Hiển thị các bài đăng có nhãn Biển đông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Biển đông. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

Khẳng định chủ quyền Hoàng Sa

Trả lời chất vấn trước Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng:
Khẳng định chủ quyền Hoàng Sa

* Luật biểu tình đảm bảo quyền tự do, dân chủ của người dân

Trả lời câu hỏi liên quan đến biển Đông của đại biểu Quốc hội sáng 25-11, người đứng đầu Chính phủ đã nắm rất chắc vấn đề, trả lời rành rẽ và một lần nữa khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

       »» Xem toàn văn báo cáo giải trình của Thủ tướng


Việt Nam có đủ căn cứ pháp lý và lịch sử để khẳng định quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong phiên trả lời chất vấn Quốc hội sáng 25-11 - Ảnh: Nam Khánh

Video Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời chất vấn - Nguồn: VTV1

Biển Đông - chủ đề chưa được đề cập trong báo cáo giải trình của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước khi bước vào phiên chất vấn trực tiếp - đã được đại biểu Quốc hội Lê Bộ Lĩnh (phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường) đặt thành câu hỏi đầu tiên với người đứng đầu Chính phủ, sáng qua 25-11.

Không nhìn vào văn bản và trả lời thẳng nội dung câu hỏi, Thủ tướng cho rằng chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền đối với bốn nhóm vấn đề về biển Đông.

Xác định chủ quyền Hoàng Sa từ lâu

Trước hết, Thủ tướng khẳng định sẽ tiếp tục đàm phán với Trung Quốc để phân định ranh giới vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc bộ. Trong vịnh Bắc bộ, sau nhiều năm đàm phán, ta và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận phân định ranh giới vào năm 2000. Còn vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc bộ, theo Công ước luật biển, thềm lục địa của nước ta có chồng lấn với đảo Hải Nam của Trung Quốc.

Đại biểu Lê Bộ Lĩnh: Thủ tướng cho biết quan điểm và chủ trương của Chính phủ đối với việc người dân biểu thị lòng yêu nước, trước những hành động của các thế lực bên ngoài vi phạm chủ quyền biển đảo của chúng ta?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là luôn luôn trân trọng, biểu dương, khen thưởng xứng đáng đối với tất cả hoạt động, tất cả việc làm của mọi người dân thật sự vì mục tiêu yêu nước, thật sự vì mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia. Nhưng đồng thời không hoan nghênh, buộc phải xử lý nghiêm theo pháp luật đối với những hoạt động, những hành vi với động cơ lợi dụng danh nghĩa lòng yêu nước, lợi dụng danh nghĩa bảo vệ chủ quyền để thực hiện mục đích gây phương hại cho đất nước, cho xã hội.

Từ năm 2006, hai bên đã tiến hành đàm phán, đến năm 2009 hai bên quyết định tạm dừng vì lập trường còn khác xa nhau. Đầu năm 2010, hai bên thỏa thuận nên tiến hành đàm phán những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển. Sau nhiều vòng đàm phán, nguyên tắc đó đã được ký kết nhân dịp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc mới đây.

Chúng ta đang thúc đẩy cùng với Trung Quốc để xúc tiến đàm phán giải quyết phân định này. Trong khi chưa phân định, hai bên đã tự hình thành vùng quản lý của mình trên cơ sở đường trung tuyến, và cũng trên cơ sở này ta đối thoại với Trung Quốc để bảo đảm việc an ninh, an toàn trong khai thác nghề cá của đồng bào chúng ta.

Thứ hai, Thủ tướng khẳng định chúng ta có đủ căn cứ pháp lý và lịch sử để khẳng định quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thủ tướng cho rằng chúng ta đã làm chủ thật sự ít nhất từ thế kỷ 17, khi quần đảo này chưa thuộc bất kỳ quốc gia nào. Nhưng năm 1956, Trung Quốc đã đưa quân chiếm đóng các đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa.

Đến năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý lúc bấy giờ của chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm đó và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này. Lập trường nhất quán của Việt Nam là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết, đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình. Chủ trương này phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Công ước luật biển, DOC...

Thứ ba, theo Thủ tướng, chủ trương của ta đối với thực hiện chủ quyền trên quần đảo Trường Sa là nghiêm túc thực hiện Công ước luật biển, DOC và “thỏa thuận về nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển” giữa Việt Nam và Trung Quốc. Chúng ta yêu cầu các bên liên quan giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm, không làm ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở khu vực này. Chúng ta tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng kinh tế, xã hội và cơ sở vật chất kỹ thuật ở những nơi chúng ta đang đóng giữ, bao gồm cả đường sá, điện, trạm xá, trường học, nước ngọt... để cải thiện đời sống và tăng cường khả năng tự vệ của quân dân trên quần đảo Trường Sa.

Bên cạnh đó, Chính phủ đang yêu cầu đánh giá lại cơ chế, chính sách đối với đồng bào ta khai thác thủy hải sản, vận tải biển trong khu vực này. Cơ chế đã có và đang phát huy hiệu quả, nhưng cần phải sơ kết để bổ sung, khuyến khích hỗ trợ bà con làm ăn sinh sống, thực hiện chủ quyền trên vùng biển Trường Sa.

Liên quan đến cam kết quốc tế, chúng ta nghiêm túc thực hiện và yêu cầu các bên liên quan nghiêm túc thực hiện theo đúng Công ước luật biển, DOC, phải bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh trật tự, tự do hàng hải ở biển Đông. Đây là mong muốn, lợi ích của tất cả các bên liên quan, không chỉ của Việt Nam vì biển Đông là tuyến đường có dung lượng từ 50-60% tổng lượng hàng hóa vận tải từ Đông sang Tây. Lập trường này của chúng ta được cộng đồng quốc tế ủng hộ.

Thứ tư, giải quyết và khẳng định chủ quyền của chúng ta trên phạm vi 200 hải lý thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước luật biển. Chúng ta đã và tiếp tục khẳng định chủ quyền để quản lý và thực hiện chủ quyền ngày càng đầy đủ hơn, hiệu quả hơn đối với vùng biển này.

Vì sao cần có Luật biểu tình?

Trả lời chất vấn của đại biểu Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình) về những căn cứ mà Chính phủ đề nghị Quốc hội xem xét đưa Luật biểu tình vào chương trình xây dựng pháp luật, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng điều 69 của Hiến pháp quy định công dân được quyền biểu tình theo pháp luật. Nhưng chúng ta chưa có Luật biểu tình, như vậy nên bắt tay nghiên cứu xây dựng Luật biểu tình.

Theo Thủ tướng, trong cuộc sống hiện nay có nhiều cuộc đồng bào ta tụ tập đông người, biểu tình để bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị với chính quyền. Nhưng chúng ta chưa có luật để quản lý, điều chỉnh vấn đề này. Do đó, cũng khó cho người dân khi thực hiện quyền được Hiến pháp quy định và cũng khó cho việc quản lý của chính quyền. Đã khó như thế thì cũng nảy sinh lúng túng trong quản lý, từ đó xuất hiện những biểu hiện mất an ninh trật tự, xuất hiện những việc lợi dụng để kích động xuyên tạc gây phương hại cho xã hội.

Vì vậy, Chính phủ thấy rằng nên kiến nghị với Quốc hội xem xét, đưa vào chương trình xây dựng luật để chúng ta có Luật biểu tình phù hợp với Hiến pháp, phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa, điều kiện cụ thể của Việt Nam và cũng phù hợp với thông lệ quốc tế. Đạo luật đó cũng để đảm bảo quyền tự do, dân chủ của người dân theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, đồng thời đạo luật đó cũng có yêu cầu ngăn chặn những việc làm, hành vi gây xâm hại đến an ninh trật tự, lợi ích của xã hội và nhân dân.

Dừng ngay dự án khai thác trái phép

Đại biểu Lê Hồng Tịnh (Hậu Giang) và đại biểu Đặng Ngọc Quỳnh (Hưng Yên) cùng chất vấn Thủ tướng về tình trạng khai thác quặng trái phép, không phép. Làm thế nào xuất nhập khẩu khoáng sản có hiệu quả?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giải trình rằng: Chính phủ đã có một cuộc họp thảo luận chuyên về vấn đề này, từ đó Chính phủ kết luận chỉ đạo mấy giải pháp lớn.

