Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

Chiến trường Việt Nam - P10: Không ngừng không kích

Chiến trường Việt Nam - P9: Cuộc chiến trên bầu trời

Chiến trường Việt Nam - P8: Vây hãm tại Khe Sanh

Chiến trường Việt Nam - P7: Chiến tranh ở khu phi quân sự

Chiến trường Việt Nam - P6: Cuộc nổi dậy năm 1968

Chiến trường Việt Nam - P5: Đếm ngược thời gian tới Tết (1968)

Chiến trường Việt Nam - P4: Sự thử thách trong vùng tam giác sắt

Chiến trường Việt Nam - P3: Chiến lược tìm và diệt

Chiến trường Việt Nam - P2: Cuộc chiến tranh không tuyên bố

Chiến trường Việt Nam - P1: Điện Biên Phủ - Sự kế thừa

Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

Theo dấu đảo thiêng - Kỳ 1: Bí ẩn dưới nấm mộ chiêu hồn

Ở Lý Sơn (Quảng Ngãi) có một người tuy không sống ở đảo nhưng lại được dân đảo coi như người nhà. Đó là một nhà khoa học đã dành một phần đời mình để nghiên cứu về Hoàng Sa và hình dung lại con đường tiến ra biển của dân tộc Việt.

Là con dân xứ biển miền Trung, tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ từng rơi nước mắt chứng kiến bao cảnh ra đi không về của phận người can trường treo mình trên đầu sóng ngọn gió. Rồi nhiều lần vượt đại dương ra Lý Sơn, sâu thẳm trái tim ông còn hiểu thêm rằng mỗi tấc đất trên hòn đảo linh thiêng đều thấm đẫm hào khí dân tộc.

Và nhiều nấm mộ chiêu hồn nơi phên giậu Tổ quốc này đã thành chứng nhân cho bao lớp tiền nhân dũng cảm tiến ra biển, hiến xác thân mình cho chủ quyền đất nước...

Những đụn cát linh thiêng

Các bậc cao niên ở Lý Sơn tâm sự với TS Vũ rằng hàng trăm nấm mộ chiêu hồn đã được tạo lập rải rác khắp đảo kể từ thời tổ tiên họ giong thuyền ra lập nghiệp trên đảo từ thế kỷ 16-17.

Dòng chảy thời gian đã xóa nhòa bao dấu tích tiền nhân. Nhưng nhiều nấm mộ dù chỉ còn là đụn cát lơ thơ không bia đá vẫn được nhiều đời truyền lưu công đức người đã khuất!

Dù đã hàng trăm chuyến ngược xuôi ra Lý Sơn, nhưng TS Vũ lần nào đặt chân lên đảo cũng dành thời gian thắp hương trên những nấm mộ đặc biệt không có hài cốt này. Đó là nơi yên nghỉ của hương hồn thủy quân chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhật, cai đội Phạm Quang Ảnh, Võ Văn Khiết, Nguyễn Quang Tám...

Chính sử triều Nguyễn cùng tài liệu cổ của các gia tộc Lý Sơn đều kể đó là những tổ tiên đã lãnh sứ mệnh thiêng liêng giong buồm ra Hoàng Sa. Và nhiều người đã vĩnh viễn ra đi không về. Người ở lại phải lập mộ chiêu hồn để con cháu đời sau truyền lưu công đức.

Công trình nghiên cứu Hoàng Sa của các nhà sử học Nguyễn Nhã, Nguyễn Quang Ngọc cũng nhiều lần vinh danh những tiền nhân đã vị quốc vong thân này.

Xúc động hồi tưởng chuyện xưa, TS Vũ tâm sự nấm mộ đầu tiên mà mình thắp nén hương ở Lý Sơn chính là của chánh đội Phạm Hữu Nhật: “Mùa đông năm 1996, khi leo lên núi Chóp Vung, tôi đã bàng hoàng đọc bia đá tạc dòng chữ Cao bình quận Phạm Hữu Nhật thần hồn chi linh mộ. Đó chỉ là một nấm mộ nhỏ bé trên đỉnh núi hoang vu, đầu hướng về đất liền nhưng tôi cảm giác có gì đó rất linh thiêng. Các cụ già trên đảo kể lời truyền xa xưa rằng đây là nấm mộ chiêu hồn, nơi thờ cúng hương hồn của một bậc anh hùng đã khuất không đem được thi hài về...”.

