mê nghiên cứu khoa học và được đào tạo nghiên cứu chuyên sâu ở bậc đại học, ông Thường nhận thấy giữa hoạt động thực tế của máy móc tại đơn vị mình với lý thuyết cơ học được dạy ở trường trái ngược nhau nên quyết khám phá.
Say mê khám phá về khoa học Vật lý, sau 46 năm nghiên cứu, ông Nguyễn Văn Thường đã phát hiện ra các lực chỉ độc lập với nhau khi chúng vuông góc với nhau. Từ phát hiện này ông nâng lên thành Nguyên lý độc lập VN được in vào sách Cơ học 1 (Bộ GD-ĐT) dạy cho học sinh trung học phổ thông từ năm 2009.
Ông Thường giải thích: “Cách giải mới theo nguyên lý độc lập mà GS Tô Giang biên soạn sẽ làm hàng vạn bài toán phải được giảng giải lại với kết quả ngược nhau 180 độ. Chẳng hạn, với bài toán “biên maniven”, lực dọc biên F = P.cos (anpha), trong khi nếu giải theo sách phổ thông và ĐH hiện nay thì F = P/cos (anpha) nhưng công thức P.cos (anpha) lại được thực nghiệm chứng minh là đúng”.
Ông Nguyễn Văn Thường đang trình bày sáng kiến của mình trước các nhà khoa học.
Ông Nguyễn Văn Thường khẳng định: “Trong khi các giáo trình của ta đang dạy rằng, lực kéo nén tiến đến vô cùng và không có uốn thì thực tế, theo nghiên cứu của tôi, lực uốn vẫn xảy ra. Các vụ sập đổ nhà cửa, cầu cống, lật cần cẩu mà tôi quan sát đều do lực uốn gây ra. Rất nhiều công trình khi xảy ra tai nạn người ta không rõ nguyên nhân vì đã tính toán rất chuẩn theo lý thuyết nhưng dựa vào lý thuyết của tôi thì lý giải được ngay: đó là do lực uốn chúng ta đã bỏ qua, không tính đến. Ngược lại, những công trình còn đứng vững là do ta áp dụng hệ số an toàn cao (bằng 2,5 - có nghĩa đáng xây một cây cầu thì đã thành xây 2 cầu nên không sụp đổ nhưng lại tốn kém).
Nếu áp dụng lý thuyết của tôi thì cầu cống vừa an toàn, vừa tiết kiệm tới 20% nguyên vật liệu. Tôi rất mừng là mới đây sách THPT đã đưa những phát hiện này vào giảng dạy nhưng ở bậc đại học và cao học thì chưa. Tôi chỉ có mong muốn duy nhất là nghiên cứu này nếu đúng phải được công nhận, được áp dụng để giảm các tai nạn thương tâm - ông Thường cho hay.
Các nhà khoa học Việt Nam công nhận sáng kiến của “anh công nhân”
Tại buổi tọa đàm, GS. Vũ Quang - chuyên viên Viện Khoa học giáo dục, Bộ GD-ĐT kể: “Tôi gặp ông Nguyễn Văn Thường vào năm 1988 rất tình cờ. Năm đó ông Thường có phát hiện ra những sai sót trong sách giáo khoa và đã lên gặp lãnh đạo của Bộ Giáo dục (lúc này Bộ Đại học và Bộ Giáo dục chưa hợp nhất). Lãnh đạo Bộ có gửi công văn nhận định cho Viện KHGD, rồi viện lại chuyển cho bộ môn Vật lý, chúng tôi xem thực nghiệm của ông Thường thì đồng ý ngay. Đích thân tôi đã dẫn ông Thường đến nhà cụ Ngụy Như Kon Tum, nguyên hiệu trưởng trường ĐHTH, cụ nói: "Hay quá!” và đích thân cụ đạp xe đến chỗ GS.VS Nguyễn Văn Hiệu, Viện trưởng Viện KHVN để giới thiệu. Ngay lập tức ông Hiệu tổ chức luôn 2 cuộc hội thảo để đánh giá hiệu quả kinh tế của đề tài. Về ý kiến của riêng tôi, thí nghiệm của ông Thường có tính chất thuyết phục, phù hợp điều chúng tôi suy nghĩ trước đó. Đúng là liên kết cứng và động hoàn toàn khác nhau. Về các công thức tính của ông Thường nên để các nhà cơ học phát biểu thêm".
PGS.TS Phạm Bích San: “Nếu nghiên cứu của ông Thường được khẳng định sẽ mang lại lợi ích cực kỳ lớn”.
Theo ông Tô Giang- chuyên viên Viện Khoa học VN, Bộ GD-ĐT: “Sách giáo khoa vật lý của ta cách đây hơn 20 năm dựa trên sách giáo khoa của Liên Xô (cũ) là chủ yếu. Về phần cơ học lớp 10 có một vài điểm sai, ví như phép phân tích lực là phép làm ngược lại của tổng hợp lực hay quan niệm liên kết chặt không khác gì liên kết bằng bản lề trong các kết cấu gồm các thanh cứng. Ông Thường phát hiện ra những sai sót này đã đến tận nhà tôi làm thí nghiệm và tôi cũng công nhận đúng. Khi làm sách giáo khoa lớp 10 năm 1990 và tài liệu giáo khoa thí điểm ban khoa học kỹ thuật năm 1994 tôi đã tham khảo thêm được một số sách của Pháp, Mỹ nên tôi đã loại bỏ ví dụ về liên kết chặt. Theo tôi thì thế giới đã biết vấn đề này mặc dù họ không có phát hiện như ông Thường nhưng họ đã tránh các lỗi sai bằng phép chiếu lực lên hai trục dọc tọa độ. Nói gì thì nói, tôi phục ông Thường ở chỗ, ông đã làm thực nghiệm để tìm ra cái sai trong quan niệm cũ về liên kết và phân tích lực, điều đó rất đáng ghi nhận”.
PGS.TS Phạm Bích San - giám đốc văn phòng tư vấn phản biện các vấn đề xã hội- Hội Liên hiệp Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cho biết: “Đây là vấn đề khoa học được Liên hiệp các hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam rất quan tâm song chúng tôi chưa đủ chuyên môn thẩm định nên chưa khẳng định được. Chúng tôi mong muốn nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí uy tín trên thế giới. Muốn vậy tác giả nên viết thành công trình khoa học, đăng trên tạp chí uy tín thế giới, có hội đồng thẩm định độc lập. Nếu nghiên cứu của ông Thường được khẳng định tôi nghĩ rằng nó sẽ mang lại lợi ích cực kỳ lớn, đặc biệt là tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu trong xây dựng cũng như đảm bảo an toàn cho hàng loạt công trình”.