Thứ nhất, yêu cầu chính quyền các địa phương, các cơ quan chức năng tập trung chỉ đạo, ngăn chặn bằng được việc khai thác khoáng sản trái phép. Không thể nói rằng việc khai thác khoáng sản trên địa bàn đó mà chính quyền không biết.

Thứ hai, Chính phủ chủ trương tạm dừng cấp phép khai thác khoáng sản, đồng thời rà soát các dự án đang khai thác.

Dự án nào gây ô nhiễm môi trường, khai thác trái với giấy phép, gây hư hỏng đường sá, mất an ninh trật tự thì phải dừng ngay. Việc rà soát này đi liền với bổ sung quy hoạch để quy hoạch theo hướng chế biến sâu, có hiệu quả cao nhất.

Thứ ba, Chính phủ chủ trương kiểm soát xuất khẩu khoáng sản, xuất khẩu quặng ngay tại các dự án chứ không phải để kiểm soát ở cửa khẩu. Nếu làm đúng giấy phép nhưng xuất khẩu không có lợi, để dành chế biến sâu hơn thì cũng có giải pháp thích hợp để dừng lại. Bộ Công thương đã cho dừng xuất khẩu quặng sắt ở mỏ Quý Sa (Lào Cai).

Ngoài ra, Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính tăng thêm ngân sách để tiếp tục khảo sát, điều tra, nghiên cứu về khoáng sản của nước ta. Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải báo cáo với tôi rằng chúng ta mới thăm dò hơn 50% đất liền về khoáng sản, trên biển mới có hơn 1%, phải thêm kinh phí để thăm dò, để chúng ta biết chúng ta có cái gì, bao nhiêu, chất lượng, trữ lượng thế nào để hoạch định chiến lược cho phù hợp.

Giảm dần tai nạn và ùn tắc giao thông

Trong phần báo cáo, giải trình thêm trước khi trả lời chất vấn trực tiếp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xác định tai nạn và ùn tắc giao thông là vấn đề nghiêm trọng, bức xúc. Thủ tướng đề nghị Quốc hội ra nghị quyết về vấn đề này nhằm thống nhất nhận thức và hành động trong cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đề cao trách nhiệm và kỷ luật kỷ cương, huy động mọi nguồn lực để thực hiện nghị quyết của Quốc hội, tạo chuyển biến mạnh mẽ, thiết thực trong việc bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, phấn đấu giảm dần tai nạn và ùn tắc giao thông.

Theo Thủ tướng, Chính phủ đã và đang chỉ đạo tập trung sức kiềm chế lạm phát, đưa lạm phát năm 2012 về một con số để giảm lãi suất cho vay, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn, giảm chi phí đầu vào; ưu tiên tín dụng phục vụ sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp, bảo đảm điện, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo thẩm quyền, Chính phủ sẽ xem xét kéo dài thời hạn thực hiện các chính sách hiện hành về hỗ trợ thuế và đề nghị Quốc hội xem xét việc miễn giảm thuế cho doanh nghiệp ở mức phù hợp.

Thủ tướng khẳng định trong thời gian tới sẽ tiếp tục quan tâm tăng đầu tư từ ngân sách và trái phiếu chính phủ cho nông nghiệp, nông thôn. Chính phủ sẽ trình Quốc hội kế hoạch đầu tư phát triển ba năm 2013-2015, nếu kế hoạch này được thông qua thì sau năm năm thực hiện nghị quyết trung ương 7 (2009-2013), tổng vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu chính phủ bố trí cho nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 500.000 tỉ đồng, gấp 2,76 lần so với năm năm 2004-2008, vượt mục tiêu nghị quyết trung ương 7 đề ra.

VÕ VĂN THÀNH

Đại biểu Quốc hội nhận xét

Đại biểu Lê Bộ Lĩnh (phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học - công nghệ và môi trường):

Thủ tướng trả lời ấn tượng

TT - Vấn đề an ninh, chủ quyền trên biển Đông là vấn đề cá nhân tôi rất quan tâm. Qua nhiều cuộc tiếp xúc cử tri, tôi thấy cử tri rất quan tâm vấn đề này.

Vì vậy, tôi đã chọn để chất vấn và được Thủ tướng cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch, nêu rõ quan điểm, khẳng định rõ lập trường của Chính phủ cũng như cá nhân Thủ tướng về các vấn đề đang tồn tại trên biển Đông. Tôi nghĩ nhiều cử tri sẽ yên tâm với việc Chính phủ đã và đang thực thi các biện pháp đủ mạnh để giữ vững chủ quyền quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội trên các vùng biển đảo thuộc chủ quyền của VN.

Đại biểu Lê Bộ Lĩnh trên diễn đàn Quốc hội - Ảnh: Việt Dũng

Qua hơn hai ngày chất vấn, tôi ấn tượng với phần trả lời của Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ. Ông Huệ nắm vững vấn đề, giải đáp rõ câu hỏi của đại biểu và nêu rõ quan điểm của mình. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Đinh La Thăng có lẽ do mới nhận nhiệm vụ hơn ba tháng nên chỉ đi vào những việc chi tiết, chưa nắm vấn đề một cách tổng thể.

Đại biểu Đặng Ngọc Tùng (chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động VN):

Tôi muốn Thủ tướng nói rõ hơn các giải pháp

Thông tin về biển Đông và chủ quyền của VN trên biển Đông, Thủ tướng đã trả lời rõ ràng, không né tránh. Tuy vậy, Thủ tướng chỉ trả lời ở tầm vĩ mô và hệ thống hóa lại thôi. Câu hỏi của tôi là giải pháp gì để ngư dân yên tâm bám biển, đẩy mạnh đánh bắt cá ở biển Đông mà nước lớn không dùng sức mạnh để thu lưới, giữ thuyền của ngư dân VN, nhất là ở hai ngư trường truyền thống Trường Sa, Hoàng Sa? Với câu hỏi này, tôi mong muốn Thủ tướng nói rõ hơn các giải pháp cụ thể chứ không chỉ dừng lại ở vấn đề vĩ mô.

Cử tri Nguyễn Ngọc Hòa (khu đô thị mới Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội):

Đại biểu nhầm vai?

Kết thúc dự án 5 triệu ha rừng

Chiều 25-11, với đa số phiếu tán thành, Quốc hội đã thông qua nghị quyết cho phép kết thúc dự án trồng mới 5 triệu ha rừng sau 13 năm thực hiện. Theo đó, Quốc hội giao Chính phủ xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 theo cơ chế chương trình mục tiêu quốc gia, hằng năm báo cáo Quốc hội về tình hình thực hiện.

Quốc hội cũng yêu cầu bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, tăng độ che phủ và nâng cao chất lượng rừng. Có giải pháp tổng thể giải quyết tình trạng cháy rừng, chặt phá rừng và khai thác sử dụng rừng trái pháp luật. Trước mắt tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ lương thực cho đồng bào miền núi để khắc phục nạn đốt phá rừng làm nương rẫy...

LÊ KIÊN - CẦM VĂN KÌNH ghi

Nguồn: tuoitre.vn

Xem thêm

»» Giải pháp đòi lại Hoàng Sa

»» Cần huy động lực lượng tìm giải pháp cho Hoàng Sa

»» Toàn dân góp sức đòi lại Hoàng Sa

Toàn dân góp sức đòi lại Hoàng Sa

Đòi lại Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình là một việc lớn và lâu dài. Có rất nhiều việc phải làm và điều chắc chắn là phải huy động lực lượng và cần có thời gian. Đây chắc chắn phải là sự nghiệp toàn dân.



Các bạn trẻ Lý Sơn (Quảng Ngãi) tìm hiểu các hiện vật về Hoàng Sa tại Bảo tàng Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải ở Lý Sơn - Ảnh: M.Thu

Bước đầu tiên trong việc đòi lại Hoàng Sa là để cho toàn dân thấy được sự thật và tạo điều kiện cho người dân tham gia sự nghiệp này.

Muốn vậy, trước hết cần công khai hiện trạng Hoàng Sa đang bị Trung Quốc cưỡng chiếm cho toàn dân biết. Và ngày 25-11-2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã làm việc này tại Quốc hội.

Báo chí - truyền thông không chỉ tường thuật một lần mà phải nhắc đi nhắc lại thường xuyên liên tục, để vấn đề đòi lại Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình đến được với mọi người dân, tạo cơ sở cho toàn dân góp sức.