Sau đó, TS Vũ cứ bị nấm mộ cát đìu hiu trên đỉnh núi này ám ảnh. Ông lần giở các bộ sử Đại Nam thực lục chính biên, Quốc triều chính biên toát yếu, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đều có chép vào mùa xuân năm Bính Thân, vua Minh Mạng đã sai Phạm Hữu Nhật làm thủy quân chánh đội đưa binh thuyền đi xem xét, đo đạc thủy trình...

Thủy quân chánh đội Phạm Hữu Nhật trong chính sử và Cao bình quận Phạm Hữu Nhật yên nghỉ trên đỉnh núi Lý Sơn có phải là một? Câu hỏi đau đáu này mãi đến năm 2004 mới được trả lời chính xác.

Tình cờ tộc họ Phạm Văn ở thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn giải mã các gia phả, sắc phong, linh vị cổ bằng chữ nho để làm di tích dinh Bà Roi đã phát hiện hai nhân vật này chính là một. Phạm Hữu Nhật còn có tên húy Phạm Văn Triều, một trong nhiều người từng tham gia Hải đội Hoàng Sa của tộc Phạm Văn.

Và trong chuyến đi cuối cùng ông đã không trở về. TS Vũ xúc động nhớ khi chuyển nấm mộ cát của chánh đội Phạm Hữu Nhật trên đỉnh núi xuống nơi mới gần tượng đài Hải đội Hoàng Sa, hậu duệ ở Lý Sơn đã rưng rưng chứng kiến đó là nấm mộ chiêu hồn không hài cốt. Họ phải gạt nước mắt bốc nắm cát thay cho di hài vị hùng binh năm xưa.

TS Vũ và TS Nguyễn Nhã (thứ nhất và thứ hai từ trái sang) cùng hậu duệ họ Phạm bên nấm mộ chiêu hồn Phạm Hữu Nhật ở Lý Sơn - Ảnh tư liệu của NDV

Bí ẩn những nấm mộ tập thể

Trên đảo Lý Sơn, TS Vũ còn đau đáu tìm tòi, giải mã bí ẩn ngôi mộ đặc biệt của cai đội Phạm Quang Ảnh. Tương truyền đó là khu mộ tập thể của ông cùng đoàn hải binh đi Hoàng Sa không về.

Chính sử cũng nhắc tên Phạm Quang Ảnh đã được vua Gia Long sai đi Hoàng Sa để đo đạc thủy trình, thu lượm sản vật. Sau này, TS sử học Nguyễn Nhã cũng ghi chép tên ông trong công trình nghiên cứu Hoàng Sa của mình.

Tuy nhiên, nấm mộ chiêu hồn Phạm Quang Ảnh ở Lý Sơn vẫn còn là bí ẩn lịch sử với một gò đất lớn của tộc Phạm Quang. Các cụ cao niên kể rằng người ở lại đã tiếc thương tạo lập dãy mộ chiêu hồn không hài cốt để thờ cúng Phạm Quang Ảnh cùng đồng đội. Đó là khoảng 10 nấm mộ riêng biệt, có danh phận từng người. Nhưng dòng chảy thời gian đã đùn đẩy các gò cát thành nấm mộ chung Phạm Quang Ảnh. Nhiều hương hồn khác đã bị phai nhòa tông tích. Bí ẩn mà đến giờ TS Vũ vẫn lặng lẽ ngược xuôi ra đảo, tìm hiểu để trả lại danh phận những bậc anh hùng vô danh đã vong thân vì Tổ quốc.

Ở Lý Sơn còn một khu mộ chiêu hồn tập thể đặc biệt của tộc họ Võ Văn mà TS Vũ đã bị ám ảnh nên nghiên cứu suốt nhiều năm qua. Ngậm ngùi là khu mộ này chỉ còn một bãi cát trơ phẳng, lơ thơ cỏ dại và những viên đá rêu phong được cho là để đánh dấu mộ xưa.

Đi điền dã, gặp gỡ hậu duệ họ Võ Văn để tìm hiểu khu mộ bí ẩn, TS Vũ xúc động phát hiện gia tộc này có nhiều bậc tiền nhân đã vâng mệnh nước giong thuyền ra Hoàng Sa không về. Có những bậc đã được chính sử lưu danh như thủ ngự quản đội Hoàng Sa Võ Văn Phú. Nhưng nhiều vị chỉ được ghi chép công đức trong tài liệu cổ của gia tộc như Võ Văn Khiết, Võ Văn Hùng...

TS Vũ xúc động viết đề bia nghĩa khí đi Hoàng Sa của cai đội Võ Văn Khiết. Nhưng ông vẫn ngậm ngùi chưa thể giải mã chính xác dưới bãi cát chiêu hồn kia còn bao nhiêu vị anh hùng đã chìm vào quên lãng...