Trên thực tế, ngay từ khi Hoàng Sa vẫn còn bị cho là “vấn đề nhạy cảm”, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng cần thực hiện chiến lược 3C: Công khai - Công luận - Công pháp đối với tranh chấp biển Đông.

Có thể diễn giải chiến lược 3C này sơ lược như sau: trước hết, cần công khai hiện trạng tranh chấp biển Đông nói chung và Hoàng Sa bị cưỡng chiếm nói riêng, đồng thời công khai lập trường của các bên, công khai các sự kiện nghiêm trọng xảy ra cho toàn dân biết.

Từ đó, sử dụng công luận, mà cụ thể là báo chí - truyền thông, nói cho toàn dân và nhân dân thế giới biết sự thật về tranh chấp biển Đông, trong đó có việc Hoàng Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ năm 1974 để đấu tranh đòi lại Hoàng Sa và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại biển Đông.

Trong cuộc đấu tranh này, vũ khí hòa bình nhưng sắc bén là công pháp, tức luật pháp quốc tế, các án lệ, Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông...

Như vậy có thể thấy việc sử dụng Công khai - Công luận - Công pháp như một số nhà nghiên cứu gợi ý để đấu tranh đòi lại Hoàng Sa và bảo vệ chủ quyền hợp pháp của Việt Nam ở biển Đông là một sáng tạo đáng ghi nhận, một bước cụ thể hóa của quan điểm coi việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là sự nghiệp toàn dân.

Sẽ còn nhiều sáng kiến nữa được đưa ra khi thực trạng về tình hình tranh chấp biển Đông được công khai hóa và thảo luận rộng rãi dưới tinh thần nhìn thẳng vào sự thật. Với những kinh nghiệm quý báu của dân ta trong sự nghiệp giữ nước, chắc chắn việc đòi lại Hoàng Sa nói riêng và bảo vệ chủ quyền biển đảo nói chung bằng biện pháp hòa bình sẽ mang lại những kết quả mới nếu toàn dân được tham gia.

Đòi lại Hoàng Sa và bảo vệ chủ quyền biển đảo là sự nghiệp toàn dân.

Không thể khác.

GIÁP VĂN DƯƠNG

Chi ngân sách thường xuyên cho huyện đảo Hoàng Sa

Ngày 28-11, trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Bá Thanh - bí thư Thành ủy Đà Nẵng - cho biết TP Đà Nẵng năm nào cũng chi ngân sách để các cán bộ chuyên trách huyện đảo này làm nhiệm vụ sưu tầm, trưng bày, giới thiệu hình ảnh, tư liệu về Hoàng Sa. Các tư liệu này được giới thiệu tại phòng trưng bày Bảo tàng Hoàng Sa (đặt tại trụ sở huyện Hoàng Sa, số 32 Yên Bái, TP Đà Nẵng).

Hoàng Sa là đơn vị hành chính cấp quận huyện thứ tám của TP Đà Nẵng và có tổ chức bầu cử. Trước đó tháng 3-2011, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua nghị quyết về việc công nhận huyện đảo Hoàng Sa là một đơn vị bầu cử của TP Đà Nẵng. Huyện đảo Hoàng Sa cùng với huyện Hòa Vang và hai quận Hải Châu, Sơn Trà thuộc đơn vị bầu cử số 1 TP Đà Nẵng.

Trước đó Nhà xuất bản Thông Tin & Truyền Thông (Bộ Thông tin - truyền thông) đã họp với Hội đồng thẩm định trung ương do giáo sư Phan Huy Lê - chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam - chủ trì để rà soát chuẩn bị lần cuối trước khi cuốn sách Kỷ yếu Hoàng Sa được xuất bản vào cuối năm nay.

Theo ông Đặng Công Ngữ - chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa, cuốn sách Kỷ yếu Hoàng Sa dày hơn 200 trang, gồm các phần: Hoàng Sa là của Việt Nam, Công tác quản lý nhà nước đối với huyện Hoàng Sa, Hoàng Sa và những nhân chứng lịch sử, Cảm nghĩ của người Đà Nẵng về Hoàng Sa. Ngoài ra Kỷ yếu Hoàng Sa còn giới thiệu cho người đọc về vị trí địa lý, tầm quan trọng cùng những nội dung cơ bản của quá trình xác lập, khai thác, quản lý và bảo vệ chủ quyền của Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ trong lịch sử.

Điểm nổi trội của cuốn sách này là sự hiện diện của 24 nhân chứng sống từng có một thời làm việc tại Hoàng Sa trước năm 1974. Việc xuất bản cuốn sách Kỷ yếu Hoàng Sa nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, tìm hiểu của nhân dân về bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc. Đồng thời cuốn sách còn nhằm bảo đảm tính khoa học, chuẩn xác và tính pháp lý để tạo lập niềm tin cho người đọc cũng như đấu tranh chống các luận điểm xuyên tạc không đúng sự thật về Hoàng Sa của Việt Nam.

Đ.NAM - H.KHÁ

Nguồn: tuoitre.vn

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2011

Tạp chí Bộ Ngoại giao Trung Quốc đánh giá về chiến lược và sức mạnh quân sự của Việt Nam

Theo Tạp chí “Tri thức thế giới” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc số 15, trong những năm gần đây thực lực quân sự của Việt Nam đã được nâng lên một cách vững chắc, quân số đông và tác phong ngoan cường, xét về sức chiến đấu và sức mạnh tổng hợp đều đứng đầu các nước Đông Nam Á

Thời gian gần đây, Việt Nam có rất nhiều động thái ở Biển Đông: Vào cuối tháng 5 Việt Nam chỉ trích tàu cá Trung Quốc cắt cáp của tàu thăm dò dầu khí của họ ở Biển Đông, dân chúng Việt Nam liên tục trong nhiều tuần biểu tình chống Trung Quốc. Ngày 9/6, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố phải bảo vệ vùng biển và các đảo của Việt Nam bằng sức mạnh của toàn đảng, toàn quân và toàn dân. Ngày 13/6, Hải quân Việt Nam hai lần tổ chức diễn tập bắn đạn thật ở vùng Biển Đông, sau đó lại công bố lệnh huy động nhập ngũ. Ngày 15/7, Việt Nam và Mỹ bắt đầu tổ chức diễn tập liên hợp trong một tuần ở vùng biển gần Đà Nẵng. Để củng cố lợi ích đã có của mình ở Biển Đông, Việt Nam một mặt dựa vào sức mạnh của ASEAN và cơ hội thuận lợi Mỹ “trở lại Đông Nam Á” để đẩy mạnh ASEAN hóa và quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, mặt khác cũng thiết thực tăng cường bố trí quân sự và hiện đại hóa quân đội ở Biển Đông.

I - Thực lực quân sự đứng đầu Đông Nam Á

Những năm gần đây, thực lực quân sự của Việt Nam được nâng lên một cách vững chắc, quân số đông và tác phong ngoan cường, xét về sức chiến đấu và sức mạnh tổng hợp đều đứng đầu các nước Đông Nam Á.

Lực lượng vũ trang của Việt Nam chủ yếu bao gồm quân đội nhân dân và dân quân tự vệ, còn có cả cảnh sát biển và công an nhân dân. Quân đội nhân dân Việt Nam thành lập năm 1944, lúc đầu chỉ có 34 người, gọi là “Đội tuyên truyền giải phóng quân” Việt Nam, trải qua các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và giải phóng miền Nam, đến nay quy mô và sức mạnh chiến đấu không ngừng lớn mạnh. Theo “Sách Trắng Quốc phòng” công bố năm 2009 của Việt Nam, hiện nay lực lượng thường trực của quân đội Việt Nam (bao gồm cả bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương) có tổng cộng 450 nghìn người, lực lượng dự bị khoảng 5 triệu người. Bộ đội chủ lực là thành phần cốt cán của quân đội nhân dân Việt Nam , bao gồm lục quân, hải quân, phòng không không quân, bộ đội biên phòng.