Khắc khoải nỗi niềm này, TS Vũ bùi ngùi tâm sự dưới những nấm mộ chiêu hồn dù chỉ là cát bụi nhưng thấm đẫm hương hồn người đã khuất lẫn tấm lòng hậu thế tưởng nhớ tổ tiên.

Chính ông nhiều lần chứng kiến những tang lễ chiêu hồn không có hài cốt. Người thân phải lấy cành cây dâu làm xương cốt, đất sét thay da thịt, lòng đỏ trứng gà làm máu nặn hình nhân để mời hương hồn người đã khuất trở về. Nhìn những ánh mắt đau buồn, tiếc vọng, ông xúc động hiểu rằng chẳng có ai sinh ra và ra đi vô danh trên cõi đời này.

Đặc biệt với những bậc anh hùng, những người đã hiến thân vì Tổ quốc, khí phách anh linh của họ sẽ sống mãi cùng dân tộc dù nơi yên nghỉ chỉ là đụn cát không hài cốt trước đại dương...

QUỐC VIỆT - Theo tuoitre.vn

Thứ Tư, 16 tháng 3, 2011

Bộ phim đánh chiếm Gạc Ma 14/3/1988 không thể đe dọa người Việt Nam!

Đầu năm 2009, tôi nhận được thư điện tử của anh V giới thiệu đường dẩn trên mạng đến bộ phim Trung Quốc quay cảnh đánh chiếm đảo Gạc Ma ngày 14/3/1988. Sở dĩ anh V biết được vì nhờ người bạn ở ngành ngoại giao từ bên kia bán cầu nhắn về. ếu phim của ai đó thì chúng ta còn có thể nghi ngờ với “âm mưu” chia rẽ tình hữu nghị “núi liền núi, sông liền sông”. Nhưng không, nghe thuyết minh với giọng Bắc Kinh chính thống, người Đài Loan hay Hồng Kông cũng không bắt chước được, ừng nói gì các nhóm hoa kiều khác! Bộ phim chắc chắn được biên tập và lồng tiếng tại Bắc Kinh.

Chúng tôi giới thiệu với các sĩ quan hải quân Việt Nam cùng xem bộ phim nhiều lần và khẵng định đó là những thước phim thật.Vì vậy bài viết “Bài học “bất ngờ” với Trung Quốc vẩn còn đó !” ra đời.

Bộ phim của Trung Quốc tung ra không ngoài ý định răng đe Việt Nam. Nhưng họ thật sự nhầm lẩn!

Câu chuyện chính trường năm 2010 của Việt Nam đã giải thích rõ sự nhầm lẩn trên.

Năm 2010, Chính phủ Việt Nam đang mệt mỏi với Vinashin. Nhưng cú đưa vấn đề Biển Đông ra quốc tế thành công tại Hội nghị cao cấp ASEAN 2010 và Hội nghị Bộ trưởng Quốc Phòng các nước ASEAN mở rộng 10/2010 đã nâng cao uy tín trong và ngoài nước của Chính phủ Việt Nam. Vì với dân Việt Nam, vốn thượng tôn lòng yêu nước , tuy giận với những kẽ tham nhũng nhưng luôn coi số phận của dân tộc, sự tòan vẹn lảnh thổ là trên hết.

Trước đây,chưa có ông Thủ tướng nào dám đưa vấn đề Biển Đông ra quốc tế.

Người Việt xưa nay hòa hiếu, muốn hòa bình. Nhưng không vì muốn hòa bình mà sợ hải.Để khỏi phải “bất ngờ ” như ngày 14/3/1988, Việt Nam cần có chiến lược xây dựng kinh tế vững mạnh, sao cho mọi người đều được hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế. Có như vậy mới tạo sự đồng thuận trong dân. Đó là nền tảng để bảo vệ sự tòan vẹn lãnh thổ của đất nước.

Video - Hải chiến Trường Sa 14/03/1988 [Full version]

KS Doãn Mạnh Dũng - kinhtebien.vn

Trường Sa trong tim người lính năm xưa

Anh là Nguyễn Duy Dương, một người lính hải quân đã may mắn sống sót và trở về an toàn trong trận chiến bảo vệ Trường Sa năm 1988.

Xoa đầu cậu con trai đang xúng xính trong bộ đồng phục học sinh xanh trắng chuẩn bị đến trường, anh cười nheo mắt: “Sắp tới sinh nhật nó rồi đây. Thằng cu này sinh đúng ngày 14 tháng 3 năm 1998, tròn 10 năm ngày bố nó thoát chết ở Trường Sa. Ai cũng bảo tôi khéo chọn ngày sinh cháu”.

Tuần tra trên đảo Trường Sa. Ảnh: TRẦN ĐẠI

“Lính trẻ, già đều trọc tếu”

Đến bây giờ đã 22 năm trôi qua, anh Dương vẫn không nguôi nỗi nhớ về những ngày tháng tuổi trẻ của mình trên những hòn đảo nơi đầu sóng ngọn gió của tổ quốc. Sinh năm 1964, đi bộ đội khi 18 tuổi, tới năm 1985 anh trở thành đội phó Đội Kiểm soát Bộ Tư lệnh vùng 4 ở Cam Ranh. Đầu năm 1987, đúng dịp tết Đinh Mão, anh nhận lệnh vào đoàn quân đi tăng cường cho Trường Sa. Và anh đã ở đó gần hai năm trời trong cái giai đoạn được xem là khó khăn, vất vả nhất cho các chiến sĩ Trường Sa kể từ ngày giải phóng (năm 1975) đến nay.

Anh Dương cũng như nhiều đồng đội của anh sau này đều cho rằng lính Trường Sa thời nào mà chẳng gian lao nhưng càng về sau này càng đỡ cực khổ hơn. Hồi ấy, hải quân ta có ít tàu, một năm chỉ vài ba chuyến tàu ra đảo tiếp tế. Theo Đại tá Đỗ Đình Đề, nguyên Cụm trưởng Cụm 2 đảo Nam Yết, người từng ở Trường Sa từ năm 1996 tới năm 2002 thì: “Trong năm, chỉ giai đoạn từ tháng 2 đến tháng 5 là có thể đi tàu ra, lúc ấy biển cứ gọi là trong vắt như bát nước, nhìn thấu cả đáy. Chỉ từ tháng 6 trở đi là bắt đầu có gió tây nam, rồi sang đông là gió đông bắc, rồi biển động. Cho nên lính mong ngóng tin đất liền, thấy tàu ra đảo thì mừng rỡ như mẹ đi chợ về, lúc tàu rời đảo về đất liền thì khóc lóc bịn rịn lắm”.

Quân dân đảo Sinh Tồn, quần đảo Trường Sa những ngày giáp tết vừa qua. Ảnh: TRẦN ĐẠI

Đi lại khó khăn như thế cho nên người lính Trường Sa thiếu thốn mọi bề mà khổ sở nhất là thiếu nước ngọt, rau xanh. Anh Dương nhớ lại nước ngọt ở đảo thiếu triền miên, mỗi ngày chỉ được dùng tối đa năm lít cho mọi sinh hoạt. Anh em đành phải rửa mặt, tắm bằng nước biển, sang lắm mới tráng lại bằng nước ngọt. Lúc đầu chưa quen, ai nấy nóng rát cả lưng, tóc tai cứng quèo rất khó chịu. Từ chuyện ấy dẫn đến tình trạng “sư cọ mốc” mà nhà thơ Trần Đăng Khoa đã tả lại: “Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc. Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau”. Thiếu nước ngọt thật sự là tình trạng khủng khiếp đối với lính đảo những năm ấy. Mấy tháng tàu mới chở nước ra một lần, bơm thẳng nước từ khoang vào xuồng nhôm rồi anh em đẩy xuồng về lại đảo. Lần nào trước khi ra “đón nước” như thế anh em cũng phải tắm trước cho sạch. Nước mang về đảo được đổ vào những chiếc thùng phuy lớn để dự trữ. Phuy bị nhiễm bẩn, nước đục ngầu, đánh phèn tới bảy, tám lần vẫn không hết bẩn thì cũng phải cố mà dùng. Gạo trữ lâu sinh mốc, hỏng. Thiếu rau quá, người ai cũng bị phù, sưng lên nhưng ấn vào da thịt thì lại lõm cả xuống…

Khí hậu Trường Sa vô cùng khắc nghiệt, nắng nóng cháy da quanh năm suốt tháng. Đây lại là nơi rốn bão, thường xuyên phải hứng chịu bão biển. Đại tá Đỗ Đình Đề bảo: “Nói đến Trường Sa là nói đến bão tố phong ba, đến nắng nóng thiêu đốt, đến san hô nhọn hoắt đâm chảy máu chân, đến thiếu rau xanh, nước ngọt…”.