Lục quân Việt Nam hiện chia thành 8 Quân khu, một số Quân đoàn, Sư đoàn bộ binh, Lữ đoàn tăng thiết giáp, Lữ đoàn tác chiến đặc chủng, Lữ đoàn pháo binh dã chiến, Sư đoàn công binh, Sư đoàn xây dựng kinh tế. Trang bị vũ khí chủ yếu gồm có 850 xe tăng chiến đấu chủ lực T-54/55, 300 xe tăng hạng nhẹ PT-76, 100 xe trinh sát thiết giáp BRDM-1/2, 300 xe chiến đấu bộ binh BMP-1/2, 1.100 xe thiết giáp chở quân BTR-40/50/60/152, khoảng 2.300 cỗ pháo kéo xe và một số dàn phóng tên lửa, pháo cao xạ, pháo tự hành, tên lửa chống tăng và tên lửa đất đối không.

Hải quân Việt Nam thành lập năm 1955, hiện biên chế thành 4 vùng hải quân ven biển, trang bị chủ yếu gồm hai tàu ngầm mini mua của Bắc Triều Tiên năm 1977, 6 tàu hộ vệ, 2 tàu hộ vệ hạng nhẹ “Cheetah”, 37 tàu tuần tra và một số tàu rà quét thủy lôi, tàu đổ bộ và tàu tiếp tế hậu cần.

Phòng không không quân Việt Nam thành lập năm 1963, được sáp nhập từ Bộ Tư lệnh phòng không và Cục không quân, hiện được biên chế thành một số Sư đoàn phòng không và Sư đoàn không quân, bên dưới có Trung đoàn máy bay tấn công, Trung đoàn máy bay tiêm kích, Trung đoàn máy bay vận tải, Trung đoàn pháo cao xạ, Trung đoàn rađa. Trang bị chủ yếu gồm có 140 máy bay MiG-21, 7 máy bay SU-27SK, 4 máy bay SU-30MKK, 53 máy bay SU-22, 4 máy bay chống tàu ngầm Be –12, 26 trực thăng chống tăng MiG-24, 10 trực thăng chống tàu ngầm Ka-28 và một số máy bay huấn luyện, tên lửa không đối không, không đối đất, đất đối không.

Bộ đội biên phòng Việt Nam thành lập năm 1959, có chức năng cơ bản là thực hiện quản lý biên giới quốc gia, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ biên giới trên bộ, hải đảo, vùng biển và trật tự an ninh ở khu vực cửa khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Ngoài quân đội nhân dân, dân quân tự vệ Việt Nam cũng là bộ phận cấu thành chủ yếu của lực lượng vũ trang Việt Nam. Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng vẫn ở vị trí sản xuất và công tác, thời bình là lực lượng lao động sản xuất chính, thời chiến là lực lượng chiến lược của chiến tranh nhân dân. Dân quân tự vệ chủ yếu thuộc các loại hình bộ binh, phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát, giao thông, phòng chống hóa học, điều trị y tế và dân quân tự vệ trên biển, trong đó dân quân tự vệ trên biển mới được thành lập từ năm 2009 nhằm đối phó với những đe dọa an ninh trên biển.

Việt Nam còn có lực lượng cảnh sát biển, thành lập năm 1998. Vì thế, Việt Nam hiện nay có ba bộ phận lực lượng vũ trang trên biển là hải quân, cảnh sát biển và dân quân tự vệ biển, cho thấy Việt Nam hết sức coi trọng an ninh trên biển.

II - Chú trọng Biển Đông, đẩy nhanh hiện đại hóa hải quân không quân

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã bắt đầu tiến trình hiện đại hóa quân đội. Sau sự kiện khủng bố ngày 11/9, nhất là từ khi Mỹ phát động cuộc chiến tranh cục bộ kỹ thuật cao đối với Irắc, Việt Nam đã ý thức được rằng hình thái chiến tranh trong tương lai sẽ có thay đổi to lớn, vũ khí trang bị truyền thống và dạng thức tác chiến truyền thống đã không thể thích hợp với yêu cầu chiến tranh trong tương lai.

Mục tiêu tổng thể trong xây dựng quân đội của Việt Nam là “Cách mạng hóa, chính quy hóa, tinh nhuệ hóa và từng bước hiện đại hóa”. Vì thế Việt Nam đã mở rộng chi phí quốc phòng, từ chỗ chú trọng xây dựng quy mô chuyển sang xây dựng chất lượng quân đội, chú trọng nguyên tắc phát triển phối hợp giữa các quân binh chủng và ưu tiên phát triển hải quân - không quân, đồng thời tiếp tục tăng cường xây dựng lực lượng dự bị như dân quân tự vệ.

Bước vào thế kỷ mới, Việt Nam đặc biệt chú trọng ảnh hưởng của tranh chấp chủ quyền và lợi ích biển ở Biển Đông đối với an ninh quốc gia. Sau Đại hội lần thứ 9 Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam bắt đầu thực hiện phương châm chiến lược “thu hẹp lục quân mở rộng hải quân”, coi việc bảo vệ lãnh thổ trên biển và tài nguyên biển là trọng tâm của chiến lược quân sự mới, tăng cường một cách có trọng điểm khu vực ven biển miền Trung Nam Bộ và bố trí binh lực ở các đảo mà Việt Nam đã chiếm, làm nổi bật nhiệm vụ xây dựng hải quân và không quân. Năm 2001, Việt Nam đã cho ra đời “Kế hoạch hiện đại hóa lực lượng vũ trang thế kỷ mới”, đề xuất thay đổi toàn diện vũ khí trang thiết bị của ba quân chủng lục quân, hải quân và không quân, trọng tâm là ưu tiên đảm bảo hiện đại hóa phòng không không quân và hải quân, đồng thời lắp đặt các loại trang thiết bị cảnh báo, trinh sát, chỉ huy, cơ động và đảm bảo cung cấp hậu cần. “Sách Trắng Quốc phòng” năm 2009 của Việt Nam cũng nhiều lần nhấn mạnh phải xây dựng quân đội hiện đại hóa có trang bị vũ khí tiên tiến, trong khi tự nghiên cứu chế tạo, liên hợp sản xuất trang thiết bị, đồng thời mua sắm khối lượng lớn vũ khí trang thiết bị tiên tiến của nước ngoài, nâng cao tính năng vũ khí trang thiết bị của bản thân, trong đó mua sắm vũ khí trang thiết bị cho hải quân và phòng không không quân đã chiếm tỉ lệ rất lớn.

Cuối năm 2003, Việt Nam đã đặt mua của Nga 4 máy bay chiến đấu SU-30MK đa tính năng. Đồng thời không quân Việt Nam đã hợp tác với Ixraen và Nga cải tiến hệ thống rađa của máy bay MiG-21, lắp đặt trên máy bay thiết bị trinh sát chụp ảnh ban đêm. Năm 2005, Việt Nam lại đặt mua hệ thống tên lửa phòng không S-300PMU1 trang bị cho một số đại đội pháo binh. Không quân Việt Nam còn mua máy phản lực huấn luyện L-39C/máy bay tấn công hạng nhẹ của Séc, nhập khẩu một bộ phận máy bay luấn luyện KT-1, T-50 của Hàn Quốc và Ba Lan. Tháng 3/2005, Việt Nam và Ba Lan đã ký Hiệp định mua vũ khí trị giá 150 triệu USD, mua 12 chiếc máy bay tuần tra trên biển M-28, 4 máy bay trực thăng cứu hộ trên biển W-3RM và 8 hệ thống trinh sát trên biển MSC-400 của Ba Lan. Năm 2009, Việt Nam lại ký hiệp định với Nga, mua của Nga 12 máy bay chiến đấu đa chức năng SU-30MK2.

Để thích ứng với yêu cầu đặt ra trong tương lai, Hải quân Việt Nam đã có kế hoạch phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, hy vọng đến trước năm 2015 sẽ hoàn thành đổi mới trang thiết bị, để hải quân Việt Nam trở thành một lực lượng hải quân trên biển hiện đại có đầy đủ các binh chủng, có khả năng tác chiến cơ động và khả năng tấn công hỏa lực tầm xa tương đối mạnh, đến trước năm 2050 sẽ hình thành một lực lượng tác chiến đa chiều độc lập ở biển xa. Từ năm 1995 đến nay, Hải quân Việt Nam đã lần lượt đặt mua hơn 10 chiếc tàu chiến mang tên lửa có tên “Poisonous spider” của Nga, 12 chiếc tàu tuần tra của Thụy Điển, 2 tàu ngầm mini của Bắc Triều Tiên. Sau năm 2000, Việt Nam bắt đầu mua tàu mặt nước cỡ lớn của nước ngoài. Năm 2003, Việt Nam đã ký hiệp định trị giá 120 triệu USD với Nga, có kế hoạch mua của Nga 12 chiếc tàu chiến tốc độ cao mang tên lửa có tên “Lightning”. Việt Nam còn mua các loại tàu tấn công/tuần tra tốc độ cao của Hàn Quốc có các tên “Dolphin”/ “Wildcat”; mua của Ba Lan 4 tàu hộ vệ hạng nhẹ “Miners”, 1 tàu huấn luyện “Nick Ward”, 8 tàu tuần tra bờ biển “Pilica”, và một tàu tuần tra cỡ lớn “Aubrey Lutz” đã cải tiến. Năm 2007, Việt Nam lại mua của Nga 2 tàu hộ vệ “Cheetah” và một hệ thống tên lửa chống hạm trên bờ mới nhất để lắp ráp tên lửa hành trình chống hạm có tốc độ siêu âm "Ruby". Để khắc phục những bất cập về năng lực tác chiến dưới nước, năm 2009, Việt Nam đã ký một hợp đồng lớn với Nga, mua 6 chiếc tàu tàu ngầm lớp “KILO” chạy bằng động cơ diezen trị giá 1,8 tỉ USD, đồng thời chuẩn bị thành lập lực lượng tàu ngầm.

III - Tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ-Ấn Độ là có ý đồ ở Biển Đông

Trong tiến trình thúc đẩy hiện đại hóa quân đội, Việt Nam có một biện pháp quan trọng là tích cực tăng cường quan hệ quân sự với các nước, trong đó hợp tác quân sự giữa Việt Nam với Mỹ và Ấn Độ là đặc biệt đáng quan tâm, vì đây cũng là một bộ phận của chiến lược quốc tế hóa vấn đề Biển Đông của Việt Nam, được thể hiện ở ý đồ “liên Mỹ”, “liên Ấn” để kiềm chế Trung Quốc.

Tháng 3/2000, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc đó là Cohen đi thăm Việt Nam, trở thành Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đầu tiên đến thăm Việt Nam sau 25 năm kết thúc Chiến tranh Việt Nam, đánh dấu việc khởi động quan hệ quân sự Việt-Mỹ. Trong nhiệm kỳ của Tổng thống Bush (con), Mỹ đã mở rộng giao lưu quân sự với Việt Nam, các chuyến thăm cấp cao giữa hai bên diễn ra liên tục, tàu quân sự hai nước thường xuyên đi thăm lẫn nhau, lại còn đi đến hiệp định hợp tác trong các lĩnh vực đào tạo ngoại ngữ, y học quân sự... Sau khi Obama lên nắm quyền, quan hệ quân sự Việt-Mỹ tiến thêm một bước mật thiết hơn. Năm 2010, Mỹ và Việt Nam lần đầu tiên tổ chức giao lưu phòng vệ cấp thứ trưởng quốc phòng, tàu sân bay USS George Washington và tàu khu trục mang tên lửa USS John S. McCain của Mỹ đến thăm Việt Nam cập cảng Đà Nẵng. Việt Nam còn diễn tập quân sự chung với Mỹ ở Biển Đông. Ngoài hy vọng được Mỹ viện trợ quân sự và đẩy nhanh hiện đại hóa quân sự, việc Việt Nam tăng cường quan hệ quân sự với Mỹ còn có một nguyên nhân rất quan trọng khác là kéo Mỹ vào, làm tăng thêm sức nặng đối đầu với Trung Quốc, quốc tế hóa vấn đề Biển Đông trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông ngày một nổi lên rõ hơn.

Những năm gần đây, hợp tác quân sự giữa Việt Nam và Ấn Độ cũng không ngừng mở rộng. Tháng 3/2000, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Fernandez đi thăm Việt Nam, ký “Hiệp định hợp tác phòng vệ” giữa hai nước, quyết định tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực trao đổi tình báo, đóng tàu hải quân, chống cướp biển. Để thực hiện các nội dung hữu quan, tháng 10 năm đó hai nước còn tổ chức diễn tập quân sự chung ở Biển Đông. Ngoài ra, hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ về kỹ thuật công nghiệp quân sự cũng không ngừng gia tăng. Nhà máy công nghiệp quân sự Nasik của Ấn Độ đã giúp Việt Nam cải tiến khoảng 200 máy bay chiến đấu MiG-21 đang trong chế độ quân dịch. Ấn Độ còn quyết định cung cấp cho Việt Nam các bộ linh kiện dùng để kiểm tra sửa chữa máy bay chiến đấu MiG và nâng cấp máy bay chiến đấu SU-27. Cung cách Việt Nam tăng cường quan hệ quân sự với Mỹ và Ấn Độ, lôi kéo các nước lớn can thiệp tranh chấp trong vấn đề Biển Đông sẽ khiến cho vấn đề Biển Đông phức tạp thêm một bước./. 

Theo Tạp chí “Tri thức thế giới” (Trung Quốc)

Hương Trà (gt)

Nguồn: nghiencuubiendong.vn

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

Báo Trung Quốc: Nga mới là mối họa lớn của TQ tại Biển Đông

Bài trên Liên hợp tảo báo của Trung Quốc cho rằng Nga mới là mối họa lớn của Trung Quốc tại Biển Đông. Chính Nga là cường quốc bên ngoài đến Biển Đông sớm nhất chứ không phải Mỹ. Nga tích cực đầu tư thăm dò khai thác dầu khí tại Biển Đông, ký nhiều hợp đồng bán vũ khí hiện đại, bao gồm tàu ngầm, máy bay, cho Việt Nam.

Tháng 7/2010, Ngoại trưởng Mỹ Clinton phát biểu nhấn mạnh các nước cần giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Sau đó, Tổng thống, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lần lượt có phát biểu tỏ đồng thuận và việc đó đã trở thành chính sách đã rồi của Mỹ đối với Biển Đông. Chính sách của Mỹ tất nhiên có lợi cho việc duy trì bảo vệ lợi ích đã rồi tại quần đảo Trường Sa của những kẻ nhanh chân đến trước, khiến những kẻ đến sau ở vào thế bị kìm kẹp, ngăn trở, đành bó tay hết cách, cũng lại phải hướng đến đảm bảo hòa bình, ổn định ở khu vực Biển Đông.

Nga nhanh chân đến trước Mỹ: Trên thực tế, Mỹ cũng là kẻ đến sau tại Biển Đông. Ngoài các nước ASEAN thì kẻ nhanh chân đến trước tại Biển Đông lại là Nga chứ không phải Mỹ.

Trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước, Liên Xô cũ kết hợp với Việt Nam thành lập công ty góp vốn, cùng liên thủ khai thác mỏ Bạch Hổ ở Biển Đông, sản lượng khai thác chiếm một nửa tổng sản lượng dầu thô của Việt Nam; đến nay, đây vẫn là mỏ dầu lớn nhất của Việt Nam.

Theo thống kê, đến nay Nga đã trở thành đối tác hợp tác nước ngoài lớn nhất của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam. Các công ty dầu mỏ phương Tây khác như Exxon Mobil, BP, TOTAL những năm gần đây mới góp vốn với Việt Nam khai thác dầu khí.

Nga hợp tác với Việt Nam vừa có lợi ích an ninh vừa có lợi ích kinh tế, bởi Nga được chia sẻ lợi ích kinh tế to lớn tại Biển Đông, Nga đã trở thành chỗ dựa lớn nhất của cộng đồng kinh tế do Việt Nam liên kết với các cường quốc trên thế giới tạo nên trên vấn đề Biển Đông. Và như vậy dễ thấy rằng tại sao trong những năm gần đây Nga lại đồng ý bán cho Việt Nam những trang bị vũ khí đời mới lợi hại chuyên dùng cho xung đột tại Biển Đông với mức ưu đãi lớn hơn nhiều so với TQ.