“Bây giờ mình xem tivi, thấy anh em ngoài đó “đủ tóc” rồi, không còn phải cạo trọc nữa” - anh Nguyễn Duy Dương cười, nói. Anh hiện là phó Ban Liên lạc bộ đội Trường Sa tỉnh Nam Định. Tất cả người lính từng phục vụ ở Trường Sa bao năm qua đều coi nhau là đồng đội và họ cũng dành tình cảm thân thiết quý mến đó cho cả những chiến sĩ trẻ không quen biết đang đóng quân ở Trường Sa ngày nay. “Bây giờ ở ngoài đó lính đỡ cực khổ hơn, không còn quá thiếu thốn. Trồng được rau xanh rồi (đất thịt, chở từ đất liền ra). Có hầm dự trữ nước rồi. Điện thoại di động phủ sóng tới tận đó, có thể gọi vào bờ được. Nhưng mình vẫn thương các em ấy chứ, tất nhiên, đồng đội mà!”.

Nhớ biển

Anh Nguyễn Duy Dương. Ảnh: Xuân Vũ

Nửa cuối năm 1987, tình hình ngoài khơi trở nên căng thẳng. Tháng 3-1988, ta quyết định đưa quân ra đảo Cô Lin, Gạc Ma. Và một trận đánh không cân sức đã diễn ra...

Trong trận chiến bảo vệ chủ quyền Trường Sa năm 1988 ấy, Nguyễn Duy Dương may mắn chỉ bị thương nhẹ.

Đã là lính hải quân nơi đầu sóng thì không thể sợ chết. Vết thương bình phục, anh tiếp tục ở lại Trường Sa, bảo vệ mảnh đất thiêng của tổ quốc, đồng cam cộng khổ cùng những chiến sĩ hải quân khác. Tới tháng 7-1989 anh mới ra quân, làm đủ nghề, từ hàng xay hàng xáo tới đổ kẹo, buôn đế dép, vừa đi làm vừa ôn thi vào Đại học Sư phạm ngành ngữ văn. Năm 1994, anh tốt nghiệp và trở thành một thầy giáo dạy văn ở Nam Định.

Đến giờ vết sẹo vẫn còn trên đầu người thầy giáo dạy văn của Trường THPT Ngô Quyền, cựu binh ở Trường Sa. Sẹo không gây đau đớn, chỉ có những tình cảm của anh đối với những hòn đảo đá khắc nghiệt năm xưa thì cứ thỉnh thoảng lại bùng lên. Anh dồn nó vào những trang viết: Trường Sa - mùa này biển động, Nhớ lắm Trường Sa ơi!, Ký ức Trường Sa…

Anh Dương thổ lộ: “Anh em chúng tôi mong bằng cách nào đó, ta phát triển tiềm lực quân sự chứ chiều dài đất nước hơn 3.200 km bờ biển mà lực lượng mỏng, trang thiết bị cũ kỹ thì nếu chẳng may có sự cố gì sẽ ứng phó rất chậm”.

Giờ đây, cùng với những người lính Trường Sa cũ, anh Dương vẫn theo dõi tình hình Trường Sa hiện nay qua báo đài, tivi và qua những đồng đội đóng ở Cam Ranh hay đang trên đảo. Các anh đều bảo nhớ lắm, nhớ da diết, bồi hồi những ngày tháng Trường Sa năm xưa. Nhớ mùa gió chướng. Nhớ khi biển động “bọt tung trắng bờ”. Nhớ những ngày biển lặng, mặt nước phẳng trong như gương. Nhớ vô vàn kỷ niệm với đồng đội thân thương: trực chiến, tập luyện, đi đâm cá, chơi thể thao, đọc thư nhà, sinh hoạt văn nghệ và chiến đấu. Nhớ những gương mặt đồng đội đến từ mọi miền đất nước, các anh vẫn hay đùa có khi lên tới 19 tỉnh, thành trên một hòn đảo. Ai cũng gắn bó, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.

Và người thầy giáo dạy văn đã viết một câu rất hình ảnh, rất nên thơ rằng: “Có con sóng nào cứ dập dềnh dâng trong mắt tôi”.

Đón đọc ngày mai:

Những ca khúc nâng tình yêu biển, đảo

Những ca khúc ấy vun đắp thêm tình yêu đất nước. Mỗi khi nghe lời hát, hai từ “chủ quyền” không chỉ là khái niệm pháp lý mà trở nên có linh hồn, trở thành tình cảm sâu nặng, mãnh liệt trong lòng mỗi người dân.

ĐOAN TRANG - phapluattp.vn

Bài đăng phổ biến