Gần dây, VN đặt mua của Nga những hệ thống vũ khí tiên tiến, bao gồm 6 tàu ngầm lớp Kilo 636, 13 máy bay chiến đấu Su-27, 20 máy bay Su-30 và nhiều tên lửa đối biển, radar…. Vũ khí mà Nga bán cho VN có tính năng tiên tiến hơn hẳn các vũ khí bán cho TQ trước đây, tỷ lệ giữa tính năng và giá cả cũng cao hơn. Cuối năm 2011, loạt máy bay chiến đấu Su sẽ hoàn tất giao hàng. Cuối năm 2013, ngoài các tàu ngầm lớp Kilo, những vũ khí đời mới lợi hại này sẽ bước đầu hình thành sức chiến đấu.

6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo là “tuyệt chiêu” trong hải chiến Trường Sa và cũng được giao hàng lần lượt từ cuối năm 2011 và giao hết trong vòng 5 năm. Trong khi Nga đang chế tạo tàu ngầm thì VN đã đào tạo đồng bộ các sỹ quan làm việc trên những chiếc tàu ngầm đó, hiện Nga và Ấn Độ đang phụ trách việc đào tạo. Từ đó có thể thấy, các tàu ngầm mới và lợi hại này sẽ nhanh chóng hình thành sức chiến đấu và hoạt động khắp nơi thuộc vùng Biển Đông và biển phía Đông TQ, tạo ra sự đe dọa khá lớn đối với các nước láng giềng trong đó có TQ, nhằm đảm bảo an toàn cho việc khai thác các mỏ dầu của VN.

Nói về lợi ích thực tế trong cấu trúc hiện nay ở Biển Đông, Mỹ là kẻ đến sau và không bằng Nga. Nếu nhìn vấn đề một cách cô lập thì việc Mỹ có mặt ở khu vực Biển Đông là không hề có lợi ích chiến lược to lớn về an ninh và kinh tế. Theo đánh giá, sở dĩ Mỹ ủng hộ ASEAN chống lại TQ trong vấn đề Biển Đông, xét ở góc độ chiến lược thì chủ yếu là để tránh xảy ra cục diện sau khi TQ trỗi dậy sẽ thách thức sự hiện diện quân sự của Mỹ tại khu vực CÁ - TBD, ra tay khi còn sớm để kiềm chế sức mạnh của TQ tiến xuống phía Nam. Còn việc đảm bảo cho máy bay quân sự, tàu thuyển của Mỹ tự do lưu thông giữa TBD, Ấn Độ Dương hay như việc giữ ổn định tình hình Biển Đông thì cũng chỉ là một cách nói.

Cách tiếp cận của Nga ở tầm chiến lược khác xa so với Mỹ. Cách tiếp cận tầm chiến lược nêu trên của Mỹ đều thích hợp với Nga. Ngoài ra, Nga và VN còn có tình hữu nghị truyền thống, như năm 1979, trong chiến tranh biên giới Trung - Việt và “cuộc chiến lưỡng sơn” kéo dài 10 năm sau đó, Liên Xô cũ là cường quốc duy nhất ủng hộ VN chống TQ. Hơn nữa Nga lại là nước có lợi ích kinh tế thiết thực nhất tại Biển Đông. Biển Đông giống như một kho báu, bằng việc hợp tác lâu dài với VN, những khoản ngoại tệ khổng lồ mà Nga kiếm được từ đó dường như không bao giờ cạn.

Ngoài ra, từ chính sách ngoại giao khác nhau của hai nước Nga, Mỹ đối với các nước quanh Biển Đông cũng có thể cảm nhận thấy Nga và Mỹ có lập trường khác nhau đối với vấn đề Biển Đông, từ đó có thể lần ra manh mối. Thái độ can thiệp của Mỹ là nhằm tăng cường trao đổi qua lại với ASEAN, NB và Australia, còn việc ủng hộ ASEAN thì vẫn xoay quanh đồng minh truyền thống là PLP, việc ủng hộ một số quốc gia khác như VN chủ yếu vẫn chỉ dừng lại trên bề mặt ngoại giao và đe dọa. Cùng trên vấn đề Biển Đông nhưng chính sách của Nga lại khác. Nga cũng ủng hộ gián tiếp các nước ASEAN nhưng dành viện trợ thực tế cho VN.

Tóm lại, ngoài việc tăng cường hợp tác với VN về ngoại giao và kinh tế thì Nga còn nâng đỡ VN bằng hành động thực tế. Hiện nay, Nga ngoài mặt vẫn giữ thái độ tươi cười với TQ, trong ngoại giao thì “nói ý cay bằng lời ngọt”, trong hành động thì chỉ làm không nói. Nga giống như “con vịt đạp nước”, trên mặt nước thì dường như không có động tĩnh gì nhưng dưới nước lại giở võ chân.

Đây cũng là nguyên nhân tại sao trong khi VN tăng cường “chuẩn bị đấu tranh quân sự” thì toàn bộ vũ khí cho hải chiến lại lấy từ Nga chứ không phải Mỹ và Mỹ lại chỉ gián tiếp ủng hộ VN về mặt đe dọa chiến lược. Đây là chỗ khác nhau cơ bản về mức độ ủng hộ của Mỹ và Nga cho VN trong tranh chấp ở Biển Đông.

Theo diễn biến tình hình Biển Đông hiện nay, một khi VN và TQ xảy ra một trận hải chiến thì toàn bộ vũ khí sắc bén mà quân đội VN sử dụng để giết hại quân giải phóng TQ là của Nga chứ không phải của Mỹ./.

Tác giả: Tiết Lý Thái - Nghiên cứu viên Trung tâm an ninh và hợp tác quốc tế Đại học Stanford

Hạnh Quyên (gt)

Nguồn: nghiencuubiendong.vn

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2011

Đông Dương Đại Hải chứ không phải Biển Nam Trung Hoa

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu vừa phát hiện một chi tiết mới cho thấy danh xưng South China Sea còn gọi là Biển Nam Trung Hoa có tên gốc là Giao Chỉ Dương, hay Đông Dương Đại Hải hay ngắn gọn nhất là Đông Hải có nghĩa là Biển Đông

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu.

Mặc Lâm phỏng vấn nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu để biết thêm chi tiết về vần đề này, trứơc tiên ông Nguyễn Đình Đầu cho biết:

Những sai lầm về ngôn ngữ, và địa danh

-  Cuối thế kỷ 15 người Tây Phương rất giỏi về hàng hải, đặc biệt là người Bồ Đào Nha và người Tay Ban Nha họ đi kiếm Ấn Độ. Lúc bấy giờ ông Kha Luân Bố (Christophe Colomb) tin rẳng đi về phía Tây sẽ đến Ấn Độ, nhưng thực tế ông đến Tân Thế Giới, tức Châu Mỹ, mà ông tưởng là đã đến Ấn Độ rồi, cho nên ông gọi người thổ dân bản xứ là người người Ấn (Indien, Indian).
Danh xưng sai nhầm này tồn tại mãi đến ngày nay, Trong khi đó người Bồ Đào Nha đi vòng phía Tây Châu Phi, qua Mũi Hảo Vọng (lúc bấy giờ chưa có ai đi qua ngã này cả) và đi ngược lên bờ Đông Châu Phi là đến Ấn Độ thực, nhưng mà miền phía Đông của Ấn Độ trên các bản đồ thời đó cũng như miền Đông Á thì hoàn toàn sai. Họ khám phá ra miền Đông Nam Á là miền mà họ gọi là "Presqu'ile de l'Inde delà le Gange" tức là "Ấn Độ bên kia sông Hằng". Trong sự nhìn ngược như thế suốt mấy thế kỷ họ gọi cái bán đảo mà về sau ta gọi là Bán Đảo Đông Dương, là "bán đảo Ấn Độ bên kia sông Hằng".

(Bồ Đào Nha)Họ khám phá ra miền Đông Nam Á là miền mà họ gọi là "Presqu'ile de l'Inde delà le Gange" tức là "Ấn Độ bên kia sông Hằng". Trong sự nhìn ngược như thế suốt mấy thế kỷ họ gọi cái bán đảo mà về sau ta gọi là Bán Đảo Đông Dương, là "bán đảo Ấn Độ bên kia sông Hằng.

Cũng vào thời ấy, giữa bờ biển nước ta và quần đảo Paracel (gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa), các bản đồ thường ghi là vịnh Giao Chỉ gần Trung Hoa (Golfe de la Cochinchine). Địa danh Cochinchine nguyên là tên hai nước Giao Chỉ (Cochin) và nước Tần (Chine), viết theo Hán tự. Người Tây phương đọc âm hơi khác rồi ghi bằng chữ latin: Giao Chỉ (tức Việt Nam) thành Cauchy, Cochi, Cochin; còn Tần thành ghi là T’sin, Cin, Chine hay China. Nước Cochin (Giao Chỉ) trùng tên một thị trấn Cochin ở Ấn Độ nên người Bồ Đào Nha ghi

Bản đồ có nghi nhận Cochinchine của St.Defnos. Ing-Geographe pour les Globes et Sphère- Paris 1766. Source raremaps online
Bản đồ có nghi nhận Cochinchine của St.Defnos. Ing-Geographe pour les Globes et Sphère- Paris 1766. Source raremaps online

CochinChina (Giao Chỉ gần nước Tần-China) cho dễ phân biệt. Cochin là chủ từ, China là túc từ. China thành tên nước Trung Hoa.
Mặc Lâm : Thưa ông, vậy thì nguyên nhân nào dẫn đến sự thay đổi cái tên gốc, tức là Giao Chỉ, hay còn gọi là Cochi, Cochin này ?
Ông Nguyễn Đình Đầu :  Đến thế kỷ 19 lúc bấy giờ đã rõ miền này không thuộc Ấn Độ nữa. Khi họ ghi chép lại về các miến biển thì họ không lấy cái chữ chủ từ là Ấn Độ, là Cochin, Giao Chỉ là Cochi, mà họ lấy cái túc từ là "Tần" tức Trung Hoa. Bấy giờ họ mới bắt đầu ghi là "Biển Trung Hoa", còn trước nữa thì họ đều ghi là hoặc "Eo biển Giao Chỉ gần Trung Hoa" tức là họ ghi "Gorge de la Cochinchine".
Chữ Cochinchine đầu tiên để chỉ nước Việt Nam, lúc đầu tiên gọi là Cochi thôi, về sau họ thấy nó trùng tên với Ấn Độ (như tôi nói lúc nãy) thì họ mới gọi là Cochinchine. Cochinchine lúc đầu tiên để chỉ cả Đại Việt, và biển thì họ cũng gọi là Biển Cochinchine. Tôi thấy là tất cả các bản đồ cho đến thế kỷ 18 thì đa số bản đồ vẫn còn gọi cái phía Đông Nam Á là  l'Inde au delà du Gange, tức là họ vẫn coi là bán đảo Ấn Độ. Mãi về sau đến thế kỷ 19 thì họ mới gọi là bán đảo Đông Dương, tức Indochine. Đông Dương tức là Biển Đông, tức là cái biển bên cạnh nước Việt Nam đấy. Thì chính người Trung Hoa gọi là Đông Dương, hay là Đông Dương Đại Hải.

Mãi về sau đến thế kỷ 19 thì họ mới gọi là bán đảo Đông Dương, tức Indochine. Đông Dương tức là Biển Đông, tức là cái biển bên cạnh nước Việt Nam đấy. Thì chính người Trung Hoa gọi là Đông Dương, hay là Đông Dương Đại Hải.

Đường lưỡi bò là sai với sự thực lịch sử

Mặc Lâm : Thưa, phải chăng Trung Quốc lợi dụng sự hiểu lầm này để mà nhận luôn danh xưng là "South China Sea" tức là "Biển Nam Trung Hoa" hay không, thưa ông?
Ông Nguyễn Đình Đầu :  Vì những sự sai lầm về ngôn ngữ, về địa danh như thế mà tôi phỏng đoán có thể vì thế mà người Trung Hoa cho tất cả thế giới đã nhận cái biển đây là "Biển Trung Hoa", thế thì tất cả các đảo, quần đảo ở trong vùng biển mà họ gọi là Biển Trung Hoa đó là của họ hết. Cho đến đầu thế kỷ 20 với tham vọng của mình mà Trung Quốc dựa theo sự hiểu nhầm địa danh đấy mà đến năm 1948, lúc bấy giờ nước ta đang có chuyện chiến tranh ở khắp các nơi, thì Trung Hoa Dân Quốc họ đưa ra cái "lưỡi bò" đấy và với cái lưỡi bò đó họ gần như họ chiếm hết cả Biển Đông, khác với tất cả các nước xung quanh. Đó là một sự bất công và sai với sự thực lịch sử, không kể những tài liệu của Việt Nam đã cho thấy họ đã ra Hoàng Sa và Trường Sa từ xưa với các văn bản và một số bản đồ.

đến đầu thế kỷ 20 với tham vọng của mình mà Trung Quốc dựa theo sự hiểu nhầm địa danh đấy mà đến năm 1948, lúc bấy giờ nước ta đang có chuyện chiến tranh ở khắp các nơi, thì Trung Hoa Dân Quốc họ đưa ra cái "lưỡi bò" đấy và với cái lưỡi bò đó họ gần như họ chiếm hết cả Biển Đông

Tôi nghiên cứu thêm về các bản đồ cũ của Trung Hoa vẽ về Việt Nam ngày xưa, và những bản đồ của Tây Phương, ít nhất từ đầu thế kỷ 16 cho đến về sau này họ đều ghi tất  cả cái mảng từ Trường Sa lên tới Hoàng Sa, họ kêu là Paracels, và họ ghi cái bờ biển Paracels ở khoảng Quảng Ngãi. Tôi thì có độ một trăm hay hai trăm cái bản đồ quốc tế vẽ về Việt Nam, vẽ về Đông Dương, và tôi nghĩ là có lẽ là hàng ngàn bản

"Vùng lưỡi bò" trên biển Đông

"Vùng lưỡi bò" trên biển Đông do Trung Quốc đưa ra. Source UNCLOS

đồ ấy tôi không thấy một bản đồ nào ghi bờ biển Paracels ở Trung Hoa, ở đảo Hải Nam, hay là Philippines, hay Nam Dương, hay Mã Lai. Các bản đồ mà tôi công bố đó thì chứng minh điều mà tôi vừa nói.
Mặc Lâm :  Căn cứ trên những bản đồ cổ mà ông có trong tay, liệu có thể dùng chúng như một chứng cứ để chống lại đường lưỡi bò mà Trung Quốc vẫn tuyên bố là họ đã có từ lâu về vùng biển South Chia Sea này không ạ?
Ông Nguyễn Đình Đầu : Một hai cái bản đồ thì có thể nói là người ta ghi đại hay người ta ghi nhầm gì đấy, nhưng mà hàng trăm hàng ngàn cái bản đồ ghi như thế mà nó trùng hợp với cái bản đồ của Việt Nam.

Tôi thì có độ một trăm hay hai trăm cái bản đồ quốc tế vẽ về Việt Nam, vẽ về Đông Dương, và tôi nghĩ là có lẽ là hàng ngàn bản đồ ấy tôi không thấy một bản đồ nào ghi bờ biển Paracels ở Trung Hoa, ở đảo Hải Nam, hay là Philippines, hay Nam Dương, hay Mã Lai.

Tôi phỏng đoán cái bản đồ Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ từ thời Nguyễn Ánh -  Gia Long thì đã có bản đồ ấy rồi. Cụ thể mà đưa ra cái bản đồ mà thường thường người ta ra bây giờ hiện thời là cái bản đồ Minh Mạng vẽ năm 1839, vì lúc bấy giờ ông Minh Mạng đổi tên nước Việt Nam thành nước Đại Nam, vì thế cái bản đồ ghi là “Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ”, trong đó Hoàng Sa và Trường Sa ghi y như là các bản đồ Tây Phương vẽ về quần đảo Paracels. Tôi nghĩ là hàng ngàn bản đồ cổ của Tây Phương đều vẽ như thế, và người ta ghi cái biển Việt Nam lúc đầu tiên họ ghi là Cochi, về sau họ ghi là Cochinchine. Tôi đưa tất cả các tài liệu ấy ra thôi, chứ còn tôi chỉ có ý đồ là tôn trọng sự thực lịch sử, không những là của mình, mình thì đã đành rồi, người ta có thể dễ bác, nhưng mà đây là chứng liệu của khắp thế giới vẽ về Việt Nam ở trong nhiều thế kỷ dồn lại, đưa tới kết luận như vậy thôi.
Mặc Lâm : Xin cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

Nguồn: RFA

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2011

Gần lắm Trường Sa ơi ...

"Gần lắm Trường Sa" như một cung đàn tri âm, gắn kết nhạc sỹ Hình Phước Long với người lính Trường Sa và bao tâm hồn đồng điệu. Hàng triệu trái tim vẫn rung lên thổn thức. Ơi Trường Sa! Trường Sa ơi!...

Ca khúc: GẦN LẮM TRƯỜNG SA
Tác giả: Hình Phước Long
Thể hiện: Long Nhật
*****


Những cảm xúc ấy được nhạc sĩ Hình Phước Long chuyển tải trọn vẹn trong “Gần lắm Trường Sa”. Ra đời đã hơn 20 năm nhưng bài hát vẫn làm say lòng bao người…

1980 ông đã được vào hậu cứ Trường Sa. Sống giữa những người lính đảo, sự chân tình, nghị lực, những tâm sự của họ làm ông cảm động. Và ông luôn nhủ lòng mình đã nợ Trường Sa một món nợ ân tình. Thai nghén, ấp ủ, trăn trở suốt 2 năm trời từ Cam Ranh về lại Nha Trang trong thời gian tham gia trại sáng tác của tỉnh năm 1982, ông mới cho ra đời ca khúc "Gần lắm Trường Sa".

Trường Sa - mảnh đất không thể chia cắt của Tổ quốc. Ảnh: webshots.com

Hôm ấy, ngày cuối cùng bế mạc trại sáng tác, ông đạp xe lang thang bên bờ biển chợt thoáng gặp một tà áo dài trầm tư trước biển. Dưới chân cô gái, từng con sóng mơn man, nhè nhẹ vỗ vào bờ cát như đang thì thầm lời yêu. Em nghĩ gì, em nói gì với biển? Giai điệu và những ca từ đầu tiên đã vang lên trong tâm hồn người nhạc sĩ ...Không xa đâu Trường Sa ơi
Và cái tứ ấy đã xuyên suốt bài hát như lời nhắn nhủ, như lời thề thuỷ chung cảm động. Tình yêu đã xoá nhoà khoảng cách địa lý, nên “Trường Sa luôn bên anh”“Trường Sa luôn bên em”.

Tuy nhạc sĩ Hình Phước Long học nhạc Tây, nhưng "Gần lắm Trường Sa" cũng như nhiều ca khúc khác của ông lại mang nặng âm hưởng dân ca. Giai điệu và ca từ đậm chất Khu 5 ngọt ngào, tình cảm và sâu lắng. Ông đã chọn nền nhạc Rum-ba trữ tình cho ca khúc. Điều ngạc nhiên là cho đến khi viết "Gần lắm Trường Sa" ông chưa từng một lần ra đảo mà lại viết rất thật, rất hay về lính đảo.
Nhạc sĩ đã hóa thân để lắng nghe những rung động từ trái tim của người chiến sĩ Trường Sa và em gái đất liền - người từ phố biển: “
Mỗi cánh thư về từ đảo xa, anh thường nói rằng Trường Sa lắm xa xôi. Nơi anh đóng quân là một vùng đảo nhỏ, bên đồng đội thương yêu. Chỉ có loài chim biển, sóng vỗ điệp trùng quanh gành trúc san hô…”

Gần lắm, những người con Trường Sa - Nguồn: laodong.com.vn

Hình Phước Long dành nhiều tình cảm cho Trường Sa. Ngoài "Gần lắm Trường Sa", ông còn là tác giả của hàng loạt các ca khúc như: "Gặp anh trên đảo Sinh Tồn", "Tiếng hát đảo Sơn Ca", "Đêm trên đảo Thuyền Chài", "Tâm tình người lính Trường Sa"
Những ca khúc của Hình Phước Long không chỉ mượt mà về giai điệu mà ca từ cũng giàu chất thơ, đặc biệt khi ông viết về lính đảo: “…như con tàu neo giữa đại dương nên con sóng cứ nghiêng về phía đảo, đêm âm vang những lời anh hát giữa đảo ngàn thay tiếng hót sơn ca. Đảo Sơn Ca vắng tiếng sơn ca chỉ có tiếng hát của những người chiến sĩ, anh bỗng trở thành loài chim quý hát giữa đảo ngàn thay tiếng hót sơn ca…” (Tiếng hát đảo Sơn Ca).
Nhạc sĩ tâm sự:
Đời lính đảo chịu nhiều thiếu thốn mà thiếu thốn lớn nhất là tình cảm. Mỗi buổi chiều người lính lại nhìn về phía Tây bởi nơi ấy hoàng hôn đang buông trên đất mẹ quê hương. Và món nợ ân tình này, ông đang trả cả đời chưa hết…
"Gần lắm Trường Sa" như một cung đàn tri âm, gắn kết nhạc sỹ Hình Phước Long  với người lính Trường Sa và bao tâm hồn đồng điệu. Hàng triệu trái tim vẫn rung lên thổn thức. Ơi Trường Sa! Trường Sa ơi!…

Theo Báo Khánh Hoà 

GẦN LẮM TRƯỜNG SA (Gần lắm trường Sa - KaraOke)

Tác giả: Hình Phước Long

Mỗi cánh thư về từ đảo xa, anh thường nói rằng: Trường Sa lắm xa xôi!.
Nơi anh đóng quân là một vùng đảo nhỏ, bên đồng đội yêu thương. Chỉ có loài chim biển, sóng vỗ điệp trùng quanh gành trúc san hô.
Trường Sa ơi! Biên đảo quê hương, đôi mắt biên cương, vẫn sáng long lanh giữa sóng cuồng bão giật, đảo quê hương!.
Anh vẫn đêm ngày giữ biên khơi. Thương nhớ sao vơi người chiến sĩ Trường Sa ơi!
Không xa đâu Trường Sa ơi! Không xa đâu Trường Sa ơi!
Vẫn gần bên em vì Trường Sa luôn bên anh.
Vẫn gần bên anh vì Trường Sa luôn bên em.
Mong cánh thư về từ đảo xa, nơi thành phố này Trường Sa vẫn bên em.
Anh ơi có nghe lời người từ phố biển, khi ngọn triều dâng cao.
Khi cánh hải âu về, khi nắng sáng mùa, nơi đảo trúc san hô.
Chiều Nha Trang, sao bỗng bâng khuâng, như thấy anh đang sừng sững kiên trung giữa pháo đài giữ đảo, Trường Sa ơi!
Trông cánh chim bay về đảo khơi.
Thương nhớ sao vơi người chiến sĩ Trường Sa ơi!
Không xa đâu Trường Sa ơi! Không xa đâu Trường Sa ơi!
Vẫn gần bên em vì Trường Sa luôn bên anh.
Vẫn gần bên anh vì Trường Sa luôn bên em.

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

Tàu chiến Mỹ USS Chung Hoon tới biển Đông

Hải quân Mỹ đã điều một trong những tàu chiến hiện đại nhất của họ đến biển Đông và biển Sulu phía tây Philippines để theo dõi các hoạt động tự do hàng hải trong khu vực.




Tàu khu trục USS Chung Hoon - Ảnh: US Navy

Báo Philippine Star cho biết tàu USS Chung Hoon là tàu khu trục mang tên lửa đã được lệnh đến biển Đông và biển Sulu hồi đầu tuần. “Tàu sẽ đi ở các vùng nước mà Mỹ cho rằng là vùng biển quốc tế để khẳng định quyền tự do qua lại và chứng minh cộng đồng quốc tế không chấp nhận các tuyên bố đơn phương đi ngược với quyền tự do qua lại đó”.

Đại sứ quán Mỹ ở Manila cho biết tàu USS Chung Hoon là một trong các tàu chiến của hải quân Mỹ được mời tham gia cuộc tập trận thường niên Mỹ - Philippines (CARAT) trong khuôn khổ hiệp định quốc phòng song phương.

* Ngày 12-6, cơ quan quốc phòng Đài Loan cho biết sẽ điều tàu mang tên lửa Seagull 47 tấn đến biển Đông và xe tăng đến một quần đảo đang tranh chấp chủ quyền trong khu vực.

AFP dẫn nguồn từ cơ quan quốc phòng Đài Loan cho biết tuyên bố trên được đưa ra do chính quyền lãnh thổ này đang quan ngại lực lượng tuần duyên Đài Loan không được trang bị vũ khí đầy đủ để giải quyết những xung đột tiềm ẩn trên biển Đông.

M.LOAN - tuoitre.vn

Bài đăng phổ